Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Các kích thước chiều rộng cung răng phía trước (R33) và phía sau (R66), chiều dài cung răng phía trước (D31) và phía sau (D61) đều lớn nhất ở dạng cung răng hình tam giác, nhỏ nhất ở dạng cung răng hình vuông. Tuy nhiên chỉ có chiều dài cung răng phía s

- Các kích thước chiều rộng cung răng phía trước (R33) và phía sau (R66), chiều dài cung răng phía trước (D31) và phía sau (D61) đều lớn nhất ở dạng cung răng hình tam giác, nhỏ nhất ở dạng cung răng hình vuông. Tuy nhiên chỉ có chiều dài cung răng phía s

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Cung răng



Cung răng



Cung răng



hình vng

X ± SD

r33 (mm)

26,51±2,57

r66 (mm)

47,1±3,89

d31 (mm)

5,61±1,58

d61 (mm)

25,55±3

*Kruskal-Wallis test



hình ơ van

X ± SD

27,11±2,69

47,6±3,68

5,77±2,57

25,36±2,97



hình tam giác

X ± SD

27,4±2,75

47,74±3,36

5,68±2,19

25,68±2,85



Giá trị



p

0,1044

0,3497

0,9407

0,2225



Nhận xét:

- Kích thước trung bình của chiều rộng cung răng hàm dưới (R33, R66)

và chiều dài phía sau (D61) lớn nhất ở cung răng hình tam giác, trong khi

chiều dài phía trước (D31) lớn nhất ở cung răng hình ô van và ngắn nhất ở

cung răng hình vuông.

Bảng 3.20. Kích thước cung răng hàm trên của các loại khớp cắn (n=771)

Giá trị

R33 (mm)

R66 (mm)



CI



CII



CIII



C*



X ± SD



X ± SD



X ± SD



X ± SD



35,98±2,5

9

54,77±3,2



35,99±2,46 36,23±2,68 35,46±2,64

54,98±3,07



54,64±3,3



54,23±3,4



5

5

D31 (mm) 9,51±2,19 9,56±2,03 9,84±1,85 9,35±1,84

D61 (mm) 28,48±3,39 28,19±3,41 28,81±3,36 28,17±3,21

*ANOVA test; **Kruskal-Wallis test



p

0,864*

0,3842**

0,3888**

0,5518**



Nhận xét:

- Tất cả kích thước cung răng hàm trên đều khơng có sự khác biệt giữa

các loại khớp cắn (p>0,05).

Bảng 3.21. Kích thước cung răng hàm dưới của các loại khớp cắn (n=771)

Giá trị



CI



CII



CIII



C*



p



54



X ± SD



r33 (mm)

r66 (mm)

d31 (mm)

d61 (mm)



X ± SD



X ± SD



X ± SD



27,01±2,68 27,36±2,75 27,44±2,76 27,06±2,71

47,61±3,67 47,69±3,14 47,78±3,8 47,23±3,82

5,73±2,29 5,83±2,48 6,49±3,82 5,23±1,61

25,42±2,9 25,52±3,25 25,69±3,07 25,25±2,82



0,6742

0,4748

0,0279

0,7112



*Kruskal-Wallis test

Nhận xét:

Giữa các loại khớp cắn khơng có sự khác biệt về tất cả kích thước cung

răng hàm dưới (p>0,05).



55



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.1.1. Về đối tượng nghiên cứu

Qua khám sàng lọc, chúng tôi chọn được 771 trẻ em 12 tuổi đưa vào

danh sách nghiên cứu để tiến hành lấy mẫu và đo đạc các chỉ số. Mẫu

nghiên cứu gồm 771 mẫu hàm của 404 trẻ nam và 367 trẻ nữ. Sự chênh

lệch giữa nam và nữ như vậy là không đáng kể, phù hợp để so sánh các

biến giữa hai giới.

Lứa tuổi 12 được lựa chọn là lứa tuổi mà các răng đã mọc tương đối đầy

đủ và ổn định trên cung hàm, thích hợp để nghiên cứu về đặc điểm hình thái

cung răng. Nghiên cứu cũng đưa ra các tiêu chuẩn về mặt như: khơng có dị

dạng hàm mặt, khơng có tiền sử chấn thương hay phẫu thuật vùng hàm mặt,

cũng như các tiêu chuẩn về răng và cung răng: đã thay hết răng sữa và mọc đủ

chiều cao răng vĩnh viễn, khơng có các phục hình, tổn thương tổ chức cứng

làm thay đổi chiều gần xa của thân răng, chưa điều trị nắn chỉnh răng và các

phẫu thuật tạo hình khác. Các tiêu chuẩn khắt khe này được đặt ra để đảm bảo

các số liệu đo được về đặc điểm khớp cắn, hình dạng cung răng, kích thước

cung răng là đại diện cho trẻ em dân tộc thiểu số tuổi 12 tại Việt Nam.

4.1.2. Về phương pháp đo

Để thuận tiện và đảm bảo tính chính xác khi đo đạc các kích thước cung

răng, chúng tơi áp dụng phương pháp lấy mẫu và đo trên mẫu hàm thạch cao.

Đây là phương pháp được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt

Nam [31],[35],[36],[37]. Để đảm bảo tính chính xác, các dụng cụ đo đạc và

phần mềm đo đạc đều là các dụng cụ và phần mềm chuyên dụng với độ chính

xác cao, việc xác định các điểm mốc và đo đạc được thực hiện bởi 1 người

duy nhất.



56



Mỗi mẫu đều được đo hai lần, kết quả lấy trung bình, các lần đo được

thực hiện theo cùng một quy trình và tiêu chuẩn, trong cùng điều kiện, sử

dụng 1 dụng cụ trong cả quá trình nghiên cứu. Để tránh việc không thống nhất

trong kỹ thuật đo, việc đo đạc được thực hiện trong một thời gian ngắn, mỗi

ngày đo không quá nhiều mẫu tránh sai số do mỏi.

4.2. Thực trạng khớp cắn ở trẻ em dân tộc Thái 12 tuổi tại tỉnh Sơn La

năm 2016- 2017

4.2.1. Tỉ lệ các loại khớp cắn

Khớp cắn bình thường theo định nghĩa của Angle là đỉnh múi gần ngoài

của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh giữa ngoài của răng hàm

lớn thứ nhất hàm dưới, và các răng sắp xếp theo đường cắn. Khớp cắn có thể

khác nhau theo đặc điểm mỗi cá nhân, độ tuổi, chủng tộc, giới tính, nhóm sắc

tộc. Nó có thể là kết quả của sự đa dạng ở hình thể và kích thước răng, vị trí

mọc của răng, trình tự và thời gian mọc răng, hình dạng và kích thước cung

răng hoặc là hình mẫu của sự phát triển hệ thống sọ mặt.

Phân loại khớp cắn theo Angle trong số 771 đối tượng nghiên cứu của

chúng tôi cho thấy: tỉ lệ khớp cắn loại I chiếm nhiều nhất (62,7%), tiếp đến là

tỉ lệ khớp cắn loại C*, loại II và loại III chiếm tỉ lệ thấp hơn, lần lượt là

15,4%, 12,3%, 9,6%. Trong đó, trẻ nữ có tỉ lệ CI và C* cao hơn trẻ nam,

ngược lại tỉ lệ CII và CIII của nữ lại thấp hơn của nam.

So sánh với các tác giả khác cùng nghiên cứu về khớp cắn của trẻ em lứa

tuổi này, theo nghiên cứu của Hoàng Thị Bạch Dương năm 2000 tỉ lệ lệch lạc

răng hàm của học sinh lớp 6 tại một trường ở Hà Nội là 91% [1], theo Đồng

Khắc Thẩm [38] tỉ lệ sai khớp cắn của người Việt là 83,2%. Con số này trên

thế giới cũng khá cao: tại Trung Quốc tỉ lệ sai khớp cắn ở tuổi 12-14 là

92,9%, tại Canada có 61% sai khớp cắn ở tuổi 10-15 [39].



57



So sánh với lứa tuổi trưởng thành ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Tạ

Ngọc Nghĩa cho thấy sai khớp cắn loại I cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (70%), sai

khớp cắn loại II và III đều chiếm xấp xỉ khoảng 9% [40]. Trên thế giới, một số

các tác giả khác như Aikins E.A. và Onyeaso C.O. [41] trên người Nigeria, Dr

Shrestha S. [42], Sharma J.N. [43] cũng cho kết quả khớp cắn loại I chiếm tỉ lệ

cao nhất trong cộng đồng, nhóm sai khớp cắn loại III có tỉ lệ thấp nhất.

Sự khác biệt về tỉ lệ các loại khớp cắn giữa nam và nữ cũng có ý nghĩa

thống kê. Ta thấy tỉ lệ trẻ nữ có khớp cắn loại I và khớp cắn hỗn hợp cao hơn

trẻ nam, trong khi tỉ lệ CII và CIII của nữ thấp hơn của nam.

Trong quá trình phát triển bộ răng vĩnh viễn từ bộ răng hỗn hợp sẽ có sự

di gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới tạo nên tương quan khớp cắn loại

I theo Angle. Nhưng có thể vì một lý do nào đó như kích thước răng bất

thường, hay do mất sớm các răng, do sâu răng bệnh lý…dẫn đến hình thành

tương quan khớp cắn loại II hoặc loại III. Hoặc do sự bất tương xứng về kích

thước giữa xương hàm trên và xương hàm dưới hình thành tương quan khớp

cắn loại II hay loại III, từ đó cũng dẫn đến sự hình thành sai khớp cắn. Tuy

nhiên những loại sai khớp cắn này chiếm tỉ lệ nhỏ, khớp cắn chủ yếu là khớp

cắn loại I.

Sai khớp cắn không phải là một bệnh lý mà nó chỉ là một sự bất thường

thuộc quá trình phát triển của răng hoặc cung răng, kết quả của các yếu tố

nguyên nhân khác nhau dẫn tới sự khơng hài hồ về thẩm mỹ và khơng phù

hợp về chức năng. Sai khớp cắn đã ảnh hưởng tới sinh lý cũng như tâm lý của

con người như là hậu quả của việc nó đã tác động tới chất lượng của cuộc

sống. Bên cạnh đó nó còn cộng thêm gánh nặng về mặt kinh tế như việc điều

trị chỉnh nha, một trong những vấn đề răng miệng có giá thành điều trị đắt đỏ

nhất. Theo tổ chức Y tế thế giới thì sai khớp cắn xảy ra với phần lớn dân số và

nó được cho rằng là một trong những vấn đề sức khỏe răng miệng chính.



58



4.2.2. Độ cắn chùm và độ cắn chìa

Nghiên cứu của chúng tơi chỉ ra rằng, trong số 771 đối tượng nghiên

cứu, có 88,6% đối tượng có độ cắn chùm nằm trong giới hạn bình thường

(bảng 3.4), 88,5% đối tượng có độ cắn chìa nằm trong giới hạn bình thường.

Ít trường hợp nào có độ cắn chùm và cắn chìa ở dưới giới hạn bình thường,

<0mm (bảng 3.5).

So sánh với nghiên cứu của Shrestha S. (2013) [42] trên người Nepal thì

ta thấy tỉ lệ cắn độ cắn chìa bình thường (56,2%), tỉ lệ độ cắn chùm bình

thường chiếm (88,5%) thấp hơn tỉ lệ của chúng tôi.

Theo nghiên cứu của Aikins E.A. (2015) trên người Nigieria thì tỉ lệ độ

cắn chìa bình thường 69,2%; độ cắn chùm bình thường là 55,5% [41]. Một số

các nghiên cứu khác trên người Nigeria cũng cho kết quả khá tương đồng với

nghiên cứu của AikinsE.A. Nghiên cứu ở bệnh viện Benin tỉ lệ khớp cắn có

độ cắn chìa bình thường là 68,3%; ở phía bắc Nigeria con số này là 69,5%

[41]. Theo nghiên cứu của Jamilian A. và cộng sự (2014) [44] tại Nepal, độ

cắn chìa bình thường chiếm 67%, độ cắn chùm bình thường chiếm 69,7%.

Như vậy các tỉ lệ về độ cắn chìa, độ cắn chùm bình thường của người Nigieria

và người Iran đều nhỏ hơn so với người Việt trong nghiên cứu của chúng tôi.

Điều này có thể lí giải được do tỉ lệ khớp cắn bình thường và loại I trong

nghiên cứu của chúng tơi khá cao (62,7%) nên tỉ lệ độ cắn chùm và độ cắn

chìa trong giới hạn bình thường cũng có tỉ lệ cao.

Theo thống kê của chúng tôi, độ cắn chùm ở nam trong nhóm đối tượng

khớp cắn loại C* có giá trị lớn nhất. Ở nữ, giá trị này lớn nhất ở đối tượng

khớp cắn loại II. Độ cắn chìa ở nhóm đối tượng khớp cắn loại II có giá trị lớn

nhất ở cả nam và nữ. Có thể thấy có sự khác biệt trong mức độ cắn chùm và

cắn chìa giữa các loại khớp cắn khác nhau cũng như giữa hai giới tính, tuy

nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (p<0,05).



59



4.2.3. Khoảng chênh lệch

Theo bảng 3.6 và 3.8 có thể thấy có sự khác nhau trong khoảng chênh

lệch cả hàm trên và hàm dưới giữa giới nam và giới nữ. Trong đó, ở hàm trên,

khoảng chênh lệch khớp cắn loại hỗn hợp ở nam có giá trị lớn nhất trong khi

ở nữ là khoảng chênh lệch ở khớp cắn loại II.Ở hàm dưới, khoảng chênh lệch

khớp cắn loại III cao nhất ở nam, còn ở nữ là khoảng chênh lệch khớp cắn

loại II.

Chúng tôi nhận thấy ở khớp cắn loại I, mức độ chênh lệch khoảng chủ

yếu là khoảng âm đối với cả hàm trên và hàm dưới. Mức độ chênh lệch

khoảng 2-6mm có tỉ lệ tương đối với 23,0% ở hàm trên và 26,9% ở hàm dưới,

các khoảng còn lại có tỉ lệ thấp hơn. Mức độ chênh lệch khoảng ở sai khớp

cắn lại I là không quá nghiêm trọng.

Ở các trường hợp sai khớp cắn loại II, mức chênh lệch khoảng âm cũng

chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả hàm trên (37,9%) và hàm dưới (30,5%). Khoảng

chênh lệch trên 6mm chiếm tỉ lệ tương đối cao với 28,4% ở hàm trên và

30,5% ở hàm dưới và phân bố đều ở các khoảng còn lại. Có thể thấy mức độ

chênh lệch khoảng hàm trên và hàm dưới ở sai khớp cắn loại II là khá lớn.

Ở sai khớp cắn loại III, mức độ chênh lệch khoảng âm cũng gặp nhiều

nhất với 40,5% ở hàm trên và 37,8% ở hàm dưới. Sau đó là khoảng 2-6mm

với 22,3% ở hàm trên và 29,7% ở hàm dưới. Mức độ chênh lệch trên 6mm

cũng có tỉ lệ đáng kể ở các trường hợp sai khớp cắn loại III (23%), tuy nhiên

thấp hơn khi so với khớp cắn loại II.

Qua phân tích các nhóm khớp cắn, ta thấy khớp cắn loại II có mức độ

thiếu khoảng nhiều nhất, tiếp đến là khớp cắn loại III. Khớp cắn loại I có mức

độ chen chúc răng hay sự thiếu khoảng khơng đáng kể.



60



4.3. Một số kích thước cung răng hai hàm theo tình trạng lệch lạc khớp

cắn của đối tượng trên

4.3.1. Hình dạng cung răng

Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy, trong nhóm đối tượng nghiên cứu của

chúng tơi, hình dạng cung răng hay gặp là hình oval (70,2% ở hàm trên và

73,4% ở hàm dưới). Hình dạng cung răng ít gặp nhất là hình vng (9,5% ở

hàm trên và 9,3% ở hàm dưới). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng

với nghiên cứu của Nguyễn Tài Long cùng trên đối tượng trẻ em 12 tuổi

người dân tộc Thái năm 2017[31] với tỷ lệ cung răng hình oval là cao nhất.

Nghiên cứu trên nhóm dân tộc Kinh 12 tuổi của Lâm Thị Huyền Trang [37]

cũng cho kết quả tương tự với tỷ lệ cung răng hình oval chiếm 58% (hàm

trên), 54,6% (hàm dưới). Tuy nhiên các nghiên cứu trên lại cho thấy tỷ lệ

cung răng ít gặp nhất là hình tam giác (xấp xỉ 5% ở hai hàm), trong khi tỉ lệ

cung răng hình tam giác ở nghiên cứu của chúng tôi là 20,3% ở hàm trên và

17,3% ở hàm dưới.

So với lứa tuổi trưởng thành, nghiên cứu kích thước cung răng ở sinh

viên đại học Y Hải Phòng của Nguyễn Thị Thu Phương và Võ Trương Như

Ngọc năm 2012 [25] chỉ ra rằng: 57% cung răng dạng oval, 39,3% dạng hình

vng và 3,7% dạng tam giác.

Nghiên cứu của Hồng Tử Hùng và Trần Mỹ Thúy [34]: cung răng dạng

hình vuông và oval là 92%, dạng tam giác là 8%.

Kết quả nghiên cứu của Lê Hồ Phương Trang [26]: 61,5% cung

răng dạng oval, 19,7% cung răng dạng hình vng, 18,8% cung răng dạng

tam giác.



61



Bảng 4.1. So sánh kết quả hình dạng cung răng người trưởng thành

của một số tác giả trong nước



Nguyễn Thị Thu Phương [25]

Lê Hồ Phương Trang [26]

Hoàng Tử Hùng [34]

Đặng Thị Vỹ [45]

Tống Minh Sơn, Hoàng Việt Hải [46]



Hình



Hình



Hình



oval



vng



57%

61,5%



39,3%

19,7%



tam giác

3,7%

18,8%

8%

18%

15%



92%

34%

29,81%



58%

55,19%



Kết quả của chúng tơi khá tương đồng với kết quả nghiên cứu trên

người trưởng thành tại Việt Nam. Lứa tuổi 12 là thời điểm đỉnh tăng trưởng

trong sự phát triển của xương hàm, đóng vai trò quan trong trong sự hình

thành cung răng. Hình dạng cung răng ở thời điểm này đã tương đối ổn định,

có ít sự thay đổi về hình dạng cung răng từ lứa tuổi 12 đến tuổi trưởng thành.

Về sự khác biệt hình dạng cung răng giữa hai giới, kết quả bảng 3.6 và

3.7 của chúng tơi cho thấy khơng có sự khác biệt về các dạng cung răng cả

hàm trên và dưới giữa hai giới. Kết quả này cũng tương tự với kết quả của các

tác giả khác khi nghiên cứu trên lứa tuổi 12 như của Lâm Thị Huyền Trang

[37] và Nguyễn Tài Long [31], cũng như các tác giả đã nghiên cứu trên người

trưởng thành [34],[45],[46]. Người Việt Nam với cùng điều kiện địa lý và

chủng tộc khơng có sự khác biệt về hình dạng cung răng giữa nam và nữ,

cũng như ít có thay đổi từ lứa tuổi 12 đến lứa tuổi trưởng thành.

Trên thế giới, tác giả Othman S.A. và cộng sự (2012) [47] nghiên cứu

trên 249 người Malaysia đã đưa ra kết quả về tỉ lệ cung răng: ở hàm trên hình

dạng oval chiếm tỉ lệ cao nhất (60%), sau đó là dạng hình vng và dạng hình

tam giác lần lượt là 39% và 1%. Ở nam và nữ, hình dạng cung răng hình oval

đều chiếm tỉ lệ cao nhất, thấp nhất là hình vng. Đối với hàm dưới, hình

dạng cung răng tam giác lại chiếm tỉ lệ cao nhất (56%), dạng oval ít gặp hơn



62



(40%), dạng hình vng chiếm ít nhất (4%). Cung răng dạng hình oval ở nữ

gặp nhiều hơn hình tam giác, trong khi ở nam thì ngược lại.

Theo Sylla B. nghiên cứu trên nhóm trẻ 12 tuổi tại Senegal, tỉ lệ cung răng

có dạng oval là cao nhất (61,98%), dạng hình tam giác chiếm ít nhất 16,6% [48].

Cũng trên đối tượng trẻ 12 tuổi tại Senegal, tác giả Diop K. lại đưa ra

kết quả khác, với hàm trên: dạng oval là cao nhất (41,8%), hình vng chiếm

thấp nhất (26,1%), ngược lại ở hàm dưới: tỉ lệ cung răng hình tam giác là

nhiều nhất (70%), hình oval là 17,6%, hình vng là 10,5% [49].



Biểu đồ 4.1. So sánh tỉ lệ hình dạng cung răng hàm trên với các tác giả

[37],[49],[50],[51]

Nghiên cứu trên đối tượng trẻ em người Brazil của tác giả Louly F. và

cộng sự (2010) cho thấy, tỉ lệ cung răng có dạng oval chiếm nhiều nhất

(86,4%), dạng tam giác chiếm ít nhất (6%), trong đó ở nam và nữ đều gặp

dạng oval nhiều nhất, đối tượng nam có tỷ lệ cung răng dạng tam giác ít nhất

(3,5%) trong khi ở nữ cung răng dạng vuông và dạng tam giác tương đương

nhau (8,1%) [50].

Qua các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, đối với hàm trên có thể

nhận thấy cung răng có hình dạng oval chiếm tỉ lệ cao nhất, cung răng có hình



63



dạng vng và tam giác chiếm tỉ lệ thấp hơn. Kết quả các nghiên cứu của các

tác giả trong nước cũng cho kết quả tương tự.



Biểu đồ 4.2. So sánh tỉ lệ hình dạng cung răng hàm dưới với các tác giả

[37],[49],[50],[51]

Tuy nhiên, tỉ lệ hình dạng cung răng hàm dưới có sự khác biệt giữa các

nghiên cứu với nhau. Ở nghiên cứu trên đối tượng trẻ em người Việt và người

Brazil, tỉ lệ cung răng hàm dưới dạng oval là cao nhất, trong khi ở nghiên cứu

trên đối tượng trẻ em người Malaysia và người Senegal, tỉ lệ cung răng có

dạng tam giác lại cao nhất. Như vậy ta có thể thấy hình dạng cung răng giữa

các quốc gia, dân tộc khác nhau là rất khác nhau. Ở người châu Á thì dạng

cung răng hình ơ van và hình vng chiếm đa số, nhưng ở một số nước châu

Âu thì dạng cung răng chủ yếu lại là dạng tam giác.

Hình dạng cung răng chủ yếu và kích thước cung răng trung bình của

các dân tộc khác nhau phải được cân nhắc kĩ khi lựa chọn dây cung cho bệnh

nhân. Các nhà sản xuất làm ra dây cung đều dựa theo hình dạng và kích thước

cung răng trung bình của nhóm dân tộc nào đấy, nên ta khơng thể dùng chung

một loại dây cung mà cho tất cả mọi người của các dân tộc khác nhau được.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Các kích thước chiều rộng cung răng phía trước (R33) và phía sau (R66), chiều dài cung răng phía trước (D31) và phía sau (D61) đều lớn nhất ở dạng cung răng hình tam giác, nhỏ nhất ở dạng cung răng hình vuông. Tuy nhiên chỉ có chiều dài cung răng phía s

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×