Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



- Hội chứng Mounier - Kuhn: thường gặp ở nam giới tuổi 30 – 40. GPQ

kèm theo phì đại khí quản và viêm xoang sàn, xoang má, thường có viêm mũi

mủ, polyp mũi. Bệnh do khuyết tật cấu trúc tổ chức liên kết thành khí phế quản.

- Hội chứng Williams - Campbell: thường gặp ở trẻ nhỏ do khuyết tật

hoặc khơng có sụn phế quản, gây GPQ.

1.1.3.2. Do viêm hoại tử ở thành phế quản

GPQ sau nhiễm khuẩn phổi như lao, viêm phổi do vi khuẩn, virus sởi, ho

gà, do dịch dạ dày hoặc máu bị hít vào phổi, hít phải khói hơi độc, do nhiễm

khuẩn phế quản tái diễn, chiếm 24% các căn nguyên đã biết [15].

1.1.3.3. Do bệnh xơ hóa kén

GPQ gặp trong 50% các trường hợp xơ hóa kén, thường gặp nhất ở Châu

Âu và Bắc Mỹ. GPQ thường xuất hiện vào giai đoạn muộn của bệnh xơ hóa kén.

1.1.3.4. Do phế quản lớn bị tắc nghẽn

Lao hạch phế quản, hoặc dị vật rơi vào phế quản ở trẻ em, u phế quản hoặc

sẹo xơ gây chít hẹp phế quản sau khi phế quản bị dập vỡ lớn do chấn thương

lồng ngực. Dưới chỗ chít hẹp áp lực nội phế quản tăng lên và dịch tiết phế quản

ứ đọng gây nên nhiễm khuẩn mạn tính tại chỗ rồi phát triển thành GPQ.

1.1.3.5. Do tổn thương xơ hoặc u hạt co kéo thành phế quản

Trong lao xơ phổi, lao xơ hang, áp xe phổi mạn tính, bệnh phế nang viêm

xơ hóa. GPQ sau lao có thể phát triển theo hai cơ chế sau: (1) Do nhu mô phổi bị

phá hủy và xơ hóa dẫn đến co kéo và GPQ khơng hồi phục. (2) Chít hẹp phế

quản do xơ sẹo sau lao nội phế quản cục bộ. Phần lớn tổn thương lao là ở các

phân thùy đỉnh và phân thùy sau của thùy trên nên các triệu chứng thường nghèo

nàn. Ho ra máu là triệu chứng hay gặp ở thể GPQ này.

1.1.3.6. Rối loạn thanh lọc nhầy nhung mao

GPQ có thể phát triển trong:

- Hội chứng rối loạn vận động nhung mao.



5



- Rối loạn vận động nhung mao thứ phát trong bệnh hen phế quản.

Các trường hợp này vi khuẩn phát triển ở đường hô hấp dưới.

1.1.3.7. Rối loạn cơ chế bảo vệ phổi

Suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải như giảm gamma globulin

máu, giảm chọn lọc IgA, IgM, IgG, do dùng thuốc gây độc tế bào, nhiễm

HIV/AIDS, đa u tủy xương, bệnh bạch cầu mạn tính.

1.1.3.8. Do đáp ứng miễn dịch quá mức ở trong bệnh aspergillus phổi phế

quản dị ứng.

Đây là phản ứng miễn dịch bán chậm với sự lắng đọng kháng thể kết tủa

(IgM, IgG) ở thành phế quản, mà hậu quả của phản ứng miễn dịch typ III này

(theo Gell – Coombs) là phát triển GPQ. Đáp ứng miễn dịch quá mức cũng có

thể xảy ra sau ghép phổi.

1.1.3.9. Giãn phế quản vơ căn

GPQ vơ văn có thể do rối loạn thanh lọc phổi phế quản nhưng bị bỏ qua.

50% GPQ là không rõ nguyên nhân, trong số tìm được nguyên nhân thì nhiễm

khuẩn được coi là căn nguyên quan trọng gây GPQ [11], [12].

1.1.4. Cơ chế bệnh sinh của GPQ

GPQ có thể bẩm sinh do yếu tố di truyền nhưng cũng có thể do yếu tố

mắc phải. Ba cơ chế quan trọng nhất là nhiễm khuẩn, tắc nghẽn phế quản và

xơ hóa quanh phế quản. Bình thường, hệ thống thanh lọc nhầy của lơng

chuyển ở thanh – khí – phế quản có chức năng loại bỏ các vi khuẩn thâm

nhập, bảo vệ bộ máy hô hấp khỏi bị nhiễm khuẩn. Khi hệ thống này bị tổn

thương hoặc bị khuyết tật sẽ dẫn đến tình trạng vi khuẩn dễ kết dính vào biểu

mơ, gây viêm thành phế quản, dần dần làm phế quản bị phá hủy và bị giãn ra

[16] [17], [18].

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy: tắc nghẽn và nhiễm trùng sau chỗ

tắc nghẽn là hai yếu tố có trước cho sự hình thành GPQ. Thành phế quản bị



6



tổn thương do ảnh hưởng trực tiếp của vi khuẩn và do viêm mãn tính. Hai q

trình này tạo thành vòng xoắn bệnh lý đưa đến tổn thương hệ thống thanh lọc

nhầy của nhung mao, tổn thương thành phế quản không hồi phục và hậu quả

là giãn phế quản, tổn thương phổ tiến triển [19], [20], [21].

* Đường vào: những tác nhân gây viêm phổi có thể theo đường vào sau đây:

- Hít phải vi khuẩn ở mơi trường bên ngồi, trong khơng khí.

- Hít phải vi khuẩn từ các ổ nhiễm khuẩn của đường đường hô hấp trên.

- Vi khuẩn theo đường máu từ các ổ nhiễm khuẩn xa.

- Nhiễm khuẩn do đường tiếp cận của phổi.

1.2. Chẩn đoán GPQ

1.2.1. Triệu chứng lâm sàng.

1.2.1.1. Triệu chứng toàn thân.

GPQ là bệnh đa dạng về triệu chứng, từ khơng có hoặc có ít biểu hiện

lâm sàng hằng ngày cho đến đợt cấp thường xuyên phải nhập viện dẫn đến sự

suy giảm nhanh chức năng của phổi [6], [22], [23].

- Suy hô hấp chỉ xảy ra ở những bệnh nhân có tổn thương GPQ lan tỏa

rộng 2 bên phổi.

- Các triệu chứng kèm theo: GPQ thường kèm theo các bệnh đường hô

hấp trên như viêm mũi xuất tiết, viêm mũi sau (75%), viêm xoang mủ (gặp

30-40%).

Nói chung triệu chứng tồn thân phụ thuộc vào mức độ nguyên nhân và

biến chứng của bệnh.

1.2.1.2. Triệu chứng cơ năng

- Khạc đờm: thường gặp, đờm mủ. Khi để lắng đờm có 3 lớp: lớp trên là

bọt, lớp giữa là nhầy mủ, lớp dưới là mủ đục. Bệnh nhân sốt cao kéo dài,

những đợt cấp thường có sốt và khạc đờm nhiều.



7



- Ho ra máu: thường ho ra máu thể trung bình, tái phát nhiều lần, kéo dài

trong nhiều năm, có khi khơng khạc đờm mà chỉ khạc ra máu, đó là trường

hợp GPQ khơ, hay gặp ở thùy trên của phổi.

- Khó thở: biểu hiện của suy hơ hấp.

- Đau ngực: là dấu hiệu sớm của nhiễm khuẩn phổi ở vùng GPQ.

1.2.1.3. Triệu chứng thực thể

- Khám phổi có thể khơng thấy gì hoặc nghe thấy ran ẩm, ran phế quản ở

những vùng có tổn thương, có khi nghe thấy tiếng thổi hang (thổi hang giả) có

khi khám thấy hội chứng đơng đặc co rút khi có xẹp phổi.

- Khám đường hơ hấp trên: có thể thấy viêm mũi họng mạn tính, viêm

xoang mạn tính (60-80%).

- Móng tay khum, ngón dùi trống.

1.2.2. Cận lâm sàng

* X- quang phổi chuẩn:

Các hình ảnh X-quang thường gặp là:

- Thành phế quản tạo thành các đường song song.

- Thể tích của thùy phổi có GPQ nhỏ lại.

- Có thể thấy hình ảnh viêm phổi tái diễn nhiều lần tại vùng GPQ.

- Hình ảnh giống ngón tay đi găng.

* Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT):

Đây là kỹ thuật hiện đại có thể phát hiện chính xác GPQ. Trong những

năm gần đây, chụp cắt lớp vi tính mỏng độ phân giải cao đã trở thành tiêu

chuẩn vàng để chẩn đoán giãn phế quản, độ nhạy 87% đến 97% và độ đặc

hiệu 93% đến 100% [24].

Các dấu hiệu:

+ Đường kính trong của phế quản lớn hơn động mạch đi kèm.

+ Các phế quản không nhỏ dần được quy định là khi 1 phế quản trên một

đoạn dài 2cm có đường kính tương tự phế quản đã phân chia ra phế quản đó.



8



+ Thấy phế quản ở cách thành ngực dưới 1cm.

+ Thấy phế quản đi sát vào màng phổi trung thất.

+ Thành phế quản dày.

* Thăm dò chức năng hơ hấp:

Một số trường hợp chức năng hơ hấp khơng có gì biến đổi.

Một số trường hợp có thể biểu hiện rối loạn thơng khí tắc nghẽn

Hoặc một số trường hợp có rối loạn thơng khí hỗn hợp:

Khi có biểu hiện suy hơ hấp nhất là giai đoạn nặng thấy PaO2 giảm,

PaCO2 tăng trong máu.

* Soi phế quản:

Có thể thấy tình trạng niêm mạc phế quản bị viêm, xuất tiết, phế quản bị

gấp khúc, bị chít hẹp, giúp xác định vị trí chảy máu, và hút dịch phế quản tìm

vi khuẩn.

* Các xét nghiệm khác:

- Các xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn, nấm, làm kháng sinh đồ, cần xét

nghiệm nhiều lần để loại trừ lao.

- Khám tai mũi họng: chụp phim xoang để phát hiện hội chứng xoang –

phế quản.

- Làm điện tâm đồ để phát hiện tâm phế mạn.

* Chẩn đoán xác định bệnh GPQ: Dựa vào chụp cắt lớp vi tính ngực lớp

mỏng độ phân giải cao.

1.3. Tổng quan về phục hồi chức năng hô hấp trong bệnh GPQ.

Các khái niệm và nội dung chương trình phục hồi chức năng hơ hấp

(PHCNHH) được sửa đổi liên tục và bao hàm rất rộng [25], [26], [27], trong

nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập tới một phần nhỏ của phục hồi chức năng

hô hấp bao gồm các thao tác cơ học bên ngoài như: phương pháp vỗ rung, dẫn

lưu đờm theo tư thế, ho có kiểm sốt, thở hồnh và đi bộ thể dục [28].



9



1.3.1. Vỗ rung, dẫn lưu tư thế

Vỗ rung và dẫn lưu tư thế là phương pháp điều trị nhằm giải phóng đờm

dịch ra khỏi phổi nhờ chủ động tác động một lực cơ học và các kỹ thuật trị

liệu hơ hấp, giúp cho đường thở thơng thống, góp phần tích cực vào việc phục

hồi chức năng bộ máy hơ hấp.

1.3.1.1. Chỉ định

* Mục đích: phòng tích tụ và tống thải dịch, đờm bị ứ đọng ra khỏi phổi.

- Bệnh nhân đang thở máy.

- Bệnh nhân phải nằm điều trị tại giường lâu ngày, hạn chế hô hấp do

đau, suy kiệt, xẹp phổi do ứ đọng đờm dãi nhiều không khạc được, đặc biệt

là ở người già, những bệnh nhân bất động hoặc bệnh nhân có vết thương ở

ngực, bụng…

- Các bệnh về phổi như: giãn phế quản, xơ phổi, áp xe phổi, viêm phổi…

- Ở những bệnh nhân giảm phản xạ ho khạc, rối loạn ý thức do ngộ độc

thuốc, u thân não, hôn mê.

* Lưu ý: Không vỗ rung quá mạnh gây đau cho bệnh nhân.

Các trường hợp có bệnh lý xương sườn, chấn thương ngực.

Người bệnh già yếu, ho ra máu.

Thận trọng với người bệnh có tăng huyết áp và bệnh tim mạch.

Không thực hiện khi người bệnh đang khó thở hoặc bị trào ngược dạ dày

thực quản.

1.3.1.2. Phương pháp

* Chuẩn bị bệnh nhân

- Làm loãng đờm: Đờm thường nhầy qnh, dính. Làm lỗng đờm có vai

trò quan trọng tạo điều kiện cho việc thải đờm được thuận lợi hơn.

- Xác định vị trí của tắc nghẽn đờm: Trước vỗ rung và dẫn lưu tư thế, bệnh

nhân cần được khám tỉ mỉ để xác định chính xác tư thế cần thiết cho việc vỗ

rung dẫn lưu tư thế với nguyên tắc là vùng định dẫn lưu sẽ ở vị trí trên cao.



10



* Kỹ thuật vỗ rung lồng ngực

- Bệnh nhân được nằm hoặc ngồi ở tư thế đã chọn tuỳ thuộc vào vị trí

tổn thương. Bệnh nhân phải thư giãn hoặc chùng cơ khi vỗ.

- Kỹ thuật viên đứng hoặc ngồi ở tư thế thuận tiện. Bàn tay của kỹ thuật

viên chụm vào, các ngón tay khép vào, khi vỗ sẽ tạo ra một đệm không khí

giữa tay và lồng ngực.

- Vai, khuỷu tay, cổ tay kỹ thuật viên ở trạng thái thoải mái, dễ dàng và

mềm mại, không lên gân. Bàn tay luôn ở tư thế chụm lại.

- Hai tay vỗ nhịp nhàng và di chuyển trên thành ngực của bệnh nhân với

lực đều nhau. Yếu tố thư giãn trên người bệnh là do nhịp điệu và tốc độ khi vỗ.

- Tốc độ vừa phải, từ nhẹ rồi mạnh dần lên để bệnh nhân thích nghi được

với can thiệp, đến mức độ bệnh nhân chấp nhận được và có cảm giác dễ chịu.

- Khơng nhất thiết phải vỗ mạnh quá, kỹ thuật có hiệu quả khi vỗ chụm

bàn tay chứ không phải vỗ càng mạnh càng có hiệu quả. Khơng nên gây đau

và khó chịu cho người bệnh.

- Kỹ thuật viên không nhất thiết phải đứng ở một chỗ cố định để vỗ

trong suốt thời gian điều trị. Bàn tay di chuyển vỗ rung lên trên, xuống dưới

hay xung quanh theo kiểu vòng tròn.

- Một khi đã bắt đầu vỗ rung thì nên liên tục trong khoảng 3 – 5 phút.

Ghi chú:

- Mỗi lần vỗ, rung cần kéo dài khoảng 15 – 30 phút tuỳ thuộc vào tình

trạng của từng bệnh nhân. Mỗi ngày làm 2 - 3 lần (sáng, chiều, tối).

- Nếu bệnh nhân gầy thì lót mảnh vải mỏng trên lưng trước khi vỗ rung.

* Dẫn lưu tư thế

- Bệnh nhân được đặt ở tư thế có thể ho khạc đờm, dịch ở trong phổi ra khỏi

phổi bằng đường khí phế quản được thuận lợi nhất. Đặt ở một tư thế phải duy trì ít

nhất từ 5 – 10 phút, nếu bị ứ đọng nhiều thì có thể để lâu hơn 20 - 30 phút.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×