Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quy luật về sự thống nhất giữa tính tích cực nhận thức với động cơ nhận thức.

Quy luật về sự thống nhất giữa tính tích cực nhận thức với động cơ nhận thức.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thứ bậc của hai loại động cơ trên có thể hoán đổi tùy theo từng trường hợp cụ

thể. Tuy nhiên, về mặt sư phạm, động cơ hoàn thiện tri thức vẫn ở thứ bậc cao hơn cả.

Hoạt động giảng dạy của giáo viên



III1-



Khái niệm hoạt động giảng dạy

Là hoạt động của giáo viên bao gồm việc tổ chức và điều khiển hoạt động học

của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý và

hoàn thiện nhân cách của họ.



2- Mục đích của hoạt động giảng dạy



Nhằm giúp người học lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý và

hoàn thiện nhân cách.

3- Bằng cách nào để đạt mục đích?



Để đạt được mục đích trên, phải thông qua hoạt động dạy. Trong hoạt động này,

giáo viên là chủ thể của hoạt động. Chức năng của giáo viên trong hoạt động dạy

không nhằm sáng tạo ra tri thức mới cho nhân loại, cũng không tái tạo tri thức cũ cho

bản thân, mà chủ yếu là tổ chức quá trình tái tạo này ở học sinh. Muốn vậy, điều quan

trọng trong hoạt động dạy là phải tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của

người học, nghĩa là làm cho người học vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết

cách lĩnh hội đối tượng đó. Chính tính tích cực của học sinh trong hoạt động học quyết

định chất lượng học tập. Do vậy, trong lý luận dạy học, người ta khẳng định chất lượng

học tập phụ thuộc vào trình độ tổ chức và điều khiển hoạt động học của người thầy.

Như thế, hai hoạt động dạy và học được tiến hành do hai chủ thể khác nhau (thầy

và trò) thực hiện hai chức năng khác nhau (tổ chức và lĩnh hội), nhưng gắn bó chặt chẽ

với nhau. Hoạt động dạy diễn ra là để tổ chức và điều khiển hoạt động học, còn hoạt

động học là cơ sở để hoạt động dạy được diễn ra đúng mục đích ban đầu.

4-



Các yếu tố tâm lý của hoạt động giảng dạy

Hoạt động dạy nếu xét riêng nó được cấu trúc bởi 3 thành tố:



a.



Thành tố thiết kế (giai đoạn chuẩn bị)

Hoạt động dạy của giáo viên được bắt đầu từ việc thiết kế những giờ học trong

và ngồi lớp (phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, ngoài vườn trường…), bao gồm

những việc như lựa chọn tài liệu học tập, chế biến tài liệu và xây dựng phương pháp

dạy cho phù hợp với nội dung, chương trình và đặc điểm đối tượng người học.



9



Tất cả những công việc trên, cuối cùng, được thể hiện ở giáo án chi tiết gồm có

nội dung, phương pháp, phương tiện, hệ thống hoạt động có tính nhất qn của giáo

viên và học sinh.

Như vậy, thiết kế một giờ học (trong và ngoài lớp) là giai đoạn chuẩn bị của hoạt

động dạy. Nếu chuẩn bị tích cực và chu đáo, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành

công của hoạt động dạy nói riêng, và của q trình dạy học nói chung.

Để thiết kế một giáo án chi tiết, chu đáo, qui định rõ hoạt động của thầy, qui định

rõ hoạt động của trò, đòi hỏi người giáo viên cần phải có:

+ Lương tâm, trách nhiệm với cơng việc, với học sinh của mình như những đặc

điểm nhân cách của người giáo viên. Có như vậy người giáo viên mới lựa chọn, chế

biến nội dung tài liệu học tập dù khó đến mấy cũng trở nên dễ và vừa với người học.

+ Người giáo viên phải có chun mơn sâu, có nghiệp vụ giỏi. Có như vậy, người

giáo viên mới lựa chọn, chế biến tài liệu mang tính vừa sức phù hợp với khả năng nhận

thức của người học.

+ Để đảm bảo chất lượng lĩnh hội khái niệm khoa học ở người học, đòi hỏi người

giáo viên phải tìm kiếm nhiều con đường ( phương pháp) để tác động vào tư duy tích

cực nhận thức ở người học.

b.



Thành tố tổ chức

Thành tố tổ chức là một thành tố quan trọng trong cấu trúc của hoạt động dạy.

Yếu tố này không tách rời thành tố thiết kế ở giai đoạn chuẩn bị. Chúng tạo nên một

chỉnh thể thống nhất. Những gì giáo viên chuẩn bị để tiến hành trong quá trình dạy học,

cần phải gắn bó chặt chẽ với kỹ năng tổ chức tồn bộ q trình đó. Nếu thiếu sự gắn bó

này, khơng thể truyền thụ tri thức cho học sinh được.

Thực tiễn dạy học đã chứng minh, có những giáo viên mới đứng lớp, soạn giáo án

và chuẩn bị bài rất tốt, chu đáo, nhưng giờ học không thu được kết quả như mong

muốn, vì bản thân giáo viên khơng có kỹ năng thực hiện giờ dạy trên lớp. Ngược lại,

có những giáo viên trước khi lên lớp soạn bài đại khái qua loa, thậm chí có những nội

dung giáo viên trình bày còn nắm khơng rõ, nhưng khi ra trình bày thành cơng ở mức

độ nhất định. Vậy để tạo nên chất lượng trọn vẹn của giờ dạy nó phụ thuộc vào những

kỹ năng cơ bản nào ?

Để tổ chức tốt một giờ học trên lớp, giáo viên cần có các kỹ năng cơ bản sau:

- Kỹ năng trình bày tài liệu: Để có kỹ năng này, giáo viên phải luyện tập ngơn

ngữ nói, ngơn ngữ viết, tập sử dụng các phương tiện dạy học như tranh ảnh, mô hình,

vật thật,… Biểu hiện cụ thể của kỹ năng này là sự nói năng lưu lốt, ngắn gọn, rõ ràng;

10



trình bày bảng khoa học; tranh ảnh, mơ hình, vật thật…được sử dụng, khai thác để tổ

chức hoạt động học cho học sinh một cách tích cực và hiệu quả.

- Kỹ năng làm chủ hành vi của bản thân: Đây cũng là một kỹ năng quan trọng

của giáo viên để tổ chức tốt một giờ lên lớp. Những lúng túng trong ngôn ngữ và cử

chỉ, dáng điệu, đi đứng, nét mặt…của giáo viên, việc không biết kiềm chế những trạng

thái tâm lý bất lợi như nổi nóng, bực dọc…đều gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến

học sinh và có thể là nguyên nhân làm cho giờ học không đạt được kết quả mong

muốn.

- Kỹ năng điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh: Thực chất của quá trình

lĩnh hội tri thức là quá trình nhận thức. Vì vậy, để giúp học sinh đạt đến sự lĩnh hội sâu

sắc, giáo viên phải có kỹ năng điều khiển hoạt động nhận thức của họ trong quá trình

dạy học. Kỹ năng này thể hiện ở khả năng định hướng và điều khiển các hoạt động như

quan sát, gợi nhớ, suy nghĩ; khả năng tổ chức, hướng dẫn học sinh thu thập các thơng

tin cần thiết cho việc hình thành các khái niệm, lĩnh hội tri thức.

- Kỹ năng kiểm tra và đánh giá tiến trình dạy học: thể hiện ở khả năng kiểm sốt

và đánh giá từng giai đoạn của q trình lên lớp; đánh giá hành vi và ngơn ngữ của

mình; các phản ứng (tích cực và tiêu cực) ở học sinh cũng như kết quả học tập của họ.

Việc đánh giá này giúp giáo viên điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và học, làm cho giờ

học đi đúng hướng và nhờ đó mà có thể điều khiển tồn bộ quá trình dạy học đạt được

những mục tiêu đặt ra.

Các kỹ năng cụ thể trên có liên hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và tổng

hợp chúng lại sẽ góp phần tạo nên chất lượng trọn vẹn của giờ lên lớp. Do đó, để có thể

tổ chức tốt giờ lên lớp, giáo viên cần phải có đầy đủ các kỹ năng trên.

c.



Thành tố giao lưu

Đây là mối quan hệ giao lưu giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học

sinh. Các quan hệ giao lưu này là yếu tố quan trọng của hoạt động dạy và có ảnh hưởng

đến hai yếu tố trên.

- Giao lưu giữa giáo viên và học sinh

Thực tiễn cho thấy, nếu quan hệ giao lưu thầy trò tốt đẹp (thầy yêu mến trò, trò

kính trọng thầy) thì điều đó sẽ động viên người thầy toàn tâm toàn ý trong việc chuẩn

bị và tạo sự hứng thú khi đứng lớp. Đồng thời điều đó cũng tạo những xúc cảm tích cực

cho học sinh trong q trình lĩnh hội. Đơi khi chỉ vì quan hệ thầy - trò chưa tốt (lỗi là ở

thầy) mà học sinh trở nên bất kính, bất phục và bất tuân. Việc làm này khiến cho học

sinh uể oải, chán nản trong giờ học, gây trở ngại rất lớn cho sự lĩnh hội.

Trong mối quan hệ giao lưu này, ngồi việc giáo viên cần có thái độ đối xử tích

cực với tập thể lớp, còn phải lưu ý đến việc đối xử với từng học sinh. Nhận biết và tính

đến những đặc điểm tâm sinh lý, hồn cảnh…của từng em, biết được những khó khăn



11



và thuận lợi trong học tập của từng học sinh để có những biện pháp giúp đỡ và đối xử

thích hợp.

- Giao lưu giữa học sinh với học sinh

Trong quá trình dạy học, người thầy không chỉ tác động đến một hay vài học sinh

mà đến cả một tập thể học sinh. Do vậy, chất lượng của q trình dạy học còn phụ

thuộc vào mối quan hệ giao lưu giữa các cá nhân học sinh trong tập thể đó với nhau.

Ngồi ra, ngay cả tác phong của giáo viên đối với học sinh trong rất nhiều trường

hợp cũng ảnh hưởng đến quan hệ giao lưu giữa học sinh với học sinh. Ví dụ, nếu giáo

viên có thái độ tích cực đối với học sinh (thể hiện thiện chí của mình, thấy rõ những ưu

điểm và những khó khăn của học sinh, động viên học sinh giúp đỡ lẫn nhau...) thì học

sinh sẽ thân thiện với nhau hơn, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và tạo nên bầu khơng khí

tâm lý thuận lợi cho hoạt động dạy nói riêng và giáo dục nói chung.

Như vậy, các quan hệ giao lưu nói trên phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của giáo

viên đối với học sinh. Đây là thành tố quan trọng và có quan hệ mật thiết với các thành

tố khác để tạo nên cấu trúc trọn vẹn của hoạt động

IV-



Hoạt động học và các vấn đề cơ bản của hoạt học

Sự học là gì ?

Con người từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay, để lĩnh hội kinh nghiệm

xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển, người ta có rất nhiều cách học khác nhau:

+ Học 1 cách ngẫu nhiên trong cuộc sống đời thường: thơng qua một hoạt

động nào đó thì rút kinh nghiệm.

+ Học bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, thông qua lao động sản xuất, giao tiếp, đọc

sách báo, qua các phương tiện truyền thống ...

Như vậy, trong quá trình tồn tại và phát triển bất cứ lúc nào con người cũng

học được một cái gì đó. Việc học như vậy người ta gọi là học một cách ngẫu nhiên

(học khơng chủ định) hay còn gọi là sự học.

“ Sự học là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức thường

ngày, tức là: Việc nắm được tri thức, kinh nghiệm, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, cũng

như các phương thức hành vi khác thông qua việc thực hiện một hoạt động khác trong

cuộc sống hàng ngày”. Điều đó có nghĩa là, những kinh nghiệm con người tiếp thu

được không phải là mục đích mà chỉ là kết quả phụ thu được trong hoạt động.

Kết quả của sự học chỉ mang lại: những tri thức tiền khoa học, có tính chất

ngẫu nhiên, rời rạc khơng hệ thống; chỉ lĩnh hội những gì liên quan trực tiếp tới nhu

cầu, hứng thú, nhiệm vụ trước mắt, còn cái gì khơng liên quan bỏ qua; sự học chỉ hình

thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm hàng ngày trực tiếp mang lại; những

kinh nghiệm lĩnh hội qua cách học này không phù hợp với những mục tiêu trực tiếp

của chính hoạt động hay hành vi

1-



12



Song thực tiễn lại đòi hỏi con người phải có những tri thức khoa học thực sự,

phải hình thành những năng lực thực tiến mới mà cách học “ ngẫu nhiên” dựa trên cơ

sở hoạt động sống “tự nhiên” không thể mang lại

Để đạt được điều này, cần phải có một hoạt động đặc biệt- mục đích cơ bản

của nó chính là học – Mục đích cơ bản của hoạt động chính là học – được gọi là hoạt

động học ( hay còn gọi là học có chủ đích)

2-



Khái niệm về hoạt động học tập

Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục

đích tự giác, là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi

và những dạng hoạt động nhất định.



3-



Bản chất của hoạt động học tập

Hoạt động học khác với các hoạt động khác được thể hiện ở các bản chất sau:

a) Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương



ứng với nó.

Hoạt động học nhằm hướng tới mục đích là chiếm lĩnh tri thức xã hội, thông qua

sự tái tạo ở mỗi cá nhân.

Sự tái tạo này sẽ không thực hiện được, nếu người học chỉ là khách thể bị động

của những tác động sư phạm; hoặc, nếu những tri thức này chỉ được truyền cho người

học theo cơ chế một chiều, kiểu máy phát và máy thu (người dạy - người học).

Muốn học có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hành động học tập,

bằng chính ý thức tự giác và khả năng, kinh nghiệm của bản thân, có nghĩa học sinh

phải thực sự là chủ thể của hoạt động học, còn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là đối tượng

của hoạt động học.

b) Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình.



Thơng thường, các hoạt động khác đều hướng vào làm thay đổi đối tượng của

hoạt động, trong khi đó hoạt động học lại làm thay đổi chính chủ thể hoạt động.

Sở dĩ như vậy, vì tri thức mà lồi người tích lũy được là đối tượng của hoạt động

học. Nội dung của tri thức này không hề bị thay đổi sau khi chủ thể học sinh chiếm lĩnh

nó, và nhờ sự chiếm lĩnh này, tâm lý chủ thể học sinh biến đổi và phát triển.

Do vậy, người học càng ý thức được mục đích học tập sâu sắc bao nhiêu, thì sự

thay đổi và phát triển tâm lý diễn ra càng mạnh mẽ bấy nhiêu.

c) Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp



thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

13



Trước hết, sự tiếp thu này có thể diễn ra trong hoạt động thực tiễn như lao động,

vui chơi, giao lưu… Đó là sự tiếp thu diễn ra sau khi chủ thể hoạt động trong một tình

huống cụ thể. Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tiếp thu trong các tình huống này thường

mang tính chất kinh nghiệm, chỉ giúp học sinh hoạt động có kết quả trong tình huống

xác định giống như tình huống đã gặp. Kinh nghiệm được hình thành như vậy khơng có

tính hệ thống, chưa được khái qt và khó có thể giúp cho cá nhân giải quyết những

nhiệm vụ đa dạng của thực tiễn.

Trái lại, sự tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động học được điều khiển

bởi mục đích tự giác là mục tiêu đào tạo. Đối tượng tiếp thu chính là mục đích của hoạt

động học tập. Hay nói khác đi, những tri thức học sinh cần phải tiếp thu là những tri

thức được chọn lọc, tinh chế và được tổ chức lại trong một hệ thống nhất định, được cụ

thể hóa trong chương trình đào tạo. Những tri thức này khơng chỉ cần thiết và thích hợp

cho việc giải quyết một tình huống cụ thể nào đó, mà còn cần thiết và thích hợp để giải

quyết những nhiệm vụ đa dạng của cuộc sống.

d) Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới , mà còn



hướng vào tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là

tiếp thu được cả phương pháp giành tri thức đó (cách học).

Muốn cho hoạt động học đạt được hiệu quả, người học phải biết cách học, nghĩa

là phải có những tri thức về bản thân hoạt động học. Tuy vậy, sự tiếp thu loại tri thức

này không thể diễn ra một cách độc lập, tách rời với tiếp thu tri thức, mà diễn ra đồng

thời với việc tiếp thu tri thức.

Do đó, khi tổ chức hoạt động học cho học sinh, người dạy vừa phải ý thức được

những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nào cần hình thành ở học sinh; vừa phải ý thức được

con đường, cách thức mà học sinh thực hiện để chiếm lĩnh tri thức đó, để thơng qua

việc tổ chức sự lĩnh hội cho học sinh mà hình thành cách học ở họ.

4-



Các vấn đề cơ bản của hoạt động học



a. Đối tượng của hoạt động học là tri thức - kỹ năng - kỹ xảo,



Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh học trong nhà trường, được lựa

chọn từ những khoa học khác nhau, theo logic nhận thức và lơgíc sư phạm, có nghĩa là,

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và phục vụ cho mục tiêu đào tạo, làm thành

những môn học khác nhau.

Như vậy, đối tượng của hoạt động học được thể hiện ở chương trình các mơn học

mà trong đó, cụ thể là hệ thống các khái niệm - kỹ năng - kỹ xảo. Do đó, đối tượng của

hoạt động học, có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học.



14



Ta thấy giữa hoạt động học (lĩnh hội) của học sinh và hoạt động nghiên cứu (phát

hiện) của nhà khoa học vừa có sự giống nhau, lại vừa khác nhau. Giống nhau, vì đều là

hoạt động nhận thức, khác nhau, vì hoạt động nhận thức của học sinh có tính độc đáo

so với hoạt động nhận thức của nhà khoa học. Học sinh nhận thức trong những điều

kiện sư phạm nhất định.

- Nếu quá trình nghiên cứu của nhà khoa học diễn ra theo con đường tự tìm

tòi, theo ngun tắc thử và sai, thì hoạt động học của học sinh diễn ra theo

con đường đã được khám phá. Do vậy, trong một thời gian ngắn, học sinh có

thể lĩnh hội một hệ thống tri thức mà các nhà khoa học đã mất nhiều thời

gian mới khám phá được.

- Nếu nhà khoa học phải đảm đương nhiệm vụ khó khăn là độc lập, đi vào

những bí ẩn của thế giới, để phát hiện và chứng minh những cái mà loài

người chưa hề biết trong tự nhiên, xã hội và tư duy để tìm ra những chân lý

mới cho nhân loại, thì hoạt động học của học sinh là để tái tạo những tri

thức đó cho bản thân.

- Tính độc đáo của hoạt động học của học sinh còn thể hiện ở chỗ được củng

cố, kiểm tra và đánh giá.

b. Nhiệm vụ của hoạt động học

Trong học tập, mục đích bao trùm là chiếm lĩnh đối tượng của hoạt động học, đó

là hệ thống tri thức - kỹ năng - kỹ xảo trong chương trình đào tạo.

Trong thực tế, học sinh chiếm lĩnh hệ thống tri thức này, bằng cách thực hiện các

nhiệm vụ học tập tương ứng, do giáo viên giao cho. Vậy làm cách nào để thiết lập hệ

thống các nhiệm vụ học tập đó?

Vì đối tượng của học tập được cụ thể hóa ở hệ thống các khái niệm - kỹ năng kỹ xảo, nên việc thiết lập hệ thống các nhiệm vụ học tập khơng thể tùy tiện. Nó phải

tn theo logic chặt chẽ của đối tượng học tập. Có nghĩa là, các nhiệm vụ học tập phải

được làm thành một hệ thống đúng theo logic của hệ thống khái niệm - kỹ năng - kỹ

xảo có trong chương trình. Hay nói khác đi, đối tượng tiến triển tới đâu, thì nhiệm vụ

giao cho tới đó.

Trong thực tế, hệ thống các nhiệm vụ học tập thường được đưa đến cho học sinh

dưới nhiều hình thức, như hệ thống các câu hỏi, các yêu cầu, các bài tập, bài toán hoặc

các thao tác,...

c. Phương tiện của hoạt động học

Với mọi hoạt động, để tác động vào đối tượng thì chủ thể cần có phương tiện,

cơng cụ nhất định. Nếu phương tiện hoạt động tốt, thích hợp, thì việc tác động đến đối

tượng sẽ thuận lợi và đạt kết quả cao.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quy luật về sự thống nhất giữa tính tích cực nhận thức với động cơ nhận thức.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×