Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Bài tập thở hoành

* Bài tập thở hoành

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



 Hít vào chậm qua mũi sao cho bàn tay trên bụng có cảm giác bụng

phình lên. Lồng ngực khơng di chuyển.

 Hóp bụng lại và thở ra chậm qua miệng với thời gian thở ra gấp đơi

thời gian hít vào và bàn tay trên bụng có cảm giác bụng lõm xuống.

Lưu ý:

- Nên tập thở cơ hoành nhiều lần trong ngày cho đến khi trở thành thói quen.

- Sau khi đã nhuần nhuyễn kỹ thuật thở cơ hoành ở tư thế nằm hoặc

ngồi, nên tập thở cơ hoành khi đứng, khi đi bộ và cả khi làm việc nhà.

1.3.4. Đi bộ

 Bắt đầu bằng đi bộ một thời gian ngắn trên mặt phẳng mỗi ngày, có thể

dùng oxy nếu cần thiết. Khi có cảm giác khó thở phải dừng lại ngay.

 Khuyên bệnh nhân đi theo tốc độ của mình, phù hợp với gắng sức của

bệnh nhân.

 Trong khi đi bộ cần kết hợp với bài tập thở hoành, khi hít vào bụng

giãn nở to, khi thở ra bụng xẹp lại.

Lưu ý: Tránh những động tác thừa không cần thiết, tránh mang những

vật nặng. Kéo dài khoảng cách đi bộ của mình theo nỗ lực tập luyện hµng

ngày của bệnh nhân. Đặt mục tiêu hợp lý để đạt được, không nên cố gắng mọi

cách để đạt được mục tiêu đó.

1.4. Tởng quan về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Khái niệm chất lượng cuộc sống đã ra đời khá lâu, nhưng vẫn chưa có sự

thống nhất trong định nghĩa. Từ đầu những năm 1970, sự quan tâm đến khái

niệm về chất lượng của cuộc sống đã tăng lên đáng kể, cả trong nghiên cứu và

thực hành lâm sàng. Hiện tại, có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng

cuộc sống [29], [30].

Định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới cho rằng: “Chất lượng cuộc sống” là

sự nhận thức của một cá nhân về tình trạng hiện tại của người đó, theo những



19



chuẩn mực về văn hố và sự thẩm định giá trị của xã hội mà người đó đang

sống. Những nhận thức này gắn liền với mục tiêu, kỳ vọng và những mối

quan tâm, lo lắng của người đó [31], [32].

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Sức khoẻ là sự sảng khối hồn tồn về thể

chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là khơng có bệnh hay tật” [33]. Sức

khỏe ln được coi như một khía cạnh quan trọng chất lượng cuộc sống [30].

“Chất lượng cuộc sống” là một khái niệm rộng, mơ hồ và liên quan đến

rất nhiều lĩnh vực [29], [30]. Do đó, khi xem xét trên khía cạnh chăm sóc sức

khoẻ, người ta thường giới hạn những ghi nhận về chất lượng cuộc sống trên

các khía cạnh thể chất, tinh thần và xã hội. Chính vì thế, các nhà y học thấy

cần phải tách riêng khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan sức khoẻ, bởi vì

khơng thể bao quát hết mọi vấn đề của định nghĩa chất lượng cuộc sống vào

những nghiên cứu sức khoẻ. Mặt khác, đo lường chất lượng cuộc sống sẽ có

nhiều ý nghĩa hơn khi gắn liền với sức khoẻ và bệnh tật. Từ đó thuật ngữ

“Chất lượng cuộc sống liên quan sức khoẻ” (CLCS-SK) đã ra đời. CLCS-SK

bao gồm nhiều lĩnh vực liên quan đến những đánh giá khách quan lẫn chủ

quan về tình trạng sức khoẻ do bệnh tật, chấn thương hay một chế độ điều trị

tạo ra. CLCS-SK đề cập đến những lĩnh vực của chất lượng cuộc sống có ảnh

hưởng bởi sức khoẻ. Mục đích điều trị ngày càng mở rộng (nhất là đối với các

bệnh mãn tính), ngồi việc kéo dài thời gian sống, còn gồm cả việc giảm triệu

chứng và cải thiện CLCS-SK. Vậy những lĩnh vực nào cần được xem xét khi

khảo sát CLCS-SK?

Qua nhiều y văn, CLCS-SK là một cấu trúc có nhiều lĩnh vực. Với nền

tảng của định nghĩa sức khoẻ của Tổ chức y tế thế giới thì các lĩnh vực của

CLCS-SK được quan tâm là: Thể chất, tinh thần, xã hội [34]. Mỗi lĩnh vực

được xem xét trên nhiều khía cạnh; Các khía cạnh của lĩnh vực tinh thần: suy

nghĩ tích cực, suy nghĩ tiêu cực và hành vi. Các khía cạnh của lĩnh vực xã hội:



20



công việc, địa vị, và quan hệ cá nhân [35].

Với những khái niệm có tính chất trừu tượng và tổng quát của CLCS-SK

nên việc tiếp cận CLCS-SK khảo sát và lượng giá khơng phải dễ dàng. Vì vậy

một yêu cầu được đặt ra là tìm những biện pháp cụ thể, khoa học và có độ tin

cậy cao để đo lường CLCS-SK. Từ những năm 60, trong y văn thế giới đã từng

có nhiều thang đo ghi nhận các chỉ số về các lĩnh vực của CLCS-SK [36], [37].

Các thang đo về CLCS-SK ngày càng được nghiên cứu và phát triển.Tuy nhiên,

có thể do sự đòi hỏi q nhiều về nguồn lực, cơng sức, thời gian, kinh phí, để

xây dựng một thang đo nên khuynh hướng phổ biến hiện nay là nghiên cứu sử

dụng rộng rãi một số thang đo hiện có từ các tác giả Anh, Hoa Kỳ và dịch ra

thành nhiều thứ tiếng khác nhau. Điều này vừa kinh tế vừa giúp có thể so sánh

giữa các nước với nhau. Sự lựa chọn thang đo tuỳ thuộc vào mục tiêu, đối tượng

nghiên cứu, cũng như những tính chất và giá trị của thang đo. Có nhiều cách

phân loại thang đo, nhưng hiện nay các tác giả thường chia ra hai loại thang đo

CLCS-CS chủ yếu là thang đo tổng quát và thang đo chuyên biệt.

1.4.1. Thang đo tổng quát

Thang đo tổng quát đo lường những lĩnh vực của CLCS-SK mà những lĩnh

vực này thích hợp với nhiều tình trạng sức khoẻ khác nhau như: khoẻ mạnh,

bệnh lý cấp tính, bệnh lý mạn tính (COPD, giãn phế quản). Thang đo tổng quát

giúp đánh giá gánh nặng bệnh tật trên dân số những người mắc một bệnh nào đó

so với dân số bệnh nhân mắc bệnh khác hoặc so với dân số chung.

1.4.2. Thang đo chuyên biệt

Thang đo chuyên biệt khảo sát các lĩnh vực của CLCS-SK mà các lĩnh

vực này chuyên biệt cho một bệnh nào đó. Do các lĩnh vực được khảo sát là

đặc thù cho một bệnh lý cụ thể nên các thang đo chuyên biệt chính xác hơn và

có độ nhạy cao hơn khi đo lường hiệu quả điều trị. Hiện tại, có rất nhiều thang

đo CLCS-SK chuyên biệt giành cho các bệnh hô hấp như: Chronic



21



Respiratory Disease Questionnaire (CRQ), St George’s Respiratory

Questionnaire, Breathing Problem Questionnaire (BPQ). Phần lớn các thang đo

này đều khảo sát các lĩnh vực giống nhau, thể hiện sự thống nhất về các lĩnh

vực của CLCS - SK bị giảm do các bệnh hô hấp. Trong phạm vi của nghiên

cứu này, chúng tơi xin trình bày thang đo chun biệt được sử dụng rộng rãi

nhất trong các bệnh phổi có tắc nghẽn đó là thang đo St George’s Respiratory

Questionnaire. Thang đo St George’s Respiratory Questionnaire (SGRQ)

được xây dựng bởi Jones PW và cộng sự vào năm 1991 [38] được dịch ra

phiên bản tiếng việt có sửa đổi sao cho phù hợp với bệnh giãn phế quản để áp

dụng cho nghiên cứu này. Thang đo khảo sát ba lĩnh vực chính sau:

* Tần suất và độ nặng của các triệu chứng hô hấp: Gồm 8 câu hỏi về các

triệu chứng ho, khạc đờm, khò khè, khó thở, ho máu, số lần bệnh nặng trong

năm qua.

* Những hoạt động thể chất gây ra khó thở hoặc bị giới hạn bởi khó thở:

Gồm 16 câu hỏi về những hoạt động thể chất như tắm rửa, mặc quần áo, leo

dốc, làm việc nặng, chơi thể thao...

* Ảnh hưởng của bệnh GPQ đến việc làm, địa vị của người bệnh trong gia

đình, xã hội cũng như mức độ hội nhập xã hội của người bệnh: gồm 26 câu.

Điểm được tính riêng cho từng lĩnh vực và tổng điểm chung (total) cho

cả ba lĩnh vực. Điểm của mỗi lĩnh vực thay đổi từ 0 đến 100. Điểm càng cao

cho thấy tình trạng sức khoẻ càng kém [38]. Số liệu được thu thập bằng cách

cho bệnh nhân tự điền vào bảng câu hỏi soạn sẵn.

1.5. Các nghiên cứu liên quan



 Thế giới:

- Nghiên cứu của Clare Newall và cộng sự (2005) trên 30 bệnh nhân

GPQ chia làm 3 nhóm, mức độ can thiệp khác nhau, với thời gian can thiệp là



22



8 tuần, kết quả là nhóm can thiệp tích cực thì cải thiện khả năng đi bộ và khả

năng tập thể dục [39].

- Nghiên cứu của Mandal và cộng sự (2012) can thiệp có đối chứng trên

30 bệnh nhân GPQ PHCNHH trong 8 tuần đã kết luận biện pháp PHCNHH ở

bệnh nhân GPQ đã cải thiện khả năng tập thể dục và CLCS-SK của bệnh

nhân, sự cải thiện này còn duy trì 12 tuần sau can thiệp[40].

- Nghiên cứu hồi cứu của Mafalda van Zeller và cộng sự ( 2012 ) trên 41

bệnh nhân, đánh giá những bệnh nhân tham gia PHCNHH trong 12 tuần từ

năm 2007 đến năm 2010, có sự cải thiện có lợi về chức năng hơ hấp ở một số

nhóm bệnh nhân GPQ [41].

- Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2017) trên BN GPQ tập thể dục làm

cải thiện đáng kể trong thời gian ngắn về mức độ khó thở, khả năng đi bộ

trong 6 phút, và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân[42].



 Việt Nam

- Nghiên cứu của Vũ Sơn Hà (2014) về PHCNHH trên đối tượng bệnh

nhân COPD trong 8 tuần có cải thiện đáng kể khoảng cách đi bộ 6 phút, điểm

khó thở mMRC và điểm SGRQ [43].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Bài tập thở hoành

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×