Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Hai chỉ số mMRC và điểm SGRQ có mối tương quan chặt chẽ với nhau với p<0,05.

Nhận xét: Hai chỉ số mMRC và điểm SGRQ có mối tương quan chặt chẽ với nhau với p<0,05.

Tải bản đầy đủ - 0trang

46



3.4.6. Sự tương quan giữa chức năng hô hấp với điểm SGRQ

Bảng 3.22. Sự tương quan giữa chức năng hô hấp với điểm SGRQ



FVC(lít)

FEV1(lít)

FEV1/FVC



Trước(n=31)

SGRQ

p

r

0,01

-0,455

0,004

-0,498

0,326

-0,182



Sau (n=27)

SGRQ

p

0,008

0,003

0,086



r

-0,499

-0,549

-0,336



Nhận xét: Hai chỉ số FEV1 (lít), FVC (lít) và điểm SGRQ có mối tương quan

chặt chẽ với nhau với p<0,01 còn chỉ số FEV1/FVC (%) có mối tương quan

yếu với điểm SGRQ trước và sau can thiệp với p>0,05.

3.4.7. Sự tương quan giữa FEV1 với điểm SGRQ

Bảng 3.23. Sự tương quan giữa FEV1 với điểm từng lĩnh vực của SGRQ

SGRQ

Triệu chứng

Thể chất

Xã hội



Trước (n=31)

FEV1(lít)

p

r

0,006

-0,486

0,005

-0,491

0,19

-0,419



Sau (n=27)

FEV1(lít)

p

0,014

0,002

0,028



r

-0,468

-0,56

-0,423



Nhận xét: Hai chỉ số FEV1 và điểm từng lĩnh vực của bảng điểm St George

có mối tương quan chặt chẽ với nhau với p<0,05. Trong 3 lĩnh vực, FEV1

tương quan chặt chẽ nhất với lĩnh vực hoạt động thể chất gây khó thở, tương

quan ít chặt chẽ hơn cả là với lĩnh vực ảnh hưởng xã hội của bệnh GPQ.



3.4.8. Sự tương quan giữa khoảng cách đi bộ 6 phút với điểm SGRQ

Bảng 3.24. Sự tương quan giữa khoảng cách đi bộ 6 phút với điểm SGRQ



47



(n=31)



Trước



Sau



SGRQ



SGRQ



Khoảng cách



p



r



p



r



đi bộ 6 phút



0,000



-0,713



0,000



-0,672



Phương trình

tương quan



KC6p=-3,8 x SGRQ + 439,5



KC6p=-4xSGRQ + 446,4



Nhận xét: Hai chỉ số khoảng cách đi bộ 6 phút và điểm SGRQ có mối tương

quan chặt chẽ với nhau với p<0,01.

3.4.9. Sự tương quan giữa tuổi với điểm SGRQ

Bảng 3.25. Sự tương quan giữa tuổi với điểm SGRQ



n = 31



Tuổi



Trước



Sau



SGRQ



SGRQ



p



r



p



r



0,412



0,153



0,64



0,087



Nhận xét: Tuổi của bệnh nhân khơng có mối tương quan tuyến tính với

điểm SGRQ, với p>0,05.



3.4.10. Sự tương quan giữa BMI với điểm SGRQ

Bảng 3.26. Sự tương quan giữa BMI với điểm SGRQ

n = 31

BMI



Trước

SGRQ

p

0,205



Sau

SGRQ

r

-0,234



p

0,361



r

-0,170



48



Nhận xét: BMI của bệnh nhân khơng có mối tương quan chặt với điểm

SGRQ, với p>0,05.

3.4.11. Sự tương quan giữa số ngày nằm viện với điểm SGRQ

Bảng 3.27. Sự tương quan giữa số ngày nằm viện với điểm SGRQ

Trước

SGRQ



n = 31

P

0,198



Số ngày nằm viện



Sau

SGRQ

r

0,238



p

0,795



r

0,049



Nhận xét: số ngày nằm viện của bệnh nhân khơng có mối tương quan tuyến

tính với điểm SGRQ, với p>0,05.

3.4.12. Sự tương quan giữa tổn thương phổi trên

CTscanner với điểm SGRQ

Bảng 3.28. Sự tương quan giữa tổn thương phổi trên

CTscanner với điểm SGRQ

Trước

SGRQ



n = 31

Tổn thương

phổi trên CT



Sau

SGRQ



p



r



p



r



0,763



0,056



0,257



0,21



Nhận xét: Mức độ tổn thương phổi 1 bên hay 2 bên trên phim CT scanner

ngực với điểm SGRQ khơng có mối tương quan chặt chẽ với p>0,05.



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

4.1.1. Tuổi, giới

Giãn phế quản là bệnh trước đây ít được chú ý do số lượng bệnh nhân



49



không nhiều, hiểu biết về bệnh vì thế cũng ít được quan tâm. Theo J. D.

Chalmers và CS (2016) GPQ là bệnh bị bỏ quên nhiều nhất trong các bệnh hô

hấp [46]. Nhưng những thập kỉ gần đây với sự phát triển của khoa học kĩ thuật

và y tế số lượng bệnh nhân GPQ đã được phát hiện, điều trị gia tăng đáng kể,

đặc biệt ở các nước đang phát triển [47], [48]. Đã có nhiều nghiên cứu để hiểu

hơn về bệnh GPQ và chất lượng chăm sóc sức khỏe được hiệu quả hơn. Qua các

nghiên cứu độ tuổi trung bình của bệnh rất đa dạng. Trong nghiên cứu của chúng

tôi, độ tuổi trung bình là 61,84 tuổi (26 – 83 tuổi), tương đương với độ tuổi trung

bình trong nghiên cứu của H. K. Ong và CS (2011) là 67 tuổi [49], A. L. Lee và

CS (2011) là 63 tuổi [50], M-Y.Liaw và CS (2011) là 64,5±10,4 [51],

F.S.Guimarães và CS (2012) là 60 tuổi [52], G. Moz và CS (2018) tuổi trung

bình 63,1 [53]. Nhưng thấp hơn độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của

Martinez Garcia và CS (2007) là 69,9 tuổi [22], A Zanini và CS (2015) là 71

tuổi [54]. Cao hơn độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của S. Naraparaju và CS

(2010) là 50,7±6,4 [55], M. Van Zeller và CS (2012) là 54 tuổi [41], F. O.

Eyuboglu và CS (2011) là 56±25 [47].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ nam nữ là tương đương nhau

48,4% nam, 51,6% nữ. Kết quả này cũng tương đương với tỉ lệ nghiên cứu

của M. Van Zeller và CS (2012) 48,8% nam giới, 51,2% nữ giới [41],

nghiên cứu của Martinez Garcia và CS (2007) 48,7% nam giới, 51,3% nữ

giới [22], nghiên cứu của A. Zanini và CS (2015) 45,4% nam giới, 54,6%

nữ giới [54], nghiên cứu của F. O. Eyuboglu và CS (2011) 45,7% nam giới,

54,3% nữ giới [47], nghiên cứu của S. Aliberti và CS (2016) 40% nam giới,

60% nữ giới [56]. Nhưng trong nghiên cứu với cỡ mẫu lớn của S.Aliberti và

CS (2016) thì tỉ lệ nam nữ có sự khác biệt, 71% là nữ giới, 29% nam giới

[57], của Z.P.Onen và CS (2007) 74% là nữ giới, 26% nam giới [58]. Thời kỳ

chưa có kháng sinh thì bệnh nhân GPQ thường tử vong khi còn trẻ, với thời



50



đại hiện nay nền y tế phát triển thì tỉ lệ sống của bệnh nhân đã tăng lên

nhiều và độ tuổi trung bình của bệnh cũng đã cao hơn.

4.1.2. BMI

BMI được tính theo công thức BMI = Cân nặng(kg)/ chiều cao 2 (m2)

Trong số 31 bệnh nhân nghiên cứu có 54,8% có BMI mức bình thường, BMI

trung bình là 20,1 ± 3 kg/m 2, kết quả này tương đương kết quả nghiên cứu của

M. Van Zeller và CS (2012) chỉ số khối lượng cơ thể ban đầu trung bình là 23,8

kg/m2 [41], BMI của A. L. Lee và CS (2011) là 24,7 kg/m2 [50], của G.Muñoz

và CS (2018) là 24,3 [53]. Nhưng thấp hơn nghiên cứu của A. Zanini và CS

(2015) BMI 26 ± 5 [54], của H. K. Ong và CS (2011) BMI là 27,1 [49].

4.1.3.Tiền sử

Tiền sử bệnh: theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi, tỉ lệ bệnh nhân

GPQ có tiền sử bị COPD gặp nhiều nhất 45,2%, điều này cũng phù hợp với

một số nghiên cứu trên thế giới về sự chồng lấp giữa 2 bệnh, rằng liệu

COPD có phải là nguyên nhân của GPQ hay không, cách phân biệt nguyên

nhân và hệ quả giữa COPD – GPQ vẫn chưa được rõ ràng, còn nhiều tranh

luận, tỉ lệ hai bệnh tồn tại cùng nhau là cao [46], [59], [60]. Và cũng có thể do

tỉ lệ bệnh nhân COPD gặp nhiều trong nhóm bệnh phổi, tỉ lệ lao phổi ít gặp

hơn do sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu.

Tiền sử hút thuốc lá: 31 bệnh nhân trong nghiên cứu thì có 67,7% bệnh

nhân khơng hút thuốc lá, tỉ lệ này tương đương với nghiên cứu của F. O.

Eyuboglu và CS (2011) có 65,8% khơng hút thuốc lá [47], nghiên cứu của Z.

P. Onen và CS (2007) 75% không hút thuốc lá [58]. Đặc điểm này phù hợp

với y văn đã ghi 80% bệnh nhân GPQ không liên quan tới hút thuốc lá.

4.1.4. mMRC



51



mMRC (Modified Medical Research Council) là bảng câu hỏi của Hội

đồng Nghiên cứu Y khoa đã được sửa đổi dựa trên mức độ nghiêm trọng

của triệu chứng khó thở, có 5 mức độ từ 0 tới 4. 31 bệnh nhân trong nghiên

cứu của chúng tơi điểm khó thở mMRC 2 có 32,3%, khơng có mức độ khó

thở mMRC 4, mức cao nhất, có tới 29% bệnh nhân có mMRC mức 0, mức

thấp nhất ít ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tương tự

một phần kết quả nghiên cứu của Z. P. Onen và CS (2007) có 57,1% là

mMRC 2 do cỡ mẫu lớn [58], Vũ Sơn Hà (2014) [43] chủ yếu là mMRC 2,

không có mMRC 0 và 4 do đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân COPD.

4.1.5. Lý do vào viện và số ngày nằm viện

Trong 31 bệnh nhân nghiên cứu lý do làm cho bệnh nhân vào viện

nhiều nhất là ho có đờm 74,2%, tiếp đến là khó thở 67,7%, vì cả 3 lý do ho có

đờm, khó thở, sốt là 22,6%. Điều này cũng phù hợp với triệu chứng chính của

bệnh GPQ đã được mô tả trong y văn. Bệnh nhân GPQ bị ảnh hưởng nhiều

bởi các triệu chứng ho có đờm và khó thở.

Số ngày nằm viện trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 11,3. Số

ngày nằm viện trong giới hạn khuyến cáo 14 ngày điều trị kháng sinh [5],

[10], [61].



4.2. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp trên bệnh nhân qua các chỉ

số lâm sàng

4.2.1. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp trên chỉ số mMRC

Thang đo khó thở mMRC để đánh giá mức độ khó thở của bệnh nhân rất

dễ áp dụng trong lâm sàng cho nhân viên y tế, bệnh nhân cũng dễ hiểu dễ hình

dung về tình trạng bệnh của mình từ đó có sự thay đổi trong các thực hành



52



hàng ngày để kiểm sốt tình trạng khó thở. Thang đo mMRC đã được chuẩn

hóa và có nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân COPD, nhưng trên bệnh nhân GPQ

thì vẫn ít nghiên cứu. Cải thiện mức độ khó thở giúp cho bệnh nhân có chất

lượng cuộc sống tốt hơn. Trong nghiên cứu của chúng tơi sau PHCNHH mức

độ khó thở mMRC có sự cải thiện rất tốt. Điểm trung bình mMRC trước can

thiệp là 1,42 ± 1,1; sau can thiệp là 1,03 ± 1,08, số bệnh nhân thuộc nhóm

mMRC 0 và mMRC 1 tăng lên từ 48,4 % lên 67,7%, bệnh nhân thuộc nhóm

mMRC 2 và mMRC 3 giảm từ 52,6% xuống còn 32,3%, sự thay đổi có ý nghĩa

thống kê với p:0,001. Kết quả này cũng tương tự kết quả của Vũ Sơn Hà

(2014) sau can thiệp có sự cải thiện rất tốt về chỉ số mMRC, nhóm mMRC 2,3

giảm từ 71% trước can thiệp còn 48,4% sau can thiệp, nhóm mMRC 1 tăng

29% lên 51,6% sau can thiệp [43], và nghiên cứu của A. L. Lee và CS (2014)

sau phục hồi chức năng hơ hấp có sự cải thiện mức độ khó thở [50].

4.2.2. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp trên chỉ số nhịp tim

Nhịp tim là chỉ số bị chi phối bởi nhiều yếu tố. Những bệnh nhân bệnh

phổi mạn tính đều làm cho nhịp tim tăng tần số do bản chất bệnh hoăc do một số

thuốc sử dụng. Đặc biệt ở những người có mức độ khó thở nhiều, nhịp tim phản

ánh cả bệnh tim mạch và tình trạng tồn thân. Trong nghiên cứu của chúng tôi

nhịp tim sau can thiệp thay đổi khơng có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cũng

tương tự kết quả của M. C. Mazzocco và CS (1985) [62] sau can thiệp phục hồi

chức năng hô hấp sự thay đổi nhịp tim khơng có ý nghĩa thống kê. Có thể giải

thích là do trong số các bệnh nhân nghiên cứu có các bệnh đồng mắc như THA,

tâm phế mạn, ĐTĐ typ 2, nhịp nhanh xoang đều có ảnh hưởng tới tim mạch, nên

chỉ số nhịp tim không phản ánh được hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp.

4.2.3. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp trên chức năng hô hấp

Đo chức năng hô hấp là thăm dò cận lâm sàng thường được dùng để



53



chẩn đốn và theo dõi đánh giá mức độ nặng nhẹ, đánh giá hiệu quả điều trị

và hiệu quả can thiệp của bệnh lý hơ hấp mạn tính. Đo chức năng hơ hấp rất

có giá trị trong bệnh GPQ, đặc biệt là với bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật để

tiên lượng rủi ro trước khi phẫu thuật. Trong nghiên cứu của chúng tơi có sử

dụng kết quả đo chức năng hơ hấp để đánh giá hiệu quả của phục hồi chức

năng hô hấp. Trong số 31 bệnh nhân nghiên cứu, sự thay đổi chức năng hô

hấp trước và sau can thiệp khơng có ý nghĩa thống kê, p>0,05. FEV1% trước

can thiệp là 44±18,3; sau can thiệp là 46±20. FVC% trước can thiệp là

57,9±16,3; sau can thiệp là 59,7±16,2. FEV1/FVC% trước can thiệp là

58±11,6; sau can thiệp là 59,6±12. Kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của

M. Van Zeller và CS (2012) trung bình FEV1%, FVC %, FEV1 / FVC khơng

thay đổi đáng kể sau PHCNHH [41]. Nghiên cứu của M. P. Murray và CS

(2009) [63] cũng khơng có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê sau PHCNHH.

Nghiên cứu của B.Herrero-Cortina và CS (2015) trên 31 bệnh nhân cũng

khơng có sự thay đổi về chức năng hô hấp sau can thiệp [64]. Nghiên cứu của

P. Mandal và CS (2012) [40], khơng có sự cải thiện về chức năng hơ hấp:

FEV1, FVC sau can thiệp. Nghiên cứu của T. Eaton và CS (2007) cũng khơng

có cải thiện chức năng hơ hấp sau can thiệp [65]. Nghiên cứu của Muñoz G và

CS (2018) [53] khơng có sự cải thiện về FEV1 trước và sau can thiệp. Nghiên

cứu của F. S. Guimarães và CS (2012) cũng không cải thiện chức năng hô hấp

trước và sau can thiệp [52]. Có thể bệnh nhân GPQ trẻ hơn, duy trì hoạt

động thể lực tốt hơn bệnh nhân COPD, cần những bài tập thể dục cường độ

lớn hơn để thay đổi chức năng hơ hấp, có thể thời gian 8 tuần chưa đủ để

có những sự cải thiện về chức năng hô hấp, cần thời gian dài hơn nữa để

đánh giá kết quả đo chức năng hô hấp [41]. Cần thời gian bao lâu thì chúng

tơi chưa tìm thấy tài liệu nói về số cụ thể, cần phải có thêm nhiều nghiên

cứu nữa để đánh giá.



54



4.2.4. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp trên khoảng cách đi bộ 6 phút

Nghiệm pháp đi bộ 6 phút là một thước đo đáng tin cậy cho những

người có bệnh phổi mạn tính đã được cơng nhận rộng rãi có ý nghĩa trong

theo dõi đánh giá hiệu quả của can thiệp. Nghiệm pháp đi bộ 6 phút đã

được chuẩn hóa và hướng dẫn thực hiện trong tài liệu của Hội lồng ngực

Hoa Kỳ năm 2002. Kết quả nghiệm pháp đi bộ 6 phút tương quan với chức

năng phổi, chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khỏe, khả năng gắng sức

tập thể dục. Hầu hết các nghiên cứu lâm sàng sử dụng nghiệm pháp đi bộ 6

phút đều báo cáo có sự cải thiện khoảng cách đi bộ 6 phút có ý nghĩa thống

kê [66], [67].

Nghiên cứu của chúng tơi cũng có sự cải thiện khoảng cách đi bộ 6

phút sau can thiệp 8 tuần là 47,4±53,8 mét, trước can thiệp khoảng cách đi bộ

là 289,8 ± 91,2 mét, sau can thiệp khoảng cách đi bộ 6 phút tăng lên 337,1±94

mét. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu

của A. L. Lee và CS (2014) cải thiện khoảng cách đi bộ 6 phút trung bình

41m [50]. Tốt hơn nghiên cứu của A. Zanini và CS (2005) cải thiện khoảng

cách đi bộ 35±43 mét, do đây là nghiên cứu hồi cứu và đánh giá hiệu quả sau

3 tuần can thiệp [54]. Nghiên cứu của H. K. Ong và CS (2011) cải thiện

khoảng cách đi bộ 6 phút trung bình 53,4 mét [49] có sự khác biệt do cỡ mẫu

lớn, mức độ can thiệp và kiểm soát trong 8 tuần tốt hơn nghiên cứu của chúng

tôi. Nghiên cứu của S. Foster và H. M. Thomas (1990) cải thiện 72 mét

khoảng cách đi bộ 6 phút [68], do can thiệp nội trú kiểm soát các bài tập sẽ

chặt chẽ hơn trong 4 tuần nên kết quả tốt hơn. Còn nghiên cứu của M-Y. Liaw

và CS (2011) cũng cải thiện 61,3 mét, có sự khác biệt do mức độ can thiệp 5

buổi/ tuần trong 8 tuần [51].

4.3. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp qua các mối liên quan



55



4.3.1. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp qua mối liên quan giữa

mMRC và các chỉ số tuổi, giới, BMI, số ngày nằm viện, FEV1

Qua các phép tốn khảo sát mối liên quan tuyến tính của hai biến định

lượng trong nghiên cứu, điểm mMRC không có sự tương quan chặt chẽ với

các chỉ số tuổi, giới, BMI, số ngày nằm viện nhưng có liên quan tuyến tính

nghịch với FEV1 (lít), kết quả này cũng tương đương với kết quả nghiên cứu

của A Santamoto và CS (2012) trên bệnh nhân COPD khơng có sự khác biệt

về tuổi, nhưng có sự khác biệt nhẹ về giới tính và FEV1 [69]. Qua đó ta thấy

PHCNHH an tồn áp dụng cho bệnh nhân GPQ cải thiện lượng đờm, cải thiện

sức khỏe. Phục hồi chức năng hô hấp được khuyến cáo cho tất cả các bệnh

nhân GPQ, tập càng sớm càng tốt. Mặc dù các nghiên cứu còn nhỏ nhưng đều

đã chứng minh hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp trên bệnh nhân GPQ

tuyệt vời như đối với bệnh nhân COPD [6]. Khơng kể tuổi, giới tính, BMI, số

ngày nằm viện ít hay nhiều, có kế hoạch can thiệp cụ thể, đều đặn và kiên trì

thì đều có sự cải thiện tốt. Các chuyên gia khuyến cáo rằng các kỹ thuật làm

sạch đường dẫn khí là quan trọng để giảm khó thở, cải thiện thơng khí, giảm

ho cho bệnh nhân GPQ. Tất cả các bệnh nhân GPQ nên được đánh giá và

hướng dẫn kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp phù hợp với từng cá nhân

[70], [71].



56



4.3.2. Hiệu quả của phục hồi chức năng hô hấp qua mối liên quan giữa

khoảng cách đi bộ 6 phút và các chỉ số tuổi, giới, BMI, mMRC, chức năng

hô hấp

Nghiệm pháp đi bộ 6 phút là nghiệm pháp an toàn, dễ sử dụng được

dung nạp tốt và phản ánh tốt hơn các hoạt động hàng ngày so với các nghiệm

pháp đi bộ khác [72]. Trong nghiên cứu của chúng tôi khoảng cách đi bộ 6

phút khơng có liên quan chặt chẽ với giới tính và chỉ số BMI. Theo nghiên

cứu của Z. P. Onen và CS (2007) chỉ số BMI chỉ có liên quan tới tỷ lệ tử

vong, BMI cao thì nguy cơ tử vong có giảm hơn [58]. Nhưng nghiên cứu của

A. Ranini và CS (2015) bệnh nhân nam cải thiện khoảng cách đi bộ 6 phút tốt

hơn sự khác biệt do đây là nghiên cứu hồi cứu, đối tượng nghiên cứu là những

bệnh nhân ổn định, hút thuốc lá <10 năm, khơng có COPD, cỡ mẫu lớn [54].

Có sự khác nhau về điều này nên cần có những nghiên cứu sau tốt hơn để có

thêm bằng chứng để so sánh.

Còn khoảng cách đi bộ 6 phút trước can thiệp khơng có liên quan chặt

chẽ với tuổi và chức năng hơ hấp nhưng sau can thiệp thì có tương quan thuận

với FEV1(lít), FVC(lít), tương quan nghịch với tuổi của bệnh nhân. Nghĩa là

những bệnh nhân có FEV1, FVC tốt và tuổi trẻ thì khoảng cách đi bộ được cải

thiện nhiều hơn. Kết quả này cũng tương đương một phần kết quả nghiên cứu

của A. Zanini và CS (2015) chức năng hơ hấp và giới có liên quan tới sự

cải thiện khoảng cách đi bộ, do cỡ mẫu lớn hơn và chương trình phục hồi

chức năng hơ hấp trong nội trú có sự kiểm sốt tốt hơn [54]. Nghiên cứu

của R. A. Wise và CS (2005) kết quả nghiệm pháp đi bộ 6 phút tương quan

với chức năng phổi, khoảng cách đi bộ 6 phút là thông số phù hợp để đánh giá

chức năng hô hấp [67]. Và khoảng cách đi bộ 6 phút với điểm mMRC trong

nghiên cứu của chúng tơi có sự liên quan rất chặt chẽ với p<0,01, tương tự kết

quả nghiên cứu của W.Guan và CS (2015) [73], thêm cơ sở để thấy được

mức độ khó thở mMRC phản ánh sự suy giảm về thể lực của bệnh nhân.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Hai chỉ số mMRC và điểm SGRQ có mối tương quan chặt chẽ với nhau với p<0,05.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×