Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI LỚP 3 XÃ MƯỜNG TÈ HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI LỚP 3 XÃ MƯỜNG TÈ HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hiệp hội quốc tế về bảo vệ tự nhiên (IUCN) đã đưa ra định nghĩa: “GDMT là

quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kĩ

năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con

người, nền văn hóa, và thế giới vật chất bao quanh; GDMT đồng thời cũng thực hiện

quá trình đưa ra nội bộ những quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan tới đặc

tính mơi trường”.

Tại hội nghị liên Chính Phủ về GDMT (năm 1977 tại Grudia) UNESCO đã

đưa ra định nghĩa: “GDMT là một quá trình tạo dựng cho con người những nhận

thức và mối quan tâm đối với các vấn đề môi trường, sao cho mỗi người đều có đủ

trình độ kiến thức, thái độ, kiến thức, kĩ năng để có thể nảy sinh trong tương lai”.

Ở Việt Nam, theo dự án VIE 98/18, GDMT được hiểu là: “ Một quá trình

thường xuyên làm cho con người nhận thức được môi trường của họ và thu được

kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quan tâm hành động để giải quyết các

vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ

tương lai”.

Trong khuôn khổ giáo dục ở nhà trường, có thể hiểu đơn giản, GDMT là một

quá trình tạo dựng cho học sinh ở những nhận thức và mối quan tâm về môi trường

và các vấn đề mơi trường.



1.2. Vị trí và mục tiêu giáo dục mơi trường trong trường Tiểu học

Vị trí của giáo dục môi trường trong trường Tiểu học

Hiện nay, trường học được coi là một trong những nơi phù hợp và hiệu quả

nhất để GDMT. Vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo

khn khổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức.

Trong các bậc học, bậc TH là bậc nền móng của tồn bộ hệ thống GD quốc

dân. Khi đứa trẻ bước vào lớp 1, hoạt động chủ đạo của trẻ hoạt động học tập thay

cho hoạt động vui chơi như khi các em còn ở tuổi mẫu giáo. Trong giai đoạn nền

móng này, khi các em đang dần định hình về nhân cách, ý thức trách nhiệm với cộng

đồng, nếu chúng ta quan tâm GD một cách khoa học, phong phú về MT và ý thức

đối với MT cho HS sẽ để lại những dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ trong toàn bộ

cuộc đời sau này của các em. Bản chất của tuổi thơ vốn dồi dào tình cảm gắn bó

thiên nhiên bao quanh và ý thức sẵn sàng tham gia vào hoạt động cơng ích. Đó là

những thuận lợi để việc GDMT ở bậc TH đạt hiệu quả cao.

Mục tiêu của giáo dục môi trường

a. Mục tiêu của giáo dục môi trường

GDMT nhằm đem lại cho đối tượng được GDMT:

- Hiểu biết bản chất của các vấn đề về môi trường như nguồn lực inh sống,

lao động và phát triển đối với bản thân mỗi người cũng như đối với cộng đồng, quốc

4



gia và quốc tế. Từ đó, có thái độ, cách cư xử đúng đắn trước các vấn đề mơi trường,

xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức, trách nhiệm, về giá trị nhân cách

để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ…

Tức là xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường.

- Tri thức, kỹ năng phương pháp hoạt động để nâng cao năng lực trong việc

lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn

ngoan các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia hiệu quả vào việc

phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ đang sinh sống và

làm việc. Đây là mục tiêu và khả năng hoạt động cụ thể.

Hiểu biết về môi trường

Thái độ đúng đắn về môi

Khả năng hoạt động có

trường

hiệu quả về mơi trường

- Vấn đề

- Nhận thức

- Kiến thức

- Nguyên nhân

- Thái độ

- Kỹ năng

- Hiệu quả

- Ứng xử

- Dự báo tác động

b. Mục đích của giáo dục môi trường

GDMT không chỉ là việc học một lần trong đời, mà là học suốt đời và phải

được tiến hành giáo dục sâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ đến khi trưởng thành. Đối với

các em học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường thì GDMT có mục đích tạo nên

“con người giác ngộ về môi trường” – The Environmental Person. Với người trưởng

thành, mục đích này là “ người cơng dân có trách nhiệm về mơi trường” – The

Environmental Citizen. Còn với người đang hoạt động sản xuất, giảng dạy, dịch vụ,

quản lý mục đích này là hình thành “ nhà chuyên môn thấu hiểu về môi trường” The Environmental Professional.

Như vậy, mục đích cuối cùng của GDMT là tiến tới một xã hội hóa các vấn

đề mơi trường, nghĩa là tạo những cơng dân có nhận thức, có trách nhiệm về mơi

trường và biết sống về mơi trường.



1.3. Đặc trưng của giáo dục môi trường địa phương

Giáo dục môi địa phương là những vấn đề cơ bản hoặc thời sự về văn hoá,

lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường,... của địa phương bổ sung cho nội dung

giáo dục bắt buộc chung thống nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học sinh

những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý

thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần giải quyết những vấn đề

của quê hương.

Ở từng địa phương khác nhau sẽ có những đặc điểm về mơi trường sống,lịch

sử phát triển, trình độ phát triển kinh tế xã hội, dân trí… khác nhau. Chính vì thế

việc đưa giáo dục mơi trường địa phương vào giáo dục cũng sẽ cần thật linh hoạt và

5



phù hợp với tình hình thực thế của từng địa phương. Như vậy, hoạt động giáo dục

môi trường mới thực sự phát huy tác dụng.



1.4. Khả năng giáo dịch môi trường qua ơn tự nhiên – xã hội trong chương

trình cấp Tiểu học

Khái niệm về môn tư nhiên – xã hợi

Mơn TN-XH tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội, có vai

trò quan trọng trong việc giúp học sinh học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa

lý ở các lớp học. Góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự

nhiên và khoa học xã hội ở các cấp học trên. Môn học coi trọng việc tổ chức cho HS

trải nghiệm thực tế, tạo cho các em cơ hội tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và xã

hội xung quanh; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự

nhiên và xã hội.

Mục tiêu của mơn Tư nhiên và Xã hợi

- Góp phần giúp HS hình thành và phát triển tình yêu con người, thiên nhiên;

tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ thể chất và tinh thần của bản thân, gia đình,

cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi

trường sống.

- Góp phần giúp HS hình thành và phát triển năng lực nhận thức về tự nhiên

và xã hội; năng lực tìm tòi và khám phá các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ giữa

các sự vật, hiện tượng thường gặp trong tự nhiên và xã hội; năng lực vận dụng kiến

thức vào thực tiễn, ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội.

Khái niệm hoạt động dạy học: là hoạt động người lớn tổ chức và điều

khiển hoạt động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa - xã hội, tạo ra sự

phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng.

Khả năng giáo dục mơi trường qua môn tư nhiên – xã hội

Các quan điểm xây dựng chương trình tự nhiên - xã hội

- Tăng cường sự tham gia tích cực của HS vào quá trình học tập bằng cách

giúp các em biết đặt câu hỏi, tham gia vào những hoạt động trải nghiệm có ý nghĩa

để tìm kiếm câu trả lời; tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi điều tra, khám phá;

hướng dẫn học sinh thể hiện việc học tập của cá nhân và nhóm thơng qua các sản

phẩm học tập; khuyến khích HS vận dụng được những điều đã học vào đời sống.

- Tích hợp những nội dung liên quan đến thế giới tự nhiên và xã hội, trong

đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của con người là cầu nối giữa tự nhiên và xã hội.

- Tổ chức nội dung chương trình thành các chủ đề: gia đình, trường học,

cộng đồng địa phương, thực vật và động vật, con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu

trời. Các chủ đề này được phát triển theo hướng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến

lớp 3. Mỗi chủ đề đều thể hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các

6



yếu tố tự nhiên và xã hội trên cơ sở giáo dục giá trị và kĩ năng sống; giáo dục các

vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống an tồn của bản thân,

gia đình và cộng đồng.

Phương pháp giáo dục mơi trường

- Tổ chức cho HS học thông qua trải nghiệm với các hoạt động tìm tòi, khám

phá, liên hệ, vận dụng gắn với thực tiễn cuộc sống xung quanh, qua đó, học sinh học

cách giải quyết một số vấn đề đơn giản thường gặp; ứng xử thích hợp liên quan đến

sức khoẻ, sự an toàn của bản thân và những người xung quanh; bảo vệ môi trường

sống

- Tổ chức cho HS học thông qua tương tác với các hoạt động trò chơi, đóng

vai, trao đổi, thảo luận, thực hành, tìm tòi, điều tra đơn giản.

- Tổ chức cho HS học thông qua quan sát: Đối tượng quan sát của các em bao

gồm các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội thông qua tranh ảnh, vật thật, video

clip, môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh.

- Giáo viên khai thác những kiến thức, kinh nghiệm ban đầu của HS về cuộc

sống xung quanh; phát huy trí tò mò khoa học, hướng đến sự phát triển các mối

quan hệ tích cực của các em với mơi trường tự nhiên và xã hội xung quanh; hướng

dẫn HS cách đặt câu hỏi, cách thu thập thơng tin và tìm kiếm các bằng chứng, cách

vận dụng các thông tin/bằng chứng thu thập được để đưa ra những nhận xét, kết luận

mang tính khách quan, khoa học..

Đánh giá kết quả giáo dục môi trường

Đánh giá là một bộ phận quan trọng của quá trình dạy học. Kết quả giáo dục

mơn TN-XH được thực hiện thơng qua đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết. Việc

đánh giá quá trình diễn ra trong suốt quá trình học tập của HS.

Nhờ hoạt động đánh giá sẽ cung cấp cho GV, cha mẹ HS và các nhà quản lý

thông tin về việc học tập của HS, biết được những điểm mạnh, sự tiến bộ của các em

và những điểm cần được cải thiện; tạo cơ hội và thúc đẩy quá trình học tập của HS,

tăng động cơ và động lực học tập của các em. Những dữ liệu thu thập được trong

quá trình đánh giá đồng thời là cơ sở thực tế để GV cải tiến phương pháp và hình

thức tổ chức dạy học.



2. Cơ sở thưc tiễn của việc giáo dục môi trường địa phương trong dạy học

môn tư nhiên – xã hội lớp 3 cho học sinh Tiểu học tại xã Mường Tè,

huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

2.1. Thực trạng môi trường tại xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai

Châu

Xã Mường Tè là một trong các xã thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Những năm qua, xã Mường Tè đã có những chuyển biến tích cực trong phát triển

7



kinh tế - xã hội. Mường Tè đang thay da đổi thịt từng ngày nhờ triển khai hiệu quả

các chương trình mục tiêu Quốc gia như 134, 135, tái định cư gắn với Xây dựng

Nông thôn mới…

- Về tài nguyên nước mặt: Mường Tè là vùng thượng lưu của Sông Đà, mật

độ sông suối khá dày đặc (khoảng 0,6 km/km2). Vào mùa mưa bão rất hay có hiện

tượng sạt lở đất vơ cùng nguy hiểm.

- Về tài nguyên nước ngầm: Nước ngầm không sâu, tuy nhiên trữ lượng nước

khơng lớn, một số nơi có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt thơng qua hình thức sử

dụng giếng khoan, giếng đào. Nhưng nguồn nước này đang bị ô nhiễm mạnh do sinh

hoạt của con người.

- Về tài nguyên rừng: Năm 2018, xã có 4.725,98 ha đất lâm nghiệp có rừng,

chiếm 62,60% diện tích tự nhiên. Hiện nay hiện tượng chặt phá rừng khai thác gỗ,

đốt rừng làm nương rẫy đang khiến diện tích đất rừng giảm đáng kể

- Tài nguyên khoáng sản: Theo kết quả điều tra thăm dò chưa đầy đủ của các

đồn khảo sát địa chất cho thấy trên địa bàn xã Mường Tè có một số loại khoáng sản

như sắt, đá vơi, cát, sỏi, sét Kaolin…. có thể khai thác với quy mô vừa và nhỏ để

phục vụ nhu cầu tại chỗ. Hiện tượng khai thác trái phép đang diễn ra tràn lan gây

mất trật tự an ninh địa phương, thiệt hại về nguồn trữ lương khoáng sản địa phương

rất lớn.



2.2. Thực trạng giáo dục môi trường địa phương qua môn tự nhiên - xã hội

cho học sinh tiểu học ở xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai

Châu

Giáo dục môi trường trong nhà trường hiện nay

- Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, GDMT đã được đưa vào hệ thống

giáo dục của nhiều nước như : Liên Xô, Trung Quốc, Bỉ, Phần Lan…Cho tới nay ở

nhiều nước, GDMT đã được đưa vào giảng dạy như một mơn học chính khóa. Ở

Việt Nam, GDMT đã và đang được tích hợp, lồng ghép vào tất cả các môn học ở tất

cả các bậc học phổ thông.

- Nhà trường phổ thông từ bậc Tiểu học đến bậc trung học ln có một vai

trò đặc biệt quan trọng trong cơng tác GDMT. GDMT ở trường phổ thông tác động

lên thế hệ trẻ - Là bộ phận phù hợp nhất để tác động lên, bởi họ vẫn đang trong quá

trình phát triển các thái độ, nhận thức, hành vi… họ lại là thành viên của nhóm dân

cư đơng nhất xã hội và hơn cả sự thành đạt trong tương lai của họ phụ thuộc trực

tiếp vào sự phát triển bền vững ngày hôm nay hơn bất kỳ nhóm dân cư nào.

- Hệ thống các trường học được phân bố rộng khắp đến từng thôn, xã ở mọi

miền đất nước. Số lượng các trường phổ thông, số lượng GV cùng HS đông đảo sẽ

8



là một lực lượng hùng hậu tham gia trực tiếp và bảo vệ mơi trường trong phạm vi

tồn quốc.

- Hơn thế nữa, trong nhà trường còn là trung tâm văn hóa giáo dục cộng

đồng địa phương, có vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, vận

động các tầng lớp dân cư ở địa phương. Thông qua các hoạt động giáo dục mơi

trường trong và ngồi nhà trường, mỗi nhà trường sẽ trở thành một trung tâm văn

hóa giáo dục và bảo vệ mơi trường trên địa bàn của mình, và là hạt nhân tổ chức

GDMT ở các cộng đồng dân cư.

Như vậy, GDMT trong nhà trường khơng chỉ có tác dụng sâu sắc, lâu bền mà

còn có tác dụng rộng lớn nhất.

Thực trạng giáo dục môi trường địa phương qua môn khoa học trong

Trường Tiểu học Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên của trường Tiểu học Mường Tè, tỉnh Lai

Châu, tôi đã khảo sát thông qua phỏng vấn với một số giáo viên trên địa bàn huyện.

Mục tiêu khảo sát: Thu thập số liệu thơng tin chính xác cụ thể về GDMT địa

phương trong dạy học môn TN – XH lớp 3 cho HS Tiểu học Mường Tè - huyện

Mường Tè - Lai Châu.

Nội dung khảo sát: GDMT địa phương trong dạy học môn TN – XH Lớp 3

cho HS Tiểu học Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

Đối tượng khảo sát: HS và GV Lớp 3 Tiểu học Mường Tè huyện Mường Tè

- Lai Châu

Phương pháp khảo sát

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi : Tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi

cho GV khối lớp 3

+ Phương pháp quan sát : Tôi tiến hành quan sát hành vi BVMT của học sinh

khi trên lớp.

Để tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức của GV về GDMT địa phương

trong dạy học môn TN – XH lớp 3 cho HS Tiểu học huyện Mường Tè – Lai Châu tôi

đã tiến hành phát phiếu hỏi và phỏng vấn giáo viên Tiểu học khối lớp 3 Tiểu học

Mường Tè huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và thu được kết quả được thể hiện ở

bảng 1.1 sau đây

Bảng 1.1. Thưc trạng nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của GDMT

địa phương trong dạy học môn TN – XH lớp 3 cho HS Tiểu học Mường Tè,

huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

Mức độ

Số lượng(người)

Xử lý (%)

Rất cần thiết

11

78,6%

Cần thiết

1

10,7%

9



Không cần thiết

1

(Nguồn: Tổng hợp từ các phiếu khảo sát)



10,7%



Kết quả trong bảng khảo sát 2.1 cho thấy nhận thức về mức độ cần thiết của

GDMT địa phương của các thầy cô giáo khối lớp 3 rất cao. Trong tổng số 14 GV

được khảo sát có tới 11 GV cho rằng GDMT địa phương trong dạy học môn TN –

XH là cần thiết. Chỉ có 1 GV cho rằng GDMT địa phương trong dạy học môn TN –

XH là cần thiết.Và 1GV cho rằng GDMT địa phương trong dạy học môn TN – XH

là không cần thiết.

Tỉ lệ các ý kiến cho rằng GDMT địa phương trong dạy học môn TN – XH là

cần thiết rất cao chiếm tới 78,6%. Tỉ lệ các ý kiến cho rằng GDMT địa phương trong

dạy học mơn TN – XH cần thiết chiếm 10,7%. Còn tỉ lệ GV cho rằng GDMT địa

phương trong dạy học môn TN – XH là không cần thiết chỉ chiếm 10,7%

Điều này cho thấy các thầy cô giáo khối lớp 3 rất quan tâm tới vấn đề giáo

dục môi trường địa phương trong dạy học môn TN – XH.

Để tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục môi trường địa phương trong dạy

học môn TN - XH lớp 3 cho HS Tiểu học Mường Tè - huyện Mường Tè – Lai Châu

tôi đã tiến hành phát phiếu hỏi và phỏng vấn giáo viên Tiểu học khối lớp 3 huyện

Mường Tè, tỉnh Lai Châu và thu được kết quả được thể hiện ở bảng 2.2 , 2.3, 2.4 và

2.5.

Bảng 1.2. Tần suất áp dụng GDMT địa phương trong dạy học môn Tư nhiên –

Xã hội lớp 3 cho HS Tiểu học Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

10



Tần suất áp dụng

Giáo viên (người )

Tỉ lệ (%)

Thường xuyên

10

71,4%

Thỉnh thoảng

3

21,4%

Không bao giờ

1

7,2%

(Nguồn: Tổng hợp từ các phiếu khảo sát)

Thông qua các số liệu thu thập được từ việc khảo sát , tôi nhận thấy có 10/14

GV thường xuyên áp dụng GDMT địa phương trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội

lớp 3, có 3/14 GV thỉnh thoảng mới áp dụng, và chỉ có 1/14 GV khơng bao giờ áp

dụng GDMT địa phương trong dạy học môn TN – XH lớp 3. Tỉ lệ GV thường xuyên

GDMT địa phương trong dạy học chiếm tỉ lệ cao nhất 71,4%, thỉnh thoảng mới

GDMT địa phương là 21,4%, còn tỉ lệ GV khơng bao giờ GDMT địa phương chỉ

chiếm 7,2%. Tỉ lệ giáo viên thỉnh thoảng GDMT địa phương khá mâu thuẫn với tỉ lệ

giáo viên cho rằng GDMT trong dạy học là rất cần thiết. Xảy ra tình trạng này vì

hầu như các thầy cô giáo đều rất quan tâm tới GDMT địa phương trong dạy học

nhưng trong quá trình thực hiện thì gặp phải một số khó khăn như: nguồn kinh phí

eo hẹp, chưa có sự phối hợp của địa phương và các cơ quan tổ chức xã hội với nhà

trường.

Bảng 1.3. Những nội dung được các thầy (cô) thường xuyên GDMT địa phương

trong dạy học môn Tư nhiên – Xã hội lớp 3

Nội dung

Số lượt chọn

Tài nguyên – thiên nhiên địa phương

13

Văn hóa các dân tộc địa phương

12

Những thuận lợi và khó khăn của địa hịnh địa phương

10

Động vật, thực vật có trên địa phương

12

(Nguồn: Tổng hợp từ các phiếu khảo sát)

Qua số liệu bảng 2.3 cung cấp tôi nhận thấy các nội dung GDMT địa phương

thường xuyên được các thầy cô giáo sử dụng trong dạy học môn TN – XH lớp 3.

Với hệ thống các phương pháp dạy học rất phong phú đa dạng, phù hợp với nội

dung chương trình được thể hiện trong bảng 1.4 dưới đây

Bảng 1.4. Những phương pháp dạy học môn Tư nhiên – Xã hội lớp 3

Phương pháp dạy học

Số lượt chọn

Phương pháp vấn đáp

13

Phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề

12

Phương pháp hoạt động nhóm

9

Phương pháp đóng vai

12

Phương pháp động não

10

Phương pháp thảo luận

13

(Nguồn: Tổng hợp từ các phiếu khảo sát)

11



Những nội dung, phương pháp dạy học lại được tổ chức rất linh hoạt trong

GDMT địa phương. Điều này được thể hiện trong bảng 1.5 sau đây.

Bảng 1.5. Hình thức tổ chức dạy học nào thường xuyên được các thầy cô lưa

chọn để GDMT địa phương trong dạy học môn TN – XH lớp 3

Hình thức

Số lượt chọn

Thơng qua hoạt động ngoại khóa

7

Hoạt động dạy trên lớp

13

Hoạt động lao động và giữ gìn vệ sinh trường lớp

12

Qua bảng số liệu chúng ta nhận thấy hầu như GV đều lựa chọn hình thức

GDMT địa phương trên lớp hoặc qua hoạt động ngoại khóa. Chỉ 7 GV lựa chọn

thơng qua hoạt động ngoại khóa.

Bởi trong quá trình thực hiện các hoạt động ngoại khóa GV gặp phải rất

nhiều những khó khăn.

Trong quá trình dạy học mơn TN – XH thì GV nhận thấy việc GDMT địa

phương nhận được sự hưởng ứng lớn của học sinh, phần lớn các em đều cảm thấy

rất thích thú bởi những vấn đề môi trường quen thuộc tại địa phương mình cư trú.

Điều này cho thấy GV tại Trường Tiểu học Mường tè - huyện Mường Tè, tỉnh

Lai Châu đã được phổ biến về GDMT địa phương trong giảng dạy môn TN- XH.

Một bộ phận lớn GV tại trường Tiểu học Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh

Lai Châu đã quan tâm và thường xuyên kết hợp giảng dạy, liên hệ mở rộng với

GDMT địa phương trong quá trình giảng dạy nội dung bộ môn TN- XH Lớp 3. Việc

kết hợp GDMT địa phương trong dạy học môn TN – XH Lớp 3 sẽ giúp HS có cái

nhìn tổng quát hơn về môi trường tự nhiên thuộc địa bàn huyện, đồng thời trẻ được

tiếp nhận thông tin một cách chủ động và tự nhiên nhất.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề giáo dục môi trường địa phương

trong dạy học môn TN - XH Lớp 3 xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

tôi đã đưa ra một số kết luận như sau :

- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con

người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và

sinh vật.

- Các tác nhân gây hại cho môi trường chủ yếu đều do con người với hoạt động

công nghiệp gây ra.

- Giáo dục môi địa phương là những vấn đề cơ bản hoặc thời sự về văn hoá,

lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, mơi trường,... của địa phương bổ sung cho nội dung

giáo dục bắt buộc chung thống nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học sinh

những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý

12



thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần giải quyết những vấn đề

của q hương.

- Mơn TN-XH tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội, có vai

trò quan trọng trong việc giúp học sinh học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa

lý ở các lớp 4, 5. Góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự

nhiên và khoa học xã hội ở các cấp học trên. Môn học coi trọng việc tổ chức cho HS

trải nghiệm thực tế, tạo cho các em cơ hội tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và xã

hội xung quanh; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự

nhiên và xã hội.



13



CHƯƠNG 2: TÍCH HỢP GIÁO DỤC MƠI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG

TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN –XÃ HỘI LỚP 3 TẠI XÃ

MƯỜNG TÈ, HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

1. Khái quát chung về vấn đề tích hợp giáo dục môi trường địa phương

1.1. Khái niệm về tích hợp giáo dục mơi trường

Tích hợp và lồng ghép: GDMT là giáo dục tổng thể nhằm trang bị những

kiến thức về môi trường cho học sinh – sinh viên những kiến thức về môi trường

thơng qua từng mơn học và chương trình riêng phù hợp với từng đối tượng. Việc

giáo dục này chủ yếu dựa theo phương thức lồng ghép và liên hệ trong các nội dung

giảng dạy của các môn học.



1.2. Các mức độ tích hợp giáo dục mơi trường

Để tích hợp giáo dục môi trường vào các môn học tại cấp Tiểu học , giáo viên

có thể tích hợp thơng qua các mơn học với mức độ như sau:

- Mức độ tồn phần: Mục tiêu và nội dung của bài trùng hợp phần lớn hay

hoàn toàn với nội dung GD BVMT.

- Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần bài học có nội dung GDMT được thể hiện

bằng mục riêng, một đoạn hay một vài câu trong bài học.

- Mức độ liên hệ: Các kiến thức GDMT không được nêu rõ trong sách giáo

khoa nhưng dựa vào kiến thức bài học, giáo viên có thể bổ sung, liên hệ các kiến

thức GDMT.



1.3. Các ngun tắc và hình thức tích hợp

- Tích hợp nội dung giáo dục môi trường địa phương nhưng không làm thay

đổi đặc trưng của môn tự nhiên – xã hội lớp 3 không biến bài học bộ môn thành bài

học GDMT

- Nội dung chương trình cần chú trọng thực hành, hình thành các kỹ năng cơ

bản về BVMT.

- GDMT là một lĩnh vực giáo dục lên nghành, tích hợp vào các môn đặc biệt

là môn TN – XH ở khối lớp 1,2,3.

- Nội dung và mục tiêu , phương pháp của GDMT phải phù hợp với trình độ

phát triển của học sinh cấp học.

- Nội dung chương trình cần phải chú ý khai thác tình hình thực tế mơi

trường địa phương.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI LỚP 3 XÃ MƯỜNG TÈ HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×