Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong 6 trường hợp có kết quả mô bệnh học là quá sản niêm mạc tử cung thì soi Buồng tử cung phát hiện được 4 trường hợp quá sản nội mach tử cung, độ nhạy của soi BTC trong chẩn đoán quá sản nội mạc tử cung là 66,7% (4/6); độ đặc hiệu là 56,6% (17/30); giá

Trong 6 trường hợp có kết quả mô bệnh học là quá sản niêm mạc tử cung thì soi Buồng tử cung phát hiện được 4 trường hợp quá sản nội mach tử cung, độ nhạy của soi BTC trong chẩn đoán quá sản nội mạc tử cung là 66,7% (4/6); độ đặc hiệu là 56,6% (17/30); giá

Tải bản đầy đủ - 0trang

43



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Tình trạng vơ sinh

Theo kết quả nghiên cứu tại Biểu đồ 3.1, tỷ lệ người bệnh vơ sinh II có

soi BTC chiếm 51,1%, tỷ lệ người bệnh vơ sinh I có soi BTC chiếm 48,9%.

Như vậy, tỷ lệ người bệnh VSII có soi BTC cao hơn so với người bệnh VSI,

kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như nghiên cứu của Đặng Thị Hồng

Thiện năm 2009, trong nghiên cứu của tác giả, tỷ lệ người bệnh vơ sinh II có

soi BTC chiếm 56,7%, gặp nhiều hơn vô sinh I là 43,3% [32], hay nghiên

cứu của Lê Hoàng và cộng sự từ năm 2004 - 2005 tại bệnh viện Phụ Sản

Trung ương, tỷ lệ soi BTC ở người bệnh VSII và VSI lần lượt là 58,74% và

41,26% [33].

Một nghiên cứu khác của Đỗ Thị Thu Hiền năm 2009 tại bệnh viện Phụ

Sản Trung ương, trong số 300 bệnh nhân đến khám vì vơ sinh và ra máu bất

thường, cho thấy lý do vào viện chiếm tỉ lệ cao nhất là vô sinh, chiếm tỷ lệ

83,7%. Ngồi ra, có một số các lý do khác làm cho bệnh nhân phải vào viện

như: rong kinh (7,0%); ra máu âm đạo bất thường (4,0%); rong huyết (l ,3%) và

các lý do khác (4,0%) [34]

Theo một nghiên cứu của Đặng Thị Minh Nguyệt về đánh giá kết quả chẩn

đoán quá sản niêm mạc TC qua soi BTC cho thấy, lý do vào viện chiếm tỉ lệ cao

nhất là ra máu âm đạo bất thường chiếm 67,8%, lý do vô sinh chiếm 20,1% [35]

Theo Nguyễn Khắc Liêu, nguyên nhân vô sinh nguyên phát ở nữ thường

gặp nhất là không phóng nỗn, chiếm tỷ lệ 33,6%, tắc VTC chiếm tỷ lệ 28,8%

còn đối với vơ sinh thứ phát, thì ngun nhân thường gặp nhất là tắc VTC,



44



chiếm tỷ lệ 75,4%, rối loạn phóng nỗn chiếm tỷ lệ 22,9% [36]. Với hai

nguyên nhân này, soi BTC và nội soi ổ bụng vừa có giá trị chẩn đốn, vừa có

thể điều trị.

4.1.2. Địa bàn cư trú, tiền sử sản khoa

Theo kết quả bảng 3.1, có 55 trường hợp bệnh nhân là người Hà Nội

chiếm tỷ lệ 21%, trong khi đó có 207 trường hợp bệnh nhân đến từ các tỉnh

khác chiếm tỷ lệ 79%. Kết quả này khác so vơi nghiên cứu của Đặng Thị

Hồng Thiện năm 2009, có 48,9% số người bệnh cư trú tại Hà Nội [32], điều

này cho thấy soi buông tử cung không liên quan đến địa bàn cư trú mà liên

quan đến vấn đề mà họ mắc phải.

Theo kết quả biểu đồ 3.2, cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân chưa có con chiếm tỷ

lệ rất cao là 63%; chỉ có 0,4% bệnh nhân có 2 con trở lên.kết quả này tương

tự như kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Hiền năm 2009, trong nghiên cứu

của tác giả tỷ lệ bệnh nhân chưa có con chiếm 63,7% [34].

Theo kết quả biểu đồ 3.3,Có 31,1% bệnh nhân có tiền sử nạo hút thai.

Trong đó, có 30,5% bệnh nhân nạo hút thai 1 lần; nạo hút thai 2 lần là 0,4%.

4.1.3. Triệu chứng lâm sàng.

Theo kết quả bảng 3.2, có 100 % bệnh nhân có kích thước tử cung bình

thường. Nghiên cứu của Đặng Minh Thuyết năm 2013 Kích thước tử cung bình

thường chiếm tỷ lệ 97,2%, chỉ có 2,8% trường hợp kích thước tử cung to hơn

bình thường [37]. Nghiên cứu của chúng tôi và Đặng Minh Thuyết tỷ lệ kích

thước tử cung bình thường cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị Minh

Nguyệt. Trong nghiên cứu của tác giả,có 73,3% bệnh nhân khi thăm khám thấy

kích thước tử cung bình thường và có 26,7% bệnh nhân khi thăm khám thấy

kích thước tử cung to hơn bình thường [35]. Theo chúng tơi sở dĩ có sự khác

nhau này là do trong nghiên cứu của chúng tôi và Đặng Minh Thuyết, nhóm

bệnh nhân của chúng tơi chỉ là những bệnh nhân vơ sinh trong khi nhóm bệnh



45



nhân trong nghiên cứu của Ðặng Thị Minh Nguyệt là những bệnh nhân ra máu

TC bất thường. Cũng theo Ðặng Thị Minh Nguyệt, những bệnh lý BTC như

polype, quá sản nội mạc TC, teo nội mạc TC, dính BTC và vách ngăn TC, thậm

chí u cơ nhẵn dưới nội mạc TC nhỏ khơng làm thay đổi thể tích TC.

Theo kết quả nghiên cứu bảng 3.2, Trong số 262 trường hợp soi buồng tử

cung có 261 trường hợp mật độ tử cung bình thường chiếm tỷ lệ 99,6% bệnh

nhân có mật độ tử cung bình thường, kết quả nghiên cứu này cũng tương tự

như nghiên cứu của Đặng Minh Thuyết năm 2013, theo tác giả, trong số 250

trường hợp, có 246 trường hợp có mật độ TC bình thường chiếm tỷ lệ 98,4%

[37]. Theo chúng tơi mật độ tử cung khơng có giá trị để định hướng loại trừ

tổn thương, trừ những trường hợp tử cung chắc, to hơn bình thường nghĩ tới u

xơ dưới niêm mạc tử cung hoặc tử cung mềm, to hơn bình thường, có ra máu

sau mãn kinh thì phải loại trừ ung thư niêm mạc tử cung.

Theo kết quả nghiên cứu tại bảng 3.2, có 262 trường hợp khi khám thấy

TC di động chiếm tỷ lệ 100% còn lại TC khơng di động có 0 trường hợp, do

đó, triệu chứng này ít có giá trị trong chẩn đốn bệnh lý BTC, nhưng lại có

giá trị trong chẩn đốn bệnh lý phần phụ. Kết quả này cũng tương tự như

nghiên cứu của Ðỗ Thị Thu Hiền năm 2009 là 97% [34]. Nghiên cứu của

Đặng Thị Minh Nguyệt, di động TC hạn chế chiếm 28,9% trường hợp. TC di

động chiếm tỷ lệ 95,6% còn lại TC khơng di động có 11 trường hợp chiếm

4,4% [35], đây là những bệnh nhân có kèm theo tổn thương VTC và bệnh lý

quanh VTC, do đó, triệu chứng này ít có giá trị trong chẩn đốn bệnh lý BTC,

nhưng lại có giá trị trong chẩn đoán bệnh lý phần phụ.

Như vậy, xét về triệu chứng lâm sàng về kích thước tử cung, mật độ tử

cung và di động tử cung, hầu hết bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng

tơi có triệu chứng bình thường. Điều này cho thấy chúng ta cần các phương pháp

cận lâm sàng để chẩn đốn xác định chính xác bệnh lý của buồng tử cung và vòi

trứng như chụp Xquang tử cung vòi trứng, siêu âm và soi buồng tử cung.



46



4.1.4. Triệu chứng cận lâm sàng

4.1.4.1. Kết quả chụp XQ buồng tử cung

Theo Wamsteker Kees và cộng sự, chụp X quang buồng tử cung - vòi

trứng chủ yếu đuợc dùng ở các bệnh nhân vô sinh để phát hiện bệnh lý buồng

tử cung và vòi tử cung [38].

Theo kết quả bảng 3.3, Có 19,8% người bệnh có hình ảnh X quang bất

thường, trong các bất thường BTC, các tổn thương hay gặp bao gồm: dính BTC

chiếm 13,6%; hình khuyết trong BTC chiếm 4,2%; các tổn thương ít gặp như: tử

cung hai sừng chiếm 0,4%, không đánh giá được buồng tử cung chiếm 0,4%.

Trong nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thu Hiền 2009 [34], trong 300

bệnh nhân của nghiên cứu, có 248 bệnh nhân được chụp X quang do trong đối

tượng nghiên cứu có những bệnh nhân bị rong kinh, rong huyết và ra máu bất

thường, những bệnh nhân này không được chụp Xquang BTC. Kết quả chụp

Xquang BTC có 62,1% người bệnh có hình ảnh X quang bất thường, tuy nhiên,

trong các trường hợp bất thường này chủ yếu là các hình ảnh gợi ý tổn thương

tại BTC như: có hình khuyết trong BTC bị biến dạng, bờ TC khơng đều, nham

nhở, dính BTC, kích thước BTC bất thường. Chỉ có một số ít trường hợp nghĩ

tới hình ảnh bệnh lý như quá sản, TC 2 sừng... Một số hình ảnh khác trên phim

chụp X quang như: biến dạng (12,9%), bờ khơng đều (l0,9%), dính BTC

(l0,9%). Một số hình ảnh ít gặp khác: kích thước BTC bất thường (3,2%), qúa

sản (0,8%), TC 2 sừng (1,2%); không đánh giá được TC (l,2%).

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Hiền, trong các trường hợp hình ảnh

X quang bất thường, hình ảnh hình khuyết BTC chiếm tỉ lệ cao nhất là 21%.

Hình ảnh hình khuyết cũng chiếm tỉ lệ cao nhất trong nghiên cứu của Ðặng

Thị Minh Nguyệt [35]. Hình ảnh hình khuyết trên phim chụp X quang gặp ở

rất nhiều các bệnh lý khác nhau tại BTC như: polype niêm mạc TC; u xơ dưới

niêm mạc TC; quá sản niêm mạc TC; dính BTC.



47



Theo một nghiên cứu tại bệnh viện Yale - New Haven trên những bệnh

nhân ra máu tử cung bất thường cho thấy chụp X quang đều được xác nhận

trên tất cả các bệnh nhân là có hình ảnh bất thường nhưng khơng biết chắc

chắn hình ảnh đó thuộc loại tổn thương nào [39].

Trong các trường hợp bất thường này chủ yếu là các hình ảnh gợi ý tổn

thương tại buồng tử cung chứ khơng chẩn đốn chắc chắn loại tổn thương nào

như: có hình khuyết trong buồng tử cung, buồng tử cung bị biến dạng, bờ tử

cung khơng đều, nham nhở, dính buồng tử cung, kích thước buồng tử cung

bất thường....

4.1.4.2. Kết quả siêu âm

Từ những năm 1970, nhờ các cuộc cách mạng về điện tử và điện toán,

siêu âm đã phát triển vượt bậc như siêu âm 3- 4 chiều, siêu âm bơm nước buồng

tử cung cho phép chẩn đốn chính xác hơn các bệnh lý trong buồng tử cung.

Tuy nhiên, hình ảnh siêu âm được mô tả rất cụ thể nhưng cũng chỉ giúp

cho các bác sĩ lâm sàng hướng đến bệnh lý buồng tử cung, không thể khẳng

định chắc chắn loại tổn thương.

Kết quả bảng 3.4 của nghiên cứu này cho thấy: có 1,1% trường hợp có

siêu âm bất thường. Kết quả thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Đặng Thị

Minh Nguyệt [35]. Theo tác giả, có 63,1% bệnh nhân có hình ảnh siêu âm bất

thường. Có sự khác biệt này theo chúng tôi là do đối tượng nghiên cứu khác

nhau, nghiên cứu này là những người bệnh vơ sinh còn nghiên cứu của tác giả

trên chủ yếu là những người bệnh ra máu âm đạo bất thường. Thứ hai, nghiên

cứu này làm hồi cứu nên chủ yếu dựa vào kết quả lưu trữ trong hồ sơ bệnh án

nên có thể gặp một số sai số.

Theo nghiên cứu của Ðỗ Thị Thu Hiền năm 2009 [34], có 24,3%

trường hợp có siêu âm bất thường, trong các bất thường trên hình ảnh siêu

âm, polyp BTC chiếm tỷ lệ cao nhất là 14,4%, ngoài ra, cũng theo Ðỗ Thị



48



Thu Hiền, một số hình ảnh siêu âm khác như: u xơ TC là 7,0%; niêm mạc TC

dày là 2,0%, TC 2 buồng chiếm 0,6%, niêm mạc TC mỏng chiếm 0,3%. Hiện

nay, siêu âm bằng bơm nước vào BTC có thể phát hiện được những polype có

kích thước nhỏ và còn có thể phát hiện được chính xác kích thước và vị trí

của chân polyp. Tuy hình ảnh siêu âm được mô tả rất cụ thể nhưng cũng chỉ

giúp cho các bác sĩ lâm sàng hướng đến bệnh lý BTC, không thể khẳng định

chắc chắn loại tổn thương, do đó cần có sự phối hợp thêm các phương pháp

thăm dò khác như chụp TC - VTC và soi BTC.

4.1.4.3. Kết quả soi BTC.

Soi buồng tử cung là một phương pháp rất có giá trị hiện nay trong việc

chẩn đoán các bệnh lý tại buồng tử cung. Soi buồng tử cung cho phép quan

sát được toàn bộ niêm mạc tử cung, giúp chẩn đoán polype buồng tử cung, u

xơ dưới niêm mạc tử cung, dị dạng buồng tử cung, vách ngăn buồng tử cung,

ung thư niêm mạc tử cung, teo và quá sản niêm mạc tử cung. Đặc biệt là qua

soi buồng tử cung chúng ta có thể sinh thiết làm giải phẫu bệnh cho phép chẩn

đoán ung thư sớm và các tổn thương tiền ung thư [40, 41].

Một nghiên cứu trong 2 năm được thực hiện tại trung tâm Y học

Cedass- Sinai tại Los Angeles trên 110 trường hợp soi buồng tử cung cho thấy

những bệnh nhân có chảy máu bất thường có 70% có tổn thương trong buồng

tử cung [42].

Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Minh Nguyệt năm 2006 [35],

trong 194 bệnh nhân được soi buồng tử cung thấy có 59,3% bệnh nhân có

hình ảnh siêu âm bất thường trong đó quá sản tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất là

24,3%. Tiếp theo là polype niêm mạc tử cung (16,5%); viêm niêm mạc tử

cung (7,2%); ung thư niêm mạc tử cung (6,7%); u xơ tử cung (4,6%).

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Hiền [34], có 36,7% người bệnh

có hình ảnh soi BTC bình thường; 63,3% người bệnh có hình ảnh soi BTC

bất thường



49



Kết quả bảng 3.5 cho thấy: có 64,5% người bệnh có hình ảnh soi buồng

tử cung bình thường. 35,5% người bệnh có hình ảnh soi buồng tử cung bất

thường trong đó: dính Buồng tử cung có 48 trường hợp chiếm tỷ lệ 18,3%,

Polype niêm mạc tử cung có 24 trường hợp chiếm tỷ lệ 9,2% , quá sản niêm

mạc tử cung có 17 trường hợp chiếm tỷ lệ 6,5%, vách ngăn Buồng tử cung có

3 trường hợp chiếm tỷ lệ 1,1%, U xơ dưới niêm mạc có 1 trường hợp chiếm tỷ

lệ 0,4%.

Nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ hình ảnh soi BTC bất thường thấp

hơn so với hai tác giả trên là do đối tượng nghiên cứu của chúng tơi là bệnh

nhân vơ sinh còn nghiên cứu của hai tác giả : Đặng Thị Minh Nguyệt năm

2006 và Đỗ Thị Thu Hiền năm 2009 là bệnh nhân vô sinh và ra máu bất

thường, tỉ lệ bệnh nhân bị dính BTC trên hình ảnh soi buồng tử cung chiếm tỉ

lệ cao nhất là 18,3%, quá sản niêm mạc tử cung 6,5%, u xơ tử cung 0,4%,

vách ngăn buồng tử cung 1,1%. Soi buồng tử cung sẽ cho chẩn đốn chính

xác vị trí và mức độ dính buồng tử cung [43].

Soi buồng tử cung cho phép xác định chính xác vị trí, kích thước, tính

chất polype và cho phép cắt bỏ polype buồng tử cung trong khi làm thủ thuật.

Tỉ lệ polype niêm mạc tử cung cũng qua soi buồng tử cung trong nghiên cứu

này chiếm tỉ lệ khá cao là 9,2%. Theo nghiên cứu của Đặng Thị Minh Nguyệt,

tỉ lệ bệnh nhân polype buồng tử cung qua soi buồng tử cung là 16,5% [35].

Một số các bệnh lý khác qua soi buồng tử cung trong nghiên cứu này

Theo Christian Deutschmann và cộng sự, tỉ lệ chẩn đốn mơ bệnh học dương

tính cao là kết quả của sinh thiết trực tiếp sau phát hiện bằng soi buồng tử

cung của những vị trí có tổn thương [44].

Một số các bệnh lý khác qua soi buồng tử cung trong nghiên cứu này

Theo Christian Deutschmann và cộng sự, tỉ lệ chẩn đốn mơ bệnh học dương



50



tính cao là kết quả của sinh thiết trực tiếp sau phát hiện bằng soi buồng tử

cung của những vị trí có tổn thương [45].

Nghiên cứu của Đặng Thị Minh Nguyệt cho thấy, qua soi buồng tử cung

và mô bệnh học có 35,1% trường hợp teo niêm mạc tử cung; 30,4% trường

hợp quá sản niêm mạc tử cung; 11,3% trường hợp polype niêm mạc tử cung;

viêm niêm mạc tử cung (6,7%); bình thường (6,2%); ung thư niêm mạc tử

cung (5,7%) và u xơ tử cung (4,6%) [35].

4.1.4.4. Kết quả mô bệnh học

Theo kết quả nghiên cứu tại Bảng 3.6, trong tổng số 262 trường hợp soi

BTC, có 36 trường hợp có giải phẫu bệnh lý chiếm 13,7%, trong đó có 15

trường hợp là Polype niêm mạc TC chiếm 5,7%, 8 trường hợp là bình thường

chiếm tỷ lệ 3,1%, 5 trường hợp viêm niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 1,9%,có 2

trường hợp u xơ tử cung chiếm tỷ lệ 0,8%, còn lại 226 trường hợp khơng có

giải phẫu bệnh lý chiếm 86,3%.

Theo Christian Deutschmann và cộng sự, tỉ lệ chẩn đốn mơ bệnh học

dương tính cao là kết quả của sinh thiết trực tiếp sau phát hiện bằng soi BTC

của những vị trí có tổn thương [31].

Các tỉ lệ bệnh lý của buồng tử cung rất khác nhau theo từng lứa tuổi

nên khác nhau theo từng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của Bensimhon, tỉ lệ

tổn thương buồng tử cung gặp nhiều nhất là quá sản niêm mạc tử cung, chiếm

29% [42]. Theo Đặng Thị Minh Nguyệt, tổn thương gặp nhiều nhất là teo

niêm mạc tử cung, chiếm 35,1% [35].

Sở dĩ có sự khác biệt trên theo tơi là do khác biệt về địa điểm nghiên

cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu giữa các tác giả là

khác nhau.

Một số hình ảnh mơ bệnh học khác trong nghiên cứu này như: viêm niêm

mạc tử cung (13,9%), quá sản niêm mạc tử cung 16,7%, u xơ tử cung 5,6%.



51



4.1.4.5. Can thiệp những tổn thương qua soi BTC.

Kết quả tại biểu đồ 3.4 của nghiên cứu này cho thấy thủ thuật can thiệp

được sử dụng nhiều nhất qua soi buồng TC là nội soi can thiệp, chiếm 33%.

Trong các trường hợp soi buồng tử cung các thủ thuật can thiệp như: sinh thiết

(2,3%); nạo buồng tử cung do quá sản (3,4%); cắt polype buồng tử cung

(8,4%); cắt dính buồng tử cung (18,3%). Các tỉ lệ này cao bởi kết quả soi

buồng tử cung trong nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ bệnh nhân bị quá sản niêm

mạc tử cung, polype buồng tử cung và dính buồng tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất.

Dính BTC hay xảy ra sau các can thiệp vào BTC đặc biệt sau đẻ hoặc sảy

thai từ một đến bốn tuần. Đây là thời điểm dễ gây thương tổn do niêm mạc TC

nhạy cảm với sang chấn, lớp niêm mạc bị mất đi để lộ ra lớp cơ TC, lớp này

dính vào thành TC đối diện gây ra các tổn thương dính [46].

Người bệnh bị dính BTC thường đến khám do vơ sinh, kinh ít hoặc vô

kinh, đau bụng, biến chứng của thai nghén, đôi khi được phát hiện tình cờ qua

chụp X quang TC- VTC hay soi BTC.

Asherman là người đã mô tả đầy đủ hình ảnh dính BTC trên phim chụp

X quang. Dính BTC tạo nên những hình khuyết khi bơm thuốc, các tổn

thương luôn giống nhau và quan sát thấy trên mọi phim dù bơm thuốc nhiều

hay ít vào BTC. Đơi khi thủ thuật này giúp làm tách dính được những tổn

thương mới mắc nhờ vào việc bơm thuốc vào BTC dưới áp lực làm tách hai

thành TC ra khỏi nhau, như vậy những tổn thương sẽ khơng còn nhìn rõ trong

các phim chụp sau. Trường hợp dính eo TC thì thuốc cản quang không vào

được BTC và chỉ vẽ nên ống CTC hình ảnh ngón tay găng [32].

Dính BTC có rất nhiều yếu tố về lâm sàng cũng như cận lâm sàng khác

nhau. Mỗi triệu chứng có một vai trò nhất định giúp người thầy thuốc hướng

tới chẩn đốn nó.



52



Trong lơ nghiên cứu của Cisse về dính BTC, lý do đến khám bệnh của

dính BTC là vơ sinh thứ phát 60%, vơ kinh nguyên phát là 33,3% và đau tiểu

khung là 6,7% [47]. Khoảng 90% trường hợp dính BTC gặp sau nạo có liên

quan đến thai nghén [48].

Nong và nạo khơng có giá trị chẩn đốn các dính trong BTC. Đối với

trường hợp khi đưa thước đo vào BTC khó khăn, BTC hẹp lại gợi ý tới một

dính BTC [40]. Test progesteron nếu không chảy máu sau khi dừng thuốc trên

bệnh nhân vơ kinh với đường biểu diễn nhiệt độ có 2 pha phải nghĩ tới một

dính BTC [40].

Klein và Garcia phát hiện 40% dính BTC ở những bệnh nhân kinh thưa,

kinh ít sau nạo BTC [46].

Momose phát hiện 3,8% dính BTC trong vơ sinh thứ phát.

Soi BTC có giá trị chẩn đốn xác định dính xuất hiện như các dải, các

cột, thậm chí thành mảng nối hai mặt của BTC. Rất hiếm khi chẩn đốn nhầm

dính BTC với vách ngăn TC khi tồn tại mảng dính dày ở giữa đáy BTC. Soi

BTC còn có tác dụng điều trị dính BTC: với những dính mới và ít lan toả có

thể tách dính ngay bằng đèn soi, với những cột dính dày và mảng dính thì cần

dùng những dụng cụ chun biệt. Phẫu thuật tách dính BTC đòi hỏi phẫu

thuật viên có kinh nghiệm và biến chứng rất dễ xảy ra [47].

Valle. Rafael đã phân loại dính BTC làm 3 giai đoạn theo mức độ rộng và

sâu qua chụp X quang và soi BTC [40]:

- Dính nhẹ: các dính mỏng bao gồm mơ niêm mạc TC. Dính vừa: dính

xơ- cơ còn được che phủ bởi niêm mạc TC, còn chảy máu khi cắt dính.

- Dính nặng: chỉ bao gồm mơ liên kết xơ khơng được phủ bởi niêm mạc

TC, khơng còn khả năng chảy máu khi cắt các dải dính này.

Theo Donnez: chẩn đốn dính BTC bằng soi BTC là cần thiết vì một số

bệnh có thể chẩn đốn nhầm khi xem phim chụp BTC [49]. Ông cho rằng chụp



53



X quang BTC là phương pháp gián tiếp có những chẩn đốn dương tính giả, soi

BTC cho phép quan sát trực tiếp nó chính là chẩn đốn đại thể xác định tồn tại

dính BTC, mức độ dính, vị trí dính, ranh giới dính BTC, từ đó nó cho phép

điều trị ngoại khoa cắt dính bằng soi BTC [40].

Từ lâu việc chẩn đốn dính BTC nhờ chụp X quang nhưng kết luận của

nó khơng phải là tuyệt đối vì nhiều hình khuyết được đọc là dính BTC trong

khi đó là polype hoặc u cơ nhẵn dưới nội mạc TC hoặc chỉ là BTC bình thường

trong khi khơng có bóng cản quang trên phim chụp X quang.

Tuy vậy chụp TC - VTC vẫn là một phương pháp tốt để phát hiện và theo

Barbot và cộng sự phải làm trước khi soi BTC trong những trường hợp nghi

ngờ dính nhiều hoặc dính cũ [50].

Soi BTC, khơng thể đánh giá được bệnh lý VTC và bệnh lý xung quanh

TC: nên đối với trường hợp không thể bỏ qua chụp X quang TC tìm ngun

nhân vơ sinh. Nghiên cứu của Đặng Thị Minh Nguyệt [35], có 19 trường hợp

dính BTC 1 trường hợp trên chụp X quang BTC hoàn tồn bình thường, trường

hợp này khi soi BTC có dải xơ dính mỏng, và dính ít nằm ở mặt trước đáy TC.

Còn 10 trường hợp phim chụp X quang BTC biến dạng, soi BTC đều là những

trường hợp dính nhiều, dính cũ, giải xơ dính dày, trắng, 8 trường hợp khác là

dính ít hoặc dính bên trên phim chụp X quang có hình khuyết hoặc bờ khơng

đều 1 trường hợp khác khi chụp X quang BTC có hình khuyết, nghĩ đến polype

BTC, khi soi BTC khơng có polype mà là một dính BTC.

Dính BTC có thể quan sát trực tiếp bằng soi BTC cho phép chẩn đốn

chính xác nhất và điều trị dưới nhìn kiểm tra. Một số tác giả khác đã chỉ ra lợi

ích lớn của phương pháp này [46].

Những trường hợp dính thành ổ và làm tắc BTC thì việc cắt dính là đơn

giản. Khơng cố gắng lấy đi chỗ dính chỉ cần cắt ở chính giữa sau đó những



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong 6 trường hợp có kết quả mô bệnh học là quá sản niêm mạc tử cung thì soi Buồng tử cung phát hiện được 4 trường hợp quá sản nội mach tử cung, độ nhạy của soi BTC trong chẩn đoán quá sản nội mạc tử cung là 66,7% (4/6); độ đặc hiệu là 56,6% (17/30); giá

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×