Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một khi đã bắt đầu vỗ rung thì nên liên tục trong khoảng 3 – 5 phút.

Một khi đã bắt đầu vỗ rung thì nên liên tục trong khoảng 3 – 5 phút.

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



- Trước khi dẫn lưu tư thế người bệnh được hướng dẫn ho hữu hiệu, tập

thở để phối hợp thực hiện. Các kỹ thuật vỗ rung lồng ngực sẽ được thực hiện

trên người bệnh trong tư thế dẫn lưu thích hợp đó.

- Sau khi điều trị người bệnh trở lại tư thế cũ hoặc ngồi dậy từ từ.

- Các chất dịch không tống ra ngay trong và sau dẫn lưu mà thường phải

sau 30 – 60 phút, nên nhắc người bệnh chú ý ho khạc đúng quy định.

- Một số tư thế dẫn lưu

Tư thế 1: Thuỳ trên, phần đỉnh phổi.

Bệnh nhân ngồi thẳng người thoải mái thân hơi nghiêng về phía sau, tay

để trên đùi. Thầy thuốc ở phía sau bệnh nhân.



Hình 1.1. Tư thế thùy trên, phần đỉnh phổi [8]



12



Tư thế 2: Thùy trên phần sau

Bệnh nhân ngồi trên giường hoặc ghế, đặt một gối ơm kích thước vừa

phải trên đùi, thân hơi ngả về trước, cẳm tựa nhẹ gối. Thầy thuốc đứng sau

bệnh nhân.



Hình 1.2. Tư thế thùy trên phần sau [8]

Tư thế 3: Thuỳ trên phần trước

Bệnh nhân nằm ngửa trên giường, đầu và phần trên của thân được gối

cao vửa phải, hai tay xuôi hai bên thân, hai chân co nhẹ với gối êm đặt dưới

kheo. Thầy thuốc ngồi phía đầu bệnh nhân.



Hình 1.3. Tư thế thùy trên phần trước [8]



13



Tư thế 4: Thuỳ lưỡi phổi trái

Bệnh nhân nằm nghiêng về bên phải, đầu gối cao bằng vai, tay phải đưa

ra trước, tay trái đưa ra sau, thân và hai chân kê cao, tạo tư thế đầu thấp

nghiêng chếch phải. Thầy thuốc ngồi hoặc đứng sau bệnh nhân.



Hình 1.4. Tư thế thùy lưỡi phổi trái [8]

Tư thế 5: Thùy giữa

Nằm nghiêng chếch trái, đầu gối cao bằng vai, tay trái đưa ra trước, tay

phải đưa lên đầu, thân và hai chân kê cao tạo tư thế đầu thấp nghiêng chếch

trái. Thầy thuốc ngồi hoặc đứng phía trước bệnh nhân.



Hình 1.5. Tư thế thùy giữa [8]



14



Tư thế 6: Thùy dưới phần trước đáy phổi

Bệnh nhân nằm nghiêng phía đối diện đáy phổi bệnh, đầu gối cao bằng

vai, thân và đùi kê cao hơi ngửa ra, hai tay đưa ra phía trước tạo tư thế nghiêng

đầu thấp thân hơi ngửa. Thầy thuốc ngồi hoặc đứng phía sau bệnh nhân.



Hình 1.6. Tư thế thùy dưới phần trước đáy phổi [8]

Tư thế 7: Thuỳ dưới phần sau đáy phổi

Bệnh nhân nằm sấp, tư thế đầu thấp trên gối, hai tay dang thư giãn, thân

và hai chân kê cao trên gối tam giác. Thầy thuốc đứng hoặc ngồi cạnh giường.



Hình 1.7. Tư thế thuỳ dưới phần sau đáy phổi [8]



15



Tư thế 8: Thuỳ dưới phần bên của đáy phổi

Bệnh nhân nằm nghiêng phía đối diện đáy phổi bệnh, đầu gối cao bằng

vai, thân kê cao, hai chân hơi co, hai tay đưa ra phía trước tạo tư thế nằm

nghiêng đầu thấp, thân hơi sấp. Thầy thuốc đứng hoặc ngồi phía trước.



Hình 1.8. Tư thế thuỳ dưới phần bên của đáy phổi [8]

Tư thế 9: Thuỳ dưới phần sau của đáy phổi

Bệnh nhân nằm sấp đầu thấp, kê gối tam giác dưới vùng bụng bẹn tạo

tư thế nằm chổng mông. Thầy thuốc đứng hoặc ngồi bên cạnh bệnh nhân

(bên trái).



Hình 1.9. Tư thế thuỳ dưới phần sau của đáy phổi [8]



16



1.3.2. Ho có kiểm sốt

Ho thơng thường: là một phản xạ bảo vệ của cơ thể nhằm tống những vật

“lạ” ra ngoài. Khi các phế quản bám đầy đờm nhớt, gây phản xạ muốn ho.

Để thay thế những cơn ho thông thường dễ gây mệt, gây khó thở cần

hướng dẫn bệnh nhân sử dụng kỹ thuật ho có kiểm sốt giúp người bệnh khạc

được đờm ra một cách dễ dàng, làm sạch đường thở, tăng thơng khí và giảm

khó thở, tránh viêm nhiễm ứ đọng.

* Chỉ định

Mục đích của ho có kiểm sốt khơng phải để tránh ho mà là dùng động

tác ho để làm sạch đường thở.

- Bệnh nhân nằm lâu, COPD, sau cơn hen phế quản, viêm phổi đã ổn định.

- Bệnh nhân có biểu hiện trào ngược vào đường thở, các trường hợp rối

loạn nuốt, sặc nước và thức ăn.

- Bệnh nhân phải còn tỉnh táo, khơng q khó thở, đủ sức để thực hiện

động tác ho.

* Kỹ thuật ho có kiểm sốt

Thời gian tập khoảng 5 phút hoặc lâu hơn tùy tình trạng bệnh nhân, có

thể tập vài lần mỗi ngày, chuẩn bị bô để bệnh nhân khạc nhổ khi ho.

Bệnh nhân ngồi trên giường hoặc ghế thư giãn, thoải mái.

Bước 1: Hít vào chậm và thật sâu.

Bước 2: Nín thở trong vài giây (khoảng 2 giây).

Bước 3: Ho mạnh ra liên tiếp 2 lần, lần đầu để long đờm, lần sau để đẩy

đờm ra ngoài.

Bước 4: Hít vào chậm và nhẹ nhàng. Thở ra chúm mơi lại để hơi thở ra chậm

khi thấy thoải mái thì bắt đầu lặp lại động tác ho, có thể lặp lại 1 hoặc 2 lần.

Yêu cầu: hít vào thật sâu, càng sâu càng tốt, cố gắng nín được hơi sau đó

mới ho mạnh ra.



17



Lưu ý:

- Khạc đờm vào lọ để xét nghiệm hoặc khăn giấy bỏ vào thùng rác tránh

lây nhiễm.

- Khi có cảm giác muốn ho, đừng cố gắng nín ho mà nên thực hiện kỹ

thuật ho có kiểm sốt để giúp tống đờm ra ngồi.

- Tuỳ lực ho và sự thành thạo kỹ thuật của mỗi người, có khi phải lặp lại

vài lần mới đẩy được đờm ra ngoài.

1.3.3. Các bài tập thở

Từ thời Hypocrat, người ta đã biết đến tác dụng của tập thở trong điều trị

các bệnh mạn tính đường hơ hấp. Cho đến ngày nay đã có nhiều nghiên cứu

về ứng dụng tập thở phục hồi chức năng hô hấp [8].

1.3.3.1. Chỉ định

- Bệnh nhân sau phẫu thuật, sau chấn thương, thở tăng nhưng lưu thơng khí

kém ở những bệnh nhân tắc nghẽn hơ hấp mạn tính, thở khơng hiệu quả trong

các hoạt động hàng ngày cũng như lúc luyện tập, xẹp phổi hoặc thùy phổi.

1.3.3.2. Phương pháp

* Bài tập thở hồnh

- Do tình trạng ứ khí trong phổi nên lồng ngực bị căng phồng làm hạn

chế hoạt động của cơ hoành.

- Cơ hoành là cơ hơ hấp chính, nếu hoạt động kém sẽ làm thơng khí ở

phổi kém và các cơ hơ hấp phụ phải tăng cường hoạt động.

- Tập thở cơ hoành sẽ giúp tăng cường hiệu quả của động tác hô hấp và

tiết kiệm năng lượng.

* Kỹ thuật thở hoành

 Ngồi ở tư thế thoải mái. Thả lỏng cổ và vai.

 Đặt 1 bàn tay lên bụng và đặt bàn tay còn lại lên ngực.



18



 Hít vào chậm qua mũi sao cho bàn tay trên bụng có cảm giác bụng

phình lên. Lồng ngực khơng di chuyển.

 Hóp bụng lại và thở ra chậm qua miệng với thời gian thở ra gấp đôi

thời gian hít vào và bàn tay trên bụng có cảm giác bụng lõm xuống.

Lưu ý:

- Nên tập thở cơ hoành nhiều lần trong ngày cho đến khi trở thành thói quen.

- Sau khi đã nhuần nhuyễn kỹ thuật thở cơ hoành ở tư thế nằm hoặc

ngồi, nên tập thở cơ hoành khi đứng, khi đi bộ và cả khi làm việc nhà.

1.3.4. Đi bộ

 Bắt đầu bằng đi bộ một thời gian ngắn trên mặt phẳng mỗi ngày, có thể

dùng oxy nếu cần thiết. Khi có cảm giác khó thở phải dừng lại ngay.

 Khuyên bệnh nhân đi theo tốc độ của mình, phù hợp với gắng sức của

bệnh nhân.

 Trong khi đi bộ cần kết hợp với bài tập thở hồnh, khi hít vào bụng

giãn nở to, khi thở ra bụng xẹp lại.

Lưu ý: Tránh những động tác thừa không cần thiết, tránh mang những

vật nặng. Kéo dài khoảng cách đi bộ của mình theo nỗ lực tập luyện hµng

ngày của bệnh nhân. Đặt mục tiêu hợp lý để đạt được, không nên cố gắng mọi

cách để đạt được mục tiêu đó.

1.4. Tởng quan về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Khái niệm chất lượng cuộc sống đã ra đời khá lâu, nhưng vẫn chưa có sự

thống nhất trong định nghĩa. Từ đầu những năm 1970, sự quan tâm đến khái

niệm về chất lượng của cuộc sống đã tăng lên đáng kể, cả trong nghiên cứu và

thực hành lâm sàng. Hiện tại, có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng

cuộc sống [29], [30].

Định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới cho rằng: “Chất lượng cuộc sống” là

sự nhận thức của một cá nhân về tình trạng hiện tại của người đó, theo những



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một khi đã bắt đầu vỗ rung thì nên liên tục trong khoảng 3 – 5 phút.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×