Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 3.19: Diễn biến enzym GOT, GPT ở nhóm có biểu hiện tăng enzym transaminase

Biểu đồ 3.19: Diễn biến enzym GOT, GPT ở nhóm có biểu hiện tăng enzym transaminase

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm về tuổi

Trong NC của chúng tôi tuổi trung bình của BN là 46,7 ± 15 tuổi nhỏ nhất

là 16 tuổi, cao nhất là 71 tuổi. Nhóm tuổi 50 - 59 chiếm thành phần chủ yếu

(36,1%) tiếp theo là nhóm tuổi từ 16 - 29 tuồi (19,7%). Như vậy tuổi BN ngộ

độc trong NC của chúng tôi chủ yếu là tuổi trung niên, đứng thứ hai là nhóm

tuổi thanh niên. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tương tự nghiên

cứu của Phạm Như Quỳnh năm 2017 độ tuổi từ 50-59 chiếm 29,73% [1]. Tuổi

trung bình trong NC của chúng tơi cao hơn lứa tuổi trung bình trong NC của

Gholamzera với 51,1% BN từ 20 – 29 tuổi, chỉ có 23,5% BN trên 40 tuổi [22].

Nguyên nhân có thể do sự khác biết về văn hóa và lứa tuổi bắt đầu uống rượu.

Đặc điểm về giới tính

Trong quần thể NC nam giới chiếm thành phần chủ yếu 57 BN (93,4%)

trong khi chỉ có 4 BN nữ (6,6%). Ở Việt Nam có thể do nam giới có thói quen

uống rượu nhiều hơn nữ giới và tỉ lệ nam giới nghiện rượu cao hơn ở nữ. Do

vậy nguy cơ ngộ độc methanol lẫn trong rượu uống thông thường cao hơn. Tỉ

lệ nam giới trong NC của chúng tôi cũng tương tự tỉ lệ nam giới trong NC của

Nguyễn Đàm Chính năm 2013 với nam giới chiếm 90%, của Barceloux 91%,

của Beatty 80%, của Gholamzera 84,3%, của Phạm Như Quỳnh 96,67% [1],

[9],[15],[22].

Địa phương xảy ra ngộ độc

Thành phố Hà Nội là địa phương xảy ra ngộ độc nhiều nhất (67,2%),

tiếp theo đó là Hải Dương (8,2%), Vĩnh Phúc (6,6%). Hà Nội là nơi xảy ra



59



ngộ độc nhiều nhất có thể là do đây là địa phương xảy ra tình trạng bán rượu

tự pha chế từ cồn công nghiệp với giá rẻ hơn rượu nấu nhiều hơn tại các địa

phương khác. Hơn nữa đây là địa phương đơng dân có nhiều học sinh, sinh

viên và lao động phổ thông là đối tượng dễ tiếp cận với nguồn rượu rẻ tiền

trên thị trường. Ngộ độc ở các địa phương khác như Hải Dương, Vĩnh Phúc,

Phú Thọ và một số tỉnh lân cận Hà Nội chủ yếu là do uống cồn y tế.

Đặc điểm về nghề nghiệp

Trong NC của chúng tôi nghề nghiệp của BN gặp nhiều nhất là làm

ruộng với 22 BN chiếm 37,3% phần lớn BN này có nghiện rượu. Đứng hàng

thứ hai là đối tượng tự do có 19 BN chiếm 31,1%, các BN này cũng chủ yếu

là người nghiện rượu và khi được hỏi về nghề nghiệp thì gia đình BN cho biết

học thường khơng tham gia lao động sản xuất. Nghiên cứu của chúng tơi có tỉ

lệ sinh viên khá cao 09 BN chiếm 16,4%, do xảy ra vụ ngộ độc tập thể của

một nhóm 09 sinh viên của Cao đẳng Sư phạm Hải Dương. Cơng nhân có 06

bệnh nhân chiếm 9.8%, còn lại là các nghề khác.

Đường vào gây ngộ độc

Trong NC của chúng tôi, ngộ độc đường uống là chủ yếu 60/61 BN

chiếm 98,36%. Có 01 BN ngộ độc đường hô hấp chiếm 1,64% đây là trường

hợp một nam cơng nhân làm việc trong xí nghiệp sản xuất cồn khô làm nhiên

liệu. Bệnh nhân này bị ngộ độc là do hệ thống sản xuất bị rò rỉ làm hơi

methanol bốc ra vị trí làm việc và BN tiếp xúc với hơi methanol trong thời

gian dài mà không biết. Nghiên cứu của chúng tôi khác với NC của Nguyễn

Đàm Chính, Phạm Như Quỳnh, Barceloux ngộ độc đường uống là 100% [1],

[3],[15]. Điều này cho thấy rằng ngộ độc methanol đường hô hấp là rất hiếm

gặp. Nghiên cứu của Chen và cộng sự năm 2014 tại Đài Loan, ngộ độc đường

uống là 96,9%, có 01 BN cố ý tiêm trực tiếp methanol vào tĩnh mạch chiếm

3,1% [12]. Trong NC của chúng tôi, không gặp BN nào ngộ độc đường vào là



60



đường tĩnh mạch.

Hoàn cảnh và loại đồ uống gây ngộ độc

Hầu hết BN (81,97%) của chúng tôi ngộ độc methanol do uống nhầm

rượu có chứa methanol trong đó chủ yếu là đối tượng có nghiện rượu từ trước.

Tất cả đều không cố ý và không hề biết trong rượu đó có lẫn methanol. Ngộ

độc rượu có chứa methanol được cho là người sản xuất rượu lậu, rượu giả cố

ý pha methanol vào rượu để làm tăng thể tích rượu, do methanol được sản

xuất trong quy trình cơng nghiệp với giá thành rẻ chỉ bằng một phần ba đến

một phần hai rượu nấu truyền thống. Thậm chí có những cơ sở chỉ pha cồn

công nghiệp với nước lã và bán ra thị trường, cho nên có những mẫu rượu BN

đã uống mang đến chúng tơi xét nghiệm chỉ có methanol mà khơng có

ethanol. Bằng cách này họ có thể dễ dàng làm tăng lợi nhuận trong kinh

doanh nhưng lại tăng nguy cơ tiềm tàng khiến người tiêu dùng uống phải rượu

lẫn methanol dẫn đến ngộ độc có thể nguy hiểm tính mạng, nếu sống sót có

thể có di chứng suốt đời. Do vậy cần sự tham gia của giới truyền thông để

tuyên truyền cho người sản xuất rượu hiểu được tác hại của việc pha methanol

vào rượu uống đồng thời tăng cường công tác kiểm tra các cơ sở sản xuất

rượu và xử lý, ngăn chặn các cơ sở sản xuất rượu khơng phép.

Hồn cảnh xảy ra ngộ độc thứ hai là BN cố tình uống cồn y tế sát

khuẩn, trong đó có 16,39% BN uống với mục đích thỏa mãn cơn thèm rượu,

01 BN chiếm 1,64% uống cồn y tế với mục đích tự tử. Đáng chú ý là ở đây

là BN nữ 16 tuổi, đang là học sinh, vì áp lực học hành quá lớn do cha mẹ đặt

cho, trong lúc ôn thi căng thẳng, em đã có ý định tự tử, đã dùng chai cồn sát

khuẩn của bố mẹ sẵn có trong nhà để uống và uống với số lượng lớn. Bệnh

nhân này đã được gia đình đưa đến trong 2 giờ đầu và đã được cứu sống ra

viện khơng có di chứng. Các đối tượng khác uống cồn đều là do nghiện rượu



61



nặng, uống rượu thông thường không thỏa mãn, nên uống cồn để thỏa mãn

cơn thèm.

Hoàn cảnh ngộ độc là tự tử chiếm tỉ lệ 1,64% trong NC của chúng tôi

thấp hơn rất nhiều so với NC của Gholamzera tự tử chiếm 37,3%, Barceloux

là 8%, Nguyễn Đàm Chính là 6,7% [1],[3],[15],[22].

Tiền sư uống rượu

Trong 61 BN nghiên cứu có 57 BN nam thì có 44 BN có tiền sử nghiện

rượu chiếm 77,2%, khơng có BN nghiện rượu trong 4 BN nữ. Trong số này

nhiều BN nghiện rượu đã tiến triển thành xơ gan do rượu. Hầu hết BN đều có

thời gian uống rượu trên 10 năm và uống rượu hàng ngày có những Bn uống

rượu thay nước. Đây chính là yếu tố nguy cơ vì BN nghiện rượu sẽ tăng tần

suất sử dụng rượu từ đó tăng nguy cơ phơi nhiễm với nguồn cung cấp rượu

không đảm bảo, rẻ tiền. Sản xuất rượu ở Việt Nam đa phần tại các nhà máy bia

rượu song cũng có một lượng nhất định đươc sản xuất tại các cơ sở sản xuất

nhỏ hoặc tại các hộ gia đình do vậy nguồn rượu này nhiễm tạp chất như

methanol cao hơn rượu được sản xuất tại các nhà máy có quy trình được nhà

nước kiểm sốt chặt chẽ. Mặt khác người nghiện rượu có xu hướng tăng dần

lượng rượu uống trong một lần và số lần uống trong ngày. Do vậy khi trong

rượu có lẫn methanol thì lượng methanol có khả năng tích lũy cao hơn dẫn đến

nơng độ methanol trong máu sẽ cao hơn khi đem so sánh với người không

nghiện rượu và ngộ độc methanol không phải do cố ý. Tỉ lệ BN nghiện rượu

trong NC của chúng tôi cao hơn NC của Gholamzera với BN nghiện rượu chỉ

có 13,7% [22]. Ngun nhân là vì hầu hết BN trong NC của chúng tôi nghiện

rượu bị ngộ độc methanol do lạm dụng rượu uống bị pha lẫn methanol trong

khi NC của Gholamzera có rất nhiều BN ngộ độc do cố ý tự tử chiếm gần 40%

[22], những BN này lựa chọn methanol nguyên chất là chất dùng để tự tử.

Phân loại PSS khi nhập viện



62



Trong NC của chúng tơi có 40 BN khi nhập viện có PSS mức độ nặng

(65.6%), 16 BN có PSS trung bình (26.2%), 05 BN có PSS mức độ nhẹ (8.2%).

Điều này cho thấy phần lớn BN của chúng tơi nhập viện trong tình trạng nặng,

nó cũng giải thích một phần cho tỉ lệ tử vong và di chứng cao. Nghiên cứu của

chúng tôi cho kết quả PSS nặng cao hơn nhiều so với NC của Zakhazov

(47,6%), của Wedge (37%) [8],[11]. Có sự khác biệt này có thể là do BN của

chúng tơi ngộ độc phần lớn là do uống nhầm phải rượu chứa methanol mà

không biết kèm theo tâm lý không chủ động đi khám bệnh sớm khi có triệu

chứng của người Việt Nam do đó đến viện muộn, khi bệnh đã nặng, trong khi

NC của Zakhazov BN ngộ độc đa phần là do tự tử, được đưa đến viện sớm.

Hơn nữa nồng độ methanol máu khi vào viện của BN trong NC của chúng tôi

cao hơn rất nhiều nồng độ methanol trong NC của Zakhazov, Wedge.

Thời gian xuất hiện triệu chứng và thời gian từ khi uống đến khi nhập viện

Triệu chứng xuất hiện đầu tiên nhiều nhất là nhìn mờ (55,7%), sau đến

đau đầu (18%). Thời gian xuất hiện triệu chứng đầu tiên trung bình là 22±9,5

giờ, sớm nhất là 2 giờ, muộn nhất là 48 giờ, trong khi thời gian từ khi uống

đến khi nhập viện trung bình là 37,3 ± 15,4 giờ, sớm nhất là 2 giờ, muộn nhất

là 72 giờ. Đa số BN xuất hiện triệu chứng trong 24 giờ đầu (79,4%), tiếp theo

là 24-48 giờ (17,6%), trong khi phần lớn lại nhập viện muộn trong 24-48 giờ

sau khi uống (57,5%), sau 48 giờ là 10,6%, số BN nhập viện trong 24 giờ đầu

chỉ có 31,9%. Thời gian từ khi uống đến khi nhập viện trong NC của chúng

tôi tương tự NC của Nohza là 36 giờ, của Nguyễn Đàm Chính (37 giờ), Phạm

Như Quỳnh là 45 giờ [1],[2],[3]. Trong NC của chúng tơi, cũng có những BN

đến viện muốn ở ngày thứ 3 (10,6%) nhưng thấp hơn NC của Nguyễn Đàm

Chính (30%) và Phạm Như Quỳnh (15,6%), trong NC của Nohza thì khơng

có BN nào đến muộn ở ngày thứ 3[1],[2],[3]. Trong số 5 BN nhập viện muộn

của chúng tơi, thì có 3 BN xét nghiệm máu lúc vào có ethanol cũng với



63



methanol nhưng thấp hơn ngưỡng 100 mg/dL, có lẽ chính ethanol đã làm cho

các triệu chứng ở 3 BN này xuất hiện muộn hơn, 2 BN nhập viện muộn vì ít

được gia đình quan tâm, khi triệu chứng đã rất nặng mới đưa bệnh nhân vào

viện. Theo Gholamzera 76,5% BN đến viện trong thời gian 24 giờ và tỉ lệ tử

vong trong NC của ông này chỉ có 8% [22].

Tình trạng toan máu khi nhập viện

Trong quần thể NC phần lớn BN nhập viện có toan máu (59/61 BN), với

HCO3 = 6,57 ± 3,47 chiếm 96,72%, trong đó chủ yếu là toan mất bù

(93,44%) với pH = 7,13 ± 0,18, pH trung vị là 7,15 , toan còn bù có 2 BN

(3,28%), 2 BN (3,28%) khơng có toan máu khi nhập viện. 2 BN chưa có biểu

hiện toan máu là 2 BN uống cồn y tế, 01 BN uống với mục đích tự tử, 01 BN

uống với mục đích thỏa mãn cơn thèm rượu và được đưa đến viện sớm trong

vòng 6 giờ đầu sau khi uống. Nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ toan mất bù cũng

tương tự NC cửa Beatty tỉ lệ có toan mất bù là 100%, pH trung vị là 7,13 , cao

hơn nhiều NC Nguyễn Đàm Chính (50%) [1]. Theo nhận xét của Barceloux,

pH máu dưới 7,25 trong NĐ methanol là toan chuyển hóa nặng cần phải lọc

máu [15]. NC của chúng tôi cũng phù hợp với NC của Hovda pH trung vị 7,2,

của Nohza pH trung vị 7,22 [2], [12].

Ethanol máu khi nhập viện

Tất cả 61 BN của chúng tôi đều được làm xét nghiệm ethanol, methanol

máu khi nhập viện, chúng tơi phát hiện có 9 BN (14,75%) có xét nghiệm

ethanol máu dương tính khi nhập viện, nguyên nhân là BN uống rượu pha lẫn

methanol. Trong đó có 03 BN có ethanol máu nằm trong khoảng 100 - 150

mg/dL là nồng độ có thể giúp giải độc methanol, nên 03 BN này có ít triệu

chứng khi nhập viện, khơng có BN nào tử vong và di chứng. Ưu điểm của

việc này là BN có ethanol được coi là có thuốc giải độc một cách tự nhiên,

methanol dạng chưa chuyển hóa sẽ được lọc máu ra ngồi trong khi còn chưa



64



gây ra triệu chứng gì. Nhược điểm của việc có ethanol là nhiều BN do có

ethanol nên triệu chứng NĐ methanol xuất hiện muộn dẫn đến tâm lý chủ

quan làm cho việc nhập viện muộn khi triệu chứng đã nặng. Những BN đến

viện mà ethanol dương tính, nhiều khả năng chưa chuyển hóa đến methanol,

hoặc mới chuyển hóa một phần do vậy triệu chứng NĐ methanol có thể nhẹ

hơn. Những BN khơng có ethanol hoặc ethanol dưới 100 mg/dL có thể không

uống cùng hoặc uống cùng nhưng ethanol đã và đang chuyển hóa gần hết

hoặc hết hồn tồn, khi đó methanol bắt đầu chuyển hóa và xuất hiện triệu

chứng. Lúc này cần có thái độ tích cực trong khắc phục toan chuyển hóa và

loại bỏ methanol ra khỏi cơ thể.

Một số triệu chứng cận lâm sàng khi nhập viện

Nồng độ methanol máu rất cao trung bình là 151,97 ± 100,28 mg/dL,

trung vị là 126 mg/dL, cao nhất 569.7 mg/dL, thấp nhất là 20 mg/dL. Trong

61 BN chỉ có 5 BN (8,2%) nồng độ methanol từ 20 – 50 mg/dL, 56 BN

(91.8%) có nồng độ methanol > 50 mg/dL là nồng độ có nguy cơ tử vong cao

theo NC của Baceloux [4]. Nồng độ methanol máu trong NC của chúng tôi

tương tự NC của Phạm Như Quỳnh (160,2 mg/dL), cao hơn rất nhiều NC của

Nguyễn Đàm Chính (50,5 mg/dL), NC của Wedge (73,6 mg/dL) [1],[2],[11].

Có 38/61 BN được làm xét nghiệm ALTT máu tại thời điểm nhập viện,

KT ALTT có dao động nhiều nhưng tất cả đều tăng, trung vị là 65, thấp nhất

là 12, cao nhất là 191. KT ALTT thấp nhất rơi vào BN có nồng độ methanol

máu là 20 mg/dL, cao nhất rơi vào BN có methanol máu là 569,7 mg/dL. Như

vậy KT ALTT cũng phù hợp với nồng độ methanol máu, methanol máu càng

cao thì ALTT máu càng cao. Kết quả này cũng phù hợp với NC của Nguyễn

Đàm Chính và Phạm Như Quỳnh KT ALTT tăng ở 100% BN [1],[2]. Trong

NC của Knut 85% BN có tăng KT ALTT với giá trị trung vị 63 mOsmol/L,

giá trị trung vị tương tự NC của chúng tôi, tuy nhiên tỉ lệ BN tăng KT ALTT



65



thấp hơn là do 4 BN trong NC của Knut có nồng độ methanol máu rất thấp

khiến KT ALTT không tăng ở những BN này [28].

Tại thời điểm nhập viện KT anion tất cả các BN trong NC của chúng

tôi đều tăng (100%), trung vị là 42, thấp nhất là 18, cao nhất là 107. Kết quả

này phù hợp với lý thuyết trong ngộ độc methanol do sản phẩm chuyển hóa

cuối cùng của methanol là acid formic sẽ gây ra tình trạng toan chuyển hóa và

tăng khoảng trống anion, lượng acid formic càng nhiều thì KT anion càng

cao. BN càng đến muộn, methanol được chuyển hóa thành acid formic càng

nhiều thì KT anion càng tăng cao. Do vậy KT anion tỉ lệ thuận với mức độ

nặng của bệnh, KT anion càng cao thì NĐ càng nặng và mức độ toan chuyển

hóa càng nghiêm trọng dẫn đến các triệu chứng toàn thân càng rầm rộ. Kết

quả NC của chúng tôi cũng khá tương đồng với NC của Phạm Như Quỳnh

100% BN có tăng KT anion, cao hơn NC của Nguyễn Đàm Chính (73,3%),

Knut (85,7%) [1],[2],[28].

KT ALTT máu thì tỉ lệ thuận với nồng độ methanol, KT anion thì tỉ lệ

thuận với lượng acid formic trong máu. Acid formic lại do methanol chuyển

hóa tạo thành, như vậy trên BN của chúng tôi, tại thời điểm nhập viện 100%

BN có tăng cả KT ALTT và KT anion, điều này chứng tỏ rằng ngồi methanol

trong máu đã có một lượng acid formic nhất định được tạo ra từ methanol. Từ

đó ta có thể suy luận rằng, lượng methanol thực tế BN uống còn cao hơn rất

nhiều lượng chúng tôi định lượng được trong máu.

4.2. Hiệu quả của phác đồ ethanol đường uống

Hiệu quả đạt nồng độ ethanol mục tiêu

Trong NC của chúng tơi có 61 BN tất cả đều được dùng ethanol 20%

đường uống theo phác đồ và theo dõi nồng độ ethanol máu trong quá trình sử

dụng ethanol. Tống số 275 thời điểm (mẫu) xét nghiệm ethanol máu được

theo dõi. Số mẫu đạt nồng độ mục tiêu là 157 mẫu chiếm 57%, có 85 mẫu xét



66



nghiệm khơng đạt mục tiêu chiếm 31%, 33 mẫu cao hơn nồng độ mục tiêu

chiếm 12%. Nghiên cứu của chúng tơi có tỉ lệ đạt nồng độ mục tiêu cao hơn

NC của Wedge, trong NC của Wedge tỉ lệ mẫu xét nghiệm đạt nồng độ mục

tiêu là 27%, tỉ lệ mẫu xét nghiệm có nồng độ ethanol cao hơn mục tiêu của

chúng tôi là 12% thấp hơn của Wedge (25%). Tỉ lệ mẫu xét nghiệm không đạt

nồng độ mục tiêu của chúng tôi là 31% cũng thấp hơn của Wedge, trong NC

của Wedge tỉ lệ này là 47%, mặc dù trong nghiên cứu của Wedge ethanol

được dùng theo đường tĩnh mạch [11].

Theo dõi nồng độ ethanol máu chúng tôi thấy rằng ethanol máu sẽ tăng

dần trong vài giờ đầu, phần lớn (60,7%) BN đạt và duy trì được nồng độ

ethanol mục tiêu tức là nồng độ ethanol máu đạt trong khoảng 100 – 150

mg/dL sau một thời gian nhất định. Có 13,1 % BN có thời điểm nồng độ

ethanol máu cao hơn 150 mg/dL tức là vượt ngưỡng điều trị, ethanol máu cao

nhất là 297,45 mg/dL, đây đa số là những BN khi vào viện đã có ethanol

trong máu do uống rượu có chứa cả ethanol lẫn methanol. Sở dĩ có tình trạng

này là do hầu hết BN của chúng tôi được chỉ định dùng ethanol khi chưa có

kết quả xét nghiệm ethanol, methanol máu vì xét nghiệm ethanol, methanol

máu từ khi lấy máu đến khi có kết quả trung bình mất 6 giờ. Trong NC của

chúng tôi khi BN đủ tiêu chuẩn dùng ethanol thì chúng tơi dùng ethanol mà

khơng chờ kết quả định lượng ethanol, methanol máu. Chúng tôi cũng gặp

26,2% BN không đạt nồng độ ethanol mục tiêu trong quá trình điều trị bằng

ethanol đường uống, nồng độ thấp nhất là 20,2 mg/dL cao nhất là 89,0 mg/dL.

Những BN không đạt nồng độ ethanol mục tiêu hầu hết là những BN không

nghiện rượu và gặp tác dụng không mong muốn trên tiêu hóa là biểu hiện nơn

nhiều, cụ thể biểu hiện nơn ở nhóm BN đạt mục tiêu có 1 BN chiếm 1,64%

thấp hơn nhóm khơng đạt tiêu có 6 BN chiếm 9,84% khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p = 0,017, mặc dù chúng tôi đã điều trị tích cực biểu hiện nơn,



67



giám sát chặt chẽ việc dùng ethanol, nhưng ethanol máu vẫn không đạt nồng

độ mong muốn, tuy nhiên ethanol cũng đã gần đạt mục tiêu điều trị. Ngồi ra

chúng tơi cũng gặp phải một số yếu tố ảnh hưởng làm cho nồng độ ethanol

máu không đạt mục tiêu điều trị. Biểu hiện bụng chướng ở nhóm BN đạt mục

tiêu có 12 BN chiếm 19,7% thấp hơn nhóm khơng đạt mục tiêu có 15 BN

chiếm 24,6%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,046. Thở máy ở nhóm

BN đạt mục tiêu có 12 BN chiếm 19,7% thấp hơn nhóm khơng đạt mục tiêu

có 16 BN chiếm 26,2%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,039. Như vậy

nôn, bụng chướng, thở máy làm ảnh hưởng đến nồng độ ethanol máu khi

dùng ethanol đường uống.

Thời gian từ khi uống methanol đến khi được dùng ethanol của BN

trong NC của chúng tôi là 38,28±15,46 giờ. Thời gian này cao hơn nhiều so

với NC của Wedge, trong NC của Wedge thời gian từ khi uống methanol đến

khi được điều trị trung bình là 21 giờ [11]. Trong NC của chúng tôi, hầu hết

BN khi nhập viện đều được dùng ethanol ngay, có rất ít BN là chì hỗn dùng

ethanol vì chẩn đốn, cũng như tiêu chuẩn dùng ethanol chưa rõ ràng. Thời

gian từ khi uống methanol đến khi dùng ethanol dài vì phần lớn BN của

chúng tôi nhập viện muộn.

Thời gian dùng ethanol đường uống trong NC của chúng tơi trung bình

là 8,16 giờ, trung vị là 8 giờ, thấp nhất là 2,5 giờ, cao nhất là 16 giờ. Thời gian

dùng ethanol thấp nhất 2,5 giờ là trường hợp BN nặng, vào viện được 2,5 giờ

thì gia đình xin về. Thời gian dùng dài nhất 16 giờ là BN có nồng độ methanol

máu rất cao, phải lọc máu HD 2 cuộc, thời gian HD cuộc đầu là 8 giờ, cuộc 2 là

4 giờ, sau HD cuộc 2 thì methanol máu về dưới 20 mg/dL nên chúng tôi dừng

ethanol. Thời gian dùng ethanol trong NC của chúng tôi thấp hơn nhiều trong

NC của Wedge, NC Wedge của trung bình là 21 giờ, thấp nhất là 0,5 giờ, cao

nhất là 119 giờ [11]. Điều này có lẽ được giải thích là tất cả BN của chúng tơi

đều được lọc máu (100%), trong khi đó tỉ lệ lọc máu trong NC của Wedge là



68



92%, lọc máu sẽ giúp lấy đi methanol nhanh hơn, cải thiện được toan chuyển

hóa nhanh, nên sẽ làm giảm thời gian sủ dụng ethanol.

Thời gian từ khi dùng ethanol đến khi đạt nồng độ mục tiêu trong NC

của chúng tơi trung bình là 3,42±2,36 giờ, tức là khoảng thời gian dưới liều

điều trị là 3,42±2,36 giờ, sớm nhất là 1 giờ, muộn nhất là 7 giờ. Lượng

ethanol 20% đã dùng trung bình là 1297,36±374 ml, ít nhất là 520 ml, nhiều

nhất là 2160 ml.

Kết quả điều trị chung

Trong NC của chúng tơi có 28 BN sống khỏe chiếm tỉ lệ 45,9%, 13 BN

sống có di chứng chiếm tỉ lệ 21,3%, 20 BN tử vong chiếm tỉ lệ 32,8%. Mặc

dù tỉ lệ tử vong và di chứng của chúng tơi còn cao, nhưng so với các NC trước

đó tại TTCĐ là những NC mà BN khơng được dùng ethanol thì tỉ lệ tử vong,

di chứng trong NC của chúng tơi có giảm. Cụ thể trong NC của Nguyễn Đàm

Chính năm 2013, tỉ lệ tử vong trong nhóm lọc máu là 41%, NC của Phạm

Như Quỳnh năm 2016 tỉ lệ tử vong là 35,2% [1],[2]. Tỉ lệ tử vong trong NC

của chúng tôi cao hơn NC của Zakhazov (14,3%), của Wedge (8%) [37],[40].

Những BN di chứng của chúng tơi bao gồm những BN có tổn thương não

không hồi phục và giảm thị lực sau khi ra viện. Tỉ lệ di chứng trong NC của

chúng tôi thấp hơn trong NC của Phạm Như Quỳnh (37,8%), Zakhazov

(33,3%) [2],[37]. Tuy nhiên số lượng BN trong NC của chúng tơi còn thấp,

thời gian nghiên cứu chưa dài, nên chúng tôi không thể đánh giá hết được ảnh

hưởng của di chứng đến cuộc sống của BN.

Tất cả 20 BN tử vong của chúng tơi đều thuộc nhóm BN nghiện rượu,

có PSS nặng khi vào viện và nồng độ methanol máu rất cao, cao hơn rất nhiều

nồng độ methanol máu trong NC của Zakhazov và Wedge. Dựa vào tỉ lệ tử

vong và di chứng chúng ta thấy rằng sử dụng ethanol có thể khơng làm cải

thiện tỉ lệ tử vong, nhưng giúp cải thiện tỉ lệ di chứng ở nhóm sống sót. Điều



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 3.19: Diễn biến enzym GOT, GPT ở nhóm có biểu hiện tăng enzym transaminase

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×