Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mô tả các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh nhân có chỉ định soi buồng tử cung trong điều trị vô sinh.

Mô tả các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh nhân có chỉ định soi buồng tử cung trong điều trị vô sinh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



Chương 1

TỔNG QUAN

1.1. Vơ sinh

1.1.1. Đại cương

Vơ sinh là tình trạng khơng có thai sau một thời gian nhất định chung

sống vợ chồng mà không áp dụng một biện pháp tránh thai nào, hiện nay tổ

chức y tế thế giới quy định là một năm.

Vơ sinh là tình trạng khá phổ biến, có khoảng 10 - 15% số cặp vợ chồng

bị vô sinh [1].

Người ta chia làm vô sinh nguyên phát (VSI) và vô sinh thứ phát (VSII).

Vô sinh nguyên phát là chưa hề có thai lần nào sau một năm chung sống vợ

chồng, vô sinh thứ phát là chưa có thai lại sau lần có thai trước được một năm.

Những trường hợp có ngun nhân hiển nhiên thì khơng cần tính mốc thời

gian, ví dụ như vợ vơ kinh, chồng liệt dương, ... thì điều trị vơ sinh ngay [2].

1.1.2. Điều kiện cần phải có để thụ thai

- Phải có nỗn đủ chất lượng tốt được phóng ra khỏi buồngtrứng.

- Tinh trùng đủ số lượng và chất lượng.

- Có sự gặp gỡ giữa tinh trùng và noãn.

- Một tinh trùng phải chui được vào trong noãn để thụ tinh tạo thành trứng.

- VTC thơng tốt, có nhu động thích hợp, sinh lý để trứng di chuyển vào

trong tử cung được.

- Niêm mạc tử cung được chuẩn bị sẵn sàng để đón trứng vào làm tổ.

- Trứng phát triển được trong tử cung [3].

1.1.3. Nguyên nhân vô sinh

Nguyên nhân vô sinh vơ cùng phức tạp. Việc chẩn đốn ngun nhân đòi

hỏi một q trình thăm khám tỉ mỉ, kết hợp với những xét nghiệm thăm dò



4



phong phú chính xác. Vơ sinh nam là trường hợp ngun nhân vơ sinh hồn

tồn do người chồng, vợ bình thường. Vơ sinh nữ là trường hợp ngun nhân

vơ sinh hồn tồn do người vợ, chồng bình thường. Có những trường hợp vơ

sinh mà ngun nhân do cả hai vợ chồng. Vô sinh không rõ nguyên nhân là

những trường hợp làm các xét nghiệm thăm dò hiện có nhưng khơng tìm thấy

ngun nhân nào.

- Vơ sinh nam: chiếm khoảng 36%

+ Bất thường bẩm sinh như là rối loạn nhiễm sắc thể: hội chứng

Klinefelter (XXY), hội chứng Kallmann và hội chứng Kartagener.

+ Tổn thương bìu hoặc tinh hồn trước đó, bao gồm cả cắt ống dẫn tinh,

tạo ra các kháng thể kháng tinh trùng.

+ Biến chứng bệnh quai bị.

+ Khơng có tinh trùng.

+ Tinh trùng kém về số lượng hoặc chất lượng.

+ Tắc ống dẫn tinh hoặc khơng có ống dẫn tinh.

+ Khơng có khả năng cương.

+ Nhiễm trùng đường sinh dục nam.

+ Sử dụng thuốc, đặc biệt các steroids đồng hố.

+ Vơ sinh ngun phát.

+ Teo tinh hồn do hố liệu pháp.

+ Xuất tinh ngược dòng sau phẫu thuật tuyến tiền liệt, phẫu thuật cổ

bàng quang hay vấn đề dẫn truyền thần kinh tại cổ bàng quang [4].

- Vô sinh nữ: chiếm khoảng 54%

+ Bất thường bẩm sinh ở tử cung hay buồng trứng.

+ Do buồng trứng, rối loạn phóng nỗn, mãn kinh sớm.

+ Do VTC: tắc VTC, ứ dịch hay ứ mủ VTC.

+ Do tử cung: u xơ tử cung, dị dạng tử cung (vách ngăn tử cung, tử

cung hai sừng, tử cung đôi,...).



5



+ Do niêm mạc tử cung: polype BTC, dính BTC, viêm niêm mạc tử cung, ...

+ Do CTC, rối loạn tiếp nhận tinh trùng [5].

- Vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm khoảng 10%.

1.1.4. Các thăm dò đối với cặp vợ chồng vơ sinh

1.1.4.1. Thăm dò đối với người vợ

- Kiểm tra mầm bệnh gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới.

- Kiểm tra độ thông của VTC bằng chụp phim tử cung - VTC.

- Thăm dò độ thâm nhập của tinh trùng vào chất nhầy cổ tử cung (CTC)

trên kính hoặc qua chứng nghiệm Huhner (chứng nghiệm sau giao hợp, tìm

tinh trùng trong chất nhầy CTC của người vợ).

- Kiểm tra sự phóng nỗn: đường cong thân nhiệt cơ sở, chỉ số CTC,

sinh thiết niêm mạc TC vào nửa sau của vòng kinh hoặc vào đầu của vòng

kinh sau, định lượng progesteron vào nửa sau của vòng kinh. Khác với nhận

xét trước kia, hiện nay tế bào học âm đạo nội tiết khơng còn là xét nghiệm

chính xác để chẩn đốn phóng nỗn nữa.

- Kiểm tra khả năng tiếp nhận phơi làm tổ của niêm mạc TC bằng sinh

thiết niêm mạc TC vào nửa sau của vòng kinh hoặc đầu vòng kinh sau xem có

hình ảnh chế tiết của các tuyến khơng. Sinh thiết niêm mạc TC có hai tác

dụng: xem khả năng phóng nỗn và xem khả năng làm tổ.

- Siêu âm theo dõi sự phát triển của nang noãn và niêm mạcTC.

- Xét nghiệm máu: xét nghiệm nội tiết (FSH, LH, Prolactin, Progesteron),

Chlamydia- xét nghiệm sàng lọc có tổn thương VTC,Rubella,...

- Mổ nội soi, soi BTC.

1.1.4.2. Xét nghiệm thăm dò ngườichồng

- Tinh dịch đồ: đánh giá lượng tinh dịch, số lượng tinh trùng trong 1mm 3,

tỉ lệ tinh trùng khoẻ, tỉ lệ tinh trùng dị dạng. Theo Tổ chức y tế thế giới, nếu

lượng tinh trùng ≥ 20.000/mm3 thì được coi là bình thường.



6



- Chứng nghiệm Huhner.

1.1.5. Điều trị cho cặp vợ chồng vô sinh

- Nguyên tắc chung: khám và điều trị cho cả hai vợ chồng theo nguyên nhân.

- Các phương pháp điều trị cho vợ: điều trị chống viêm nhiễm, kích

thích phóng nỗn, điều trị tắc vòi tử cung (VTC) (bằng phẫu thuật nội soi), hỗ

trợ sinh sản (bơm tinh trùng vào BTC, thụ tinh trong ống nghiệm).

- Các phương pháp điều trị cho chồng: điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật

tuỳ theo nguyên nhân.

1.2. Độ nhạy và độ đặc hiệu [6]

Độ nhạy của một xét nghiệm là tỷ lệ những trường hợp thực sự có bệnh

và có kết quả xét nghiệm dương tính trong tồn bộ các trường hợp có bệnh.

Cơng thức để tính độ nhạy như sau:

độ nhạy = số dương tính thật/(số đương tính thật + số âm tính giả)

Độ đặc hiệu của một xét nghiệm là tỷ lệ những trường hợp thực sự

không có bệnh và có kết quả xét nghiệm âm tính trong tồn bộ các trường hợp

khơng bị bệnh. Độ đặc hiệu được tính theo cơng thức sau:

Độ đặc hiệu = Số trường hợp âm tính thật/ (số trường hợp âm tính thật

+ số trường hợp dương tính giả)

1.3. Các phương pháp thăm dò bệnh lý buồng tử cung

1.3.1. Siêu âm

*



Định nghĩa siêu âm



Siêu âm là sóng âm có tần số rất cao trên 1600 hertz (Hz) mà thính giác

con người khơng thể nghe được. Sóng siêu âm chỉ truyền được trong môi

trường vật chất và gây ra những biến đổi cơ học có tác dụng như một lực làm

chuyển động các phần tử của mơi trường đó [7].

Trong chẩn đốn, siêu âm được giới hạn trong khoảng 1-10 MHz. Siêu

âm trong sản khoa có tần số từ 3-5 MHz cho đường bụng, từ 5-10 MHz cho



7



đường âm đạo [7].

* Sơ lược lịch sử siêu âm

Năm 1880, Pierre Curie đã khám phá ra tác dụng của áp điện cho phép

sản xuất những sóng siêu âm nhân tạo.

Năm 1955, Donald và Brown đã tạo ra những tiếp xúc đầu tiên của siêu

âm với mơi trường nước và hồn thiện phương pháp siêu âm 2 chiều.

Từ những năm 1970, nhờ các cuộc cách mạng về điện tử và điện toán,

siêu âm đã phát triển vượt bậc như siêu âm 3 - 4 chiều, siêu âm bơm nước

buồng tử cung cho phép chẩn đoán chính xác hơn, đặc biêt an tồn nhất là cho

sản phụ và thai.

1.3.2. Chụp tử cung vòi tử cung có bơm thuốc cản quang

+ Sơ lược về sự phát triển kỹ thuât chụp tử cung vòi tử cung

Kỹ thuât chụp tử cung vòi tử cung là kỹ thuât chụp X quang có chuẩn bị

để đánh giá hình thái của buồng tử cung và sự thơng của các vòi tử cung bằng

cách bơm thuốc cản quang có iod vào trong buồng tử cung và vòi tử cung.

Trong kỹ thuật này người ta sử dụng mơt dụng cụ đặc biệt có đồng hồ đo

áp lực để bơm thuốc cản quang vào trong buồng tử cung và các vòi tử cung

trong thời gian thích hợp của chu kỳ kinh nguyệt (sau khi sạch kinh từ 3 - 5

ngày) với mục đích đánh giá hình thái buồng tử cung, phát hiện các tổn

thương ở buồng tử cung cũng như vị trí và mức độ tắc nghẽn của vòi tử cung

+Phương pháp chụp tử cung vòi tử cung với thuốc cản quang tan trong nước

(Telebrix)

Telebrix (Meglumine ioxitalamate) là thuốc cản quang đơn phân

(monome) ion hoá, tan trong nước, có tỷ lệ các nguyên tử iod và các phần tử

trong dung dịch là 1,5, thuốc có độ thẩm thấu cao nên cản quang tốt. Đây là

thuốc cản quang được dùng thông dụng hiện nay trong kỹ thuật chụp tử cung

vòi tử cung, thay thế thuốc cản quang lipiodol. Sử dụng thuốc cản quang



8



trong nước (iodamic meglumin) không căn cứ vào tác dụng dược lý của

thuốc mà dựa vào sự phân bố và bài tiết của thuốc trong cơ thể. Các hợp

chất iod hữu cơ tăng khả năng hấp thu X quang khi đi qua cơ thể và được

sử dụng để đồ hoạ cấu trúc cơ thể tại những nơi thuốc tiếp giáp. Mức đ ộ

cản quang phụ thuộc vào nồng độ và thể tích chất cản quang chứa iod trên

đường đi của tia X [8].

Trong kỹ thuật chụp tử cung vòi tử cung thuốc cản quang telebrix được

đưa vào trong buồng tử cung, vòi tử cung, và sau đó thuốc được lưu thơng

vào trong ổ bụng rồi ngấm vào máu rồi sau đó được thải trừ theo đường tiết

niệu [8].

Tác dụng phụ của thuốc cản quang telebrix: trong kỹ thuật chụp tử

cung vòi tử cung với thuốc cản quang telebrix, thuốc gây tác dụng phụ, nếu

có thì có phản ứng dị ứng nhẹ như nổi mẩn, ngứa... Đối với những bệnh

nhân có tâm trạng lo lắng, khơng n tâm về mặt bệnh tật thì hay gặp các

phản ứng gây co thắt cơ trơn và bệnh nhân có các triệu chứng như đau bụng,

buồn nơn..

+ Ưu điểm của kỹ thuật chụp tử cung vòi tử cung với thuốc cản quang

tan trong nước

Kỹ thuật chụp tử cung vòi tử cung với thuốc cản quang có iod tan trong

nước có những ưu điểm sau:

- Đây là kỹ thuật dễ thực hiên.

- Cho hình ảnh rõ nét, cố định trên phim.

- Cho phép đánh giá tình trạng hình thái buồng tử cung như: thể tích

buồng tử cung, các dị tật bẩm sinh buồng tử cung (tử cung đôi, tử cung hai

sừng...). Các tổn thương buồng tử cung như: viêm dính niêm mạc buồng tử

cung, quá sản niêm mạc buồng tử cung, polype buồng tử cung, u xơ dưới

niêm mạc buồng tử cung.



9



Các tai biến có thể gặp trong chụp buồng tử cung

- Đau

- Choáng phản vệ với iod

- Chảy máu: do cặp cổ tử cung

- Thủng tử cung

- Nhiễm trùng: có thể gây viêm phúc mạc tiểu khung hoặc viêm dính tại chỗ

1.3.3. Soi buồng tử cung

- Lịch sử soi buồng tử cung

Mỏ vịt là dụng cụ cổ nhất được sử dụng trong kỹ thuật nội soi sản khoa,

nó được biết đến từ thời cổ Hy Lạp và được sử dụng nhiều hơn dưới thời

trung cổ và những thế kỷ sau đó.

Vào năm 1853, Désormaux đã dùng thuật ngữ "ống nội soi" để đặt tên

cho dụng cụ đầu tiên được dùng trong lĩnh vực y khoa. Ống nội soi là một

ống khoét rỗng trên đó có một cái đèn và có ống thơng hơi [9].

Năm 1928, Gauss đã mở đầu một loạt các trường hợp nội soi buồng tử

cung trong đó sử dụng nước để làm căng buồng tử cung. Vì máu chảy ra có

thể hồ lẫn vào nước cản trở quan sát buồng tử cung làm cho phương pháp

này không tiên lợi. Hơn nữa các tác giả Gauss, Schroeder và Segond lại quan

tâm tới những rủi ro có thể do nước vào ổ bụng và lọt vào hệ thống mạch

máu. Năm 1962, Silander đã cố gắng làm giãn buồng tử cung bằng cách đưa

bóng trong suốt vào nhưng khơng có kết quả [9].

Nhờ những cải tiến về dụng cụ quang học và chiếu sáng cũng như các chất

trung gian làm căng buồng tử cung, kỹ thuật này đã có nhiều tiến bộ rõ rệt.

* Các kỹ thuật hiện đại soi buồng tử cung từ xa

+ Làm căng buồng tử cung:

Sau năm 1970, các tác giả Lindemann ở Đức và Porto ở Pháp đã sử



10



dụng lại kỹ thuật này và đã cải thiện việc làm căng tử cung bằng khí CO2.

Việc hoàn chỉnh kỹ thuật bơm hơi làm cho những sự cố do khí CO 2 tràn ồ ạt

vào mạch máu khó có thể xảy ra.

+ Dụng cụ quang học:

Dụng cụ quang học đã có bước tiến quan trọng bắt đầu từ năm 1960,

khi Hopkins thay thế các thấu kính mỏng bằng thuỷ tinh trong các ống soi

cổ điển bằng các đũa thuỷ tinh dài được ngăn cách bằng các "thấu kính

khơng khí" mỏng. Dụng cụ mới này có độ chiếu sáng cao và độ mở rộng

cho phép giảm bớt đường kính ống soi và khơng cần nong CTC. Các thiết bị

quang học mềm dẻo được làm bằng các màng sợi thuỷ tinh vốn được sử

dụng trong nhiều lĩnh vực của nội soi nhưng không tiên dụng trong soi

buồng tử cung [9].

+ Nguồn chiếu sáng:

Năm 1952, Vulmière đã đem đến một thay đổi lớn khi thay thế chiếc đèn

bên trong có độ chiếu sáng hạn chế do cồng kềnh và làm nóng thiết bị bằng

một chiếc đũa quartz có thể truyền ánh sáng đã được lọc từ một nguồn sáng

mạnh ở bên ngoài. Từ năm 1965, phương pháp "ánh sáng lạnh" được phổ cập

rộng rãi nhờ kỹ thuật truyền ánh sáng bằng mạng sợi thuỷ tinh không đồng

nhất [9].

Tại Việt Nam, Bệnh viện Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu ứng

dụng kỹ thuật nội soi từ năm 1993. Bênh viên Phụ sản Trung ương thực hiện

soi buồng tử cung với máy soi của hãng K.Storz vào năm 1998. Kỹ thuật này

tuy ban đầu chưa thể áp dụng rộng rãi ở các bệnh viện trên toàn quốc nhưng

với sự trợ giúp của video camera đã giúp cho công tác đào tạo dễ dàng hơn,

tăng sự an toàn trong can thiệp, nó được nhiều bác sĩ ưa chuộng và đòi hỏi

của người bệnh ngày càng nhiều [10].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mô tả các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh nhân có chỉ định soi buồng tử cung trong điều trị vô sinh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×