Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Tải bản đầy đủ - 0trang

tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh.

Thơng qua phân tích hoạt động DN chúng ta mới thấy rõ được các nguyên

nhân, nhân tố cũng như nguồn gốc phát sinh của các nguyên nhân và nhân tố ảnh

hưởng, từ đó để có các giải pháp cụ thể và kịp thời trong cơng tác tổ chức và quản

lý sản xuất. Do đó nó là cơng cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh.

PTHĐKD giúp DN nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như

những hạn chế trong DN của mình. Chính trên cơ sở này các DN sẽ xác định đúng

đắn mục tiêu và chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

PTHĐKD là cơng cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để đề ra

các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong các chức năng

kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động SXKD trong DN.

Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và

ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra.

Tài liệu PTHĐKD còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài, khi họ có

các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với DN, vì thơng qua phân tích họ mới

có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay...đối với DN nữa

hay không?

1.1.3. Ðối tượng phân tích tài chính

Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của

hoạt động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến q

trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

Kết quả kinh doanh mà ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai đoạn

riêng biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng... hay có thể là

kết quả tổng hợp của quá trình kinh doanh, kết quả tài chính...

Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta hướng vào kết quả thực hiện các

định hướng mục tiêu kế hoạch, phương án đặt ra.

Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế.



Chỉ tiêu là sự xác định về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh. Nội

dung chủ yếu của phân tích kết quả là phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà

DN đã đạt được trong kỳ, như doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất, giá thành, lợi

nhuận...Tuy nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh chúng ta phải luôn

luôn đặt trong mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh doanh như

lao động, vật tư, tiền vốn, diện tích đất đai...vv. Ngược lại, chỉ tiêu chất lượng phản

ánh lên hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như giá

thành, tỷ suất chi phí, doanh lợi, năng suất lao động...

Dựa vào mục đích phân tích mà chúng ta cần sử dụng các loại chỉ tiêu khác

nhau, cụ thể: Chỉ tiêu số tuyệt đối, chỉ tiêu số tương đối, chỉ tiêu bình quân. Chỉ

tiêu số tuyệt đối dùng để đánh giá quy mô kết quả kinh doanh hay điều kiện kinh

doanh. Chỉ tiêu số tương đối dùng trong phân tích các mối quan hệ giữa các bộ

phận, các quan hệ kết cấu, quan hệ tỷ lệ và xu hướng phát triển. Chỉ tiêu bình quân

phản ánh trình độ phổ biến của các hiện tượng.

Tuỳ mục đích, nội dung và đối tượng phân tích để có thể sử dụng các chỉ

tiêu hiện vật, giá trị, hay chỉ tiêu thời gian. Ngày nay, trong kinh tế thị trường các

DN thường dùng chỉ tiêu giá trị. Tuy nhiên, các DN sản xuất, DN chuyên kinh

doanh một hoặc một số mặt hàng có quy mơ lớn vẫn sử dụng kết hợp chỉ tiêu hiện

vật bên cạnh chỉ tiêu giá trị. Trong phân tích cũng cần phân biệt chỉ tiêu và trị số

chỉ tiêu. Chỉ tiêu có nội dung kinh tế tương đối ổn định, còn trị số chỉ tiêu luôn

luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm cụ thể.

Phân tích kinh doanh khơng chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh

thông các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết

quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đó. Một cách chung nhất, nhân tố là

những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, q trình...và mỗi biến động của nó

tác động trực tiếp hoặc gián tiếp ở một mức độ và xu hướng xác định đến các kết

quả biểu hiện các chỉ tiêu.

Ví dụ: Doanh thu bán hàng phụ thuộc vào lượng bán hàng ra, giá cả bán ra

và cơ cấu tiêu thụ. Ðến lượt mình, khối lượng hàng hố bán ra, giá cả hàng hoá bán



ra, kết cấu hàng hoá bán ra lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như khách

quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài...vv.

Theo mức độ tác động của các nhân tố, chúng ta có thể phân loại các

nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng thành nhiều loại khác nhau, trên các góc độ

khác nhau.

Trước hết theo tính tất yếu của các nhân tố: có thể phân thành 2 loại: Nhân

tố khách quan và nhân tố chủ quan.

Nhân tố khách quan là loại nhân tố thường phát sinh và tác động như một

yêu cầu tất yếu nó khơng phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh.

Kết quả hoạt động của mỗi DN có thể chịu tác động bởi các nguyên nhân và nhân

tố khách quan như sự phất triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp, các chế

độ chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, môi trường, vị trí kinh tế xã hội, về tiến

bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng. Các nhân tố này làm cho giá cả hàng hố, giá

cả chi phí, giá cả dịch vụ thay đổi, thuế suất, lãi suất, tỷ suất tiền lương...cũng thay

đổi theo.

Nhân tố chủ quan là nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu phụ thuộc

vào nỗ lực chủ quan của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tố như: trình

độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố khách quan

của DN làm ảnh hưởng đến giá thành, mức chi phí thời gian lao động, lượng hàng

hố, cơ cấu hàng hố...vv.

Theo tính chất của các nhân tố có thể chia ra thành nhóm nhân tố số lượng

và nhóm các nhân tố chất lượng.

Nhân tố số lượng phản ánh quy mô kinh doanh như: Số lượng lao động, vật

tư, lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ... Ngược lại, nhân tố chất lượng thường phản

ánh hiệu suất kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chi phí, năng suất lao động...Phân

tích kết quả kinh doanh theo các nhân tố số lượng và chất lượng vừa giúp ích cho

việc đánh giá chất lượng, phương hướng kinh doanh, vừa giúp cho việc xác định

trình tự đến kết quả kinh doanh.



Theo xu hướng tác động của nhân tố, người ta chia ra các nhóm nhân tố tích

cực và nhóm nhân tố tiêu cực.

Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động tốt hay làm tăng độ lớn của hiệu

quả kinh doanh và ngược lại nhân tố tiêu cực tác động xấu hay làm giảm quy mơ

của kết quả kinh doanh. Trong phân tích cần xác định xu hướng và mức độ ảnh

hưởng tổng hợp của các nhân tố tích cực và tiêu cực.

Nhân tố có nhiều loại như đã nêu ở trên, nhưng nếu quy về nội dung kinh tế

thì có hai loại: Nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh và nhân tố thuộc về kết quả

kinh doanh. Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh như: Số lượng lao động,

lượng hàng hoá, vật tư, tiền vốn...ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô kinh doanh. Các

nhân tố thuộc về kết quả kinh doanh ảnh hưởng suốt quá trình kinh doanh từ khâu

cung ứng vật tư đến việc tổ chức quá trình sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản

phẩm và từ đó ảnh hưởng đến kết quả tổng hợp của kinh doanh như nhân tố giá cả

hàng hố, chi phí, khối lượng hàng hố sản xuất và tiêu thụ.

Như vậy, tính phức tạp và đa dạng của nội dung phân tích được biểu hiện

qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đánh giá kết quả kinh doanh. Việc xây dựng

tương đối hoàn chỉnh hệ thống các chỉ tiêu với cách phân biệt hệ thống chỉ tiêu

khác nhau, việc phân loại các nhân tố ảnh hưởng theo các góc độ khác nhau khơng

những giúp cho DN đánh giá một cách đầy đủ kết quả kinh doanh, sự nỗ lực của

bản thân DN, mà còn tìm ra được ngun nhân, các mặt mạnh, mặt yếu để có biện

pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Khi phân tích kết quả kinh doanh biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế dưới sự

tác động của các nhân tố mới chỉ là quá trình “định tính”, cần phải lượng hố các

chỉ tiêu và nhân tố ở những trị số xác định với độ biến động xác định. Ðể thực hiện

được cơng việc cụ thể đó, cần nghiên cứu khái quát các phương pháp trong phân

tích kinh doanh.

1.1.4. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh

Phương pháp so sánh

So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong PTHĐKD. Sử



dụng phương pháp so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng

kinh tế đã được lượng hố có cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác

định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu đó. Nó cho phép chúng ta

tổng hợp được những nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng

kinh tế đưa ra so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay các mặt

kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp nhằm quản lý tối

ưu trong mỗi trường hợp cụ thể.



Phương pháp loại trừ

Trong phân tích kinh doanh, để có cơ sở đánh giá, nhận xét đúng thì vấn đề

quan trọng và rất được quan tâm nghiên cứu là các nguyên nhân và nhân tố ảnh

hưởng và lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh

doanh. Phương pháp thường được sử dụng để lượng hoá mức độ ảnh hưởng của

các nhân tố là phương pháp loại trừ.

Loại trừ là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

đến kết quả kinh doanh, bằng cách khi xác định sự ảnh hưởng của từng nhân tố

này thì loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Chẳng hạn, khi phân tích chỉ tiêu tổng

doanh thu tiêu thụ sản phẩm có thể quy về sự ảnh hưởng của hai nhân tố:

Lượng hàng hố bán ra được tính bằng đơn vị tự nhiên (cái, chiếc...) hoặc

đơn vị trọng lượng (tấn, tạ, kg...).

Giá bán ra của một đơn vị SP hàng hoá tiêu thụ được tính bằng đơn vị tiền.

Cả hai nhân tố trên cùng đồng thời ảnh hưởng đến tổng doanh thu, nhưng để

xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố này phải loại trừ ảnh hưởng của các

nhân tố khác. Muốn vậy có thể thực hiện bằng hai cách sau đây:

Cách thứ nhất: Có thể dựa vào phép thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng

nhân tố và được gọi là phương pháp “Thay thế liên hoàn”.

Cách thứ hai: Có thể đưa trực tiếp vào mức biến động của từng nhân tố và



được gọi là phương pháp “Số chênh lệch”.

Phương pháp thay thế liên hoàn

Với phương pháp “thay thế liên hồn”, chúng ta có thể xác định được ảnh

hưởng của các nhân tố thông qua việc thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố để

xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi.

Phương pháp số chênh lệch

Phương pháp số chênh lệch là trường hợp đặt biệt của phương pháp thay thế

liên hoàn, nó tơn trọng đầy đủ các bước tiến hành như phương pháp thay thế liên

hồn. Nó khác ở chỗ sử dụng chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của từng

nhân tố để xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích:

+ Ảnh hưởng của nhân tố a:



= (a1-a0).b0.c0



+ Ảnh hưởng của nhân tố b:



= a1.(b1 -b0).c0



+ Ảnh hưởng của nhân tố c:



= a1.b1.(c1-c0)



1.2. Nhóm chỉ số hoạt động

 LỢI NHUẬN BÁN HÀNG

1. Biên lợi nhuận thuần (Profit Margin)

Chỉ số này cho biết mức lợi nhuận tăng thêm trên mỗi đơn vị hàng hoá được

bán ra hoặc dịch vụ được cung cấp. Do đó nó thể hiện mức độ hiệu quả của hoạt

động kinh doanh trong doanh nghiệp. Dĩ nhiên là chỉ số này khác nhau giữa các

ngành.

Biên lợi nhuận thuần = Lợi nhuận ròng/ Doanh thu thuần

Trong đó: Lợi nhuận ròng = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán - Chi phí

quản lý, bán hàng, v.v - Thuế TNDN phải nộp

2. Biên lợi nhuận hoạt động (Operating Profit Margin)

Biên lợi nhuận hoạt động = Thu nhập hoạt động/ Doanh thu thuần



Trong đó: Thu nhập hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi vay từ hoạt

động kinh doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ

3. Biên EBIT (Biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay)

Biên EBIT = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ Doanh thu

4. Biên EBT ( Biên lợi nhuận trước thuế )

Chỉ số này cho biết khả năng hoạt động của hoạt động doanh nghiệp.

Biên lợi nhuận truớc thuế = Thu nhập trước thuế/ Doanh thu

5. Biên lợi nhuận ròng

Biên lợi nhuận ròng = Thu nhập ròng/ Doanh thu

6. Biên lợi nhuận phân phối

Chỉ số này cho biết bao nhiêu doanh thu được phân phối cho các chi phí cố

định trong mỗi đơn vị hàng bán ra.

Biên lợi nhuận phân phối = Tổng doanh thu phân phối/ Doanh thu

Trong đó: Doanh thu phân phối = Doanh thu – Chi phí biến đổi

 LỢI NHUẬN ĐẦU TƯ

1. Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)

Chỉ số này đo lường hiệu quả hoạt động của công ty mà không quan tâm

đến cấu trúc tài chính

ROA = Thu nhập trước thuế và lãi vay/ Tổng tài sản trung bình

Trong đó: Tổng tài sản trung bình = (Tổng tài sản trong báo báo năm trước

+ tổng tài sản hiện hành)/2

2. Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường (ROCE)

Đo lường khả năng sinh lợi đối với các cổ đông thường không bao gồm cổ



đơng ưu đãi.

ROCE = (Thu nhập ròng - Cổ tức ưu đãi)/ Vốn cổ phần thường bình qn

Trong đó: Vốn cổ phần thường bình quân = (Vốn cổ phần thường trong báo

cáo năm trước + vốn cổ phần thường hiện tại)/2

3. Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn cổ phần (ROE)

Đo lường khả năng sinh lơị đối với cổ phần nói chung, bao gồm cả cổ phần

ưu đãi.

ROE = Thu nhập ròng/ Tổng vốn cổ phần bình qn

Trong đó: Vốn cổ phần bình quân= (Tổng vốn cổ phần năm trước+ tổng vốn

cổ phần hiện tại) / 2

4. Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn (ROTC - Return on Total Capital)

Tổng vốn được định nghĩa là tổng nợ phải trả và vốn cổ phần cổ đơng. Chi

phí lãi vay được định nghĩa là tổng chi phí lãi vay phải trả trừ đi tất cả thu nhập lãi

vay (nếu có). Chỉ số này đo lường tổng khả năng sinh lợi trong hoạt động của

doanh nghiệp từ tất cả các nguồn tài trợ

ROTC = (Thu nhập ròng + Chi phí lãi vay)/ Tổng vốn trung bình

 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

1. Vòng quay tổng tài sản

Chỉ số này đo lường khả năng doanh nghiệp tạo ra doanh thu từ việc đầu tư

vào tổng tài sản. Chỉ số này bằng 3 có nghĩa là : với mỗi đô la được đầu tư vào

trong tổng tài sản, thì cơng ty sẽ tạo ra được 3 đơ la doanh thu. Các doanh nghiệp

trong ngành thâm dụng vốn thường có chỉ số vòng quay tổng tài sản thấp hơn so

với các doanh nghiệp khác.

Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần/ Tổng tài sản trung bình

2. Vòng quay tài sản cố định



Cũng tương tự như chỉ số vòng quay tổng tài sản chỉ khác nhau và với chỉ

số này thì chỉ tính cho tài sản cố định

Vòng quay tài sản cố định = Doanh thu thuần/ Tài sản cố định trung bình

3. Vòng quay vốn cổ phần

Chỉ số này đo lường khả năng doanh nghiệp tạo ra doanh thu từ việc đầu tư

vào tổng vốncổ phần (bao gồm cổ phần thường và cổ phần ưu đãi). Ví dụ, tỷ số

này bằng 3 có nghĩa là với mỗi đô la đầu tư vào vốn cổ phần, công ty sẽ tạo ra 3 đơ

la doanh thu.

Vòng quay vốn cổ phần = Doanh thu thuần/ Tổng vốn cổ phần trung bình



Chương 2.

KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ CHO CHƯƠNG TRÌNH PHÂN

TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CƠNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ

THƯƠNG MẠI TNG



2.1. Khảo sát thực trạng công ty cổ phần đầu tư và phát triển TNG- Thái

Ngun chi nhánh Sơng Cơng.

2.1.1 Lịch sử hình thành và q trình phát triển cơng ty

Giới thiệu chung:

• Tên gọi: Công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG- Thái ngun chi

nhánh Sơng Cơng.

• Chủ tịch HĐQT: Ơng Nguyễn Văn Thời

• Địa chỉ: Khu cơng nghiêp B, khu cơng nghiệp Sơng Cơng, thành phố Sơng

Cơng, tỉnh Thái Ngun

• Điện thoại: 02803 858508, Fax: 02803 852060, Email: info@tng.vn.

• Q trình hình thành và phát triển

• Cơng ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG, tiền thân là Xí nghiệp May

Bắc Thái, được thành lập ngày 22/11/1979 theo Quyết định số 488/QĐ – UB của

UBND tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên).

• Ngày 07/5/1981 tại Quyết định số 124/QĐ – UB của UBND tỉnh Bắc Thái

sáp nhập Trạm May mặc Gia cơng thuộc Ty thương nghiệp vào Xí nghiệp.

• Thực hiện Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ

trưởng về thành lập lại doanh nghiệp nhà nước. Xí nghiệp được thành lập lại theo

Quyết định số 708/UB –QĐ ngày 22 tháng 12 năm 1992 của UBND tỉnh Bắc Thái.

• Năm 1997 Xí nghiệp được đổi tên thành Công ty may Thái nguyên với tổng

số vốn kinh doanh là 1.735,1 triệu đồng theo Quyết định số 676/QĐ-UB ngày

04/11/1997 của UBND tỉnh Thái Ngun.

• Ngày 02/01/2003 Cơng ty chính thức trở thành Công ty Cổ phần May Xuất

khẩu Thái Nguyên với vốn điều lệ là 10 tỷ đồng theo Quyết định số 3744/QĐ-UB

ngày 16/12/2002.



• Năm 2006 Cơng ty nâng vốn điều lệ lên trên 18 tỷ đồng theo Nghị quyết

Đại hội Cổ đông ngày 13/08/2006 và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà máy

TNG Sông Công với tổng vốn đầu tư là 200 tỷ đồng.

• Ngày 18/03/2007 Công ty nâng vốn điều lệ lên trên 54,3 tỷ đồng theo Nghị

quyết Đại hội Cổ đông ngày 18/03/2007 và phê duyệt chiến lược phát triển Công ty

đến năm 2011 và định hướng chiến lược cho các năm tiếp theo.

• Ngày 17/05/2007 Công ty đã đăng ký công ty đại chúng với Uỷ ban Chứng

khốn Nhà nước

• Ngày 28/08/2007 Đại hội đồng Cổ đông bằng xin ý kiến đã biểu quyết bằng

văn bản quyết định đổi tên Công ty thành Cơng ty cổ phần Đầu tư và Thương mại

TNG.

• Thành tích: Trải qua 34 năm xây dựng và trưởng thành, cùng với sự phát

triển mạnh mẽ của ngành Dệt may Việt Nam, đến nay công ty đã lọt vào TOP 500

doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và năm 2011, Công ty đã lọt vào TOP 10 doanh

nghiệp có doanh thu lón nhất ngành Dệt may Việt Nam. Đây cũng là doanh nghiệp

đầu tiên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng

khoán vào ngày 22/11/2007. Năm 2012, công ty đạt danh hiệu doanh nghiệp xuất

sắc và doanh nhân tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên.

2.1.2. Đặc điểm kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty

- Ngành nghề kinh doanh

+ Sản xuất và mua bán hàng may mặc.

+ Sản xuất bao bì giấy, nhựa làm túi nilon, áo mưa nilon và nguyên, phụ liệu

hàng may mặc.

+ Đào tạo nghề may công nghiệp.

+ Mua bán máy móc thiết bị cơng nghiệp, thiết bị phòng cháy chữa cháy.

+ Xây dựng cơng trình dân dụng, cơng nghiệp.

+ Vận tải hàng hố đường bộ, vận tải hàng hoá bằng xe taxi.

+ Cho thuê nhà phục vụ mục đích kinh doanh.

+ Đầu tư xây dưng cơ sở kỹ thuật hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị và

khu dân cư.

Trong năm 2016 do được cải tiến kỹ thuật, năng cao năng xuất đồng thời cắt

giảm nhiều chi phí mà cơng ty Cổ phần đầu tư và thương mại TNG có lợi nhuận

sau thuế tháng 10 năm 2016 cao hơn so với tháng 10 năm 2015 là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×