Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Suy giảm ADL, IADL, trầm cảm, uống nhiều thuốc, là các yếu tố liên quan tới ngã nhiều lần ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi (p <0,05).

Nhận xét: Suy giảm ADL, IADL, trầm cảm, uống nhiều thuốc, là các yếu tố liên quan tới ngã nhiều lần ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi (p <0,05).

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



Bảng 3.21. Mối liên quan giữa nguy cơ ngã với ngã nhiều lần

Bệnh nhân ĐTĐ (n = 228)

Có ngã nhiều

Khơng ngã nhiều

Đặc điểm

Fall Risk

Index

TUG

(giây)

Tầm với

(cm)



± SD

Có nguy cơ

Bình thường

± SD

Có nguy cơ

Bình thường

± SD

Có nguy cơ

Bình thường



lần (n=31)

Số

Tỉ lệ

lượng

11,6 ± 3,2

24

77,4

7

22,6

24,6 ± 13,1

25

80,6

6

19,4

10,6 ± 7,5

26

86,9

5

16,1



lần (n=197)

Số

Tỉ lệ

lượng

9,4 ± 3,7

99

50,3

98

49,7

16,1 ± 8,0

99

50,3

98

49,7

18,0 ± 9,1

114

57,9

83

42,1



p



< 0,05

< 0,05

< 0,001

< 0,05

< 0,001

< 0,05



Nhận xét: Đánh giá nguy cơ ngã nhiều lần bằng các thang điểm Fall

Risk Index, thời gian TUG , chức năng với cho thấy nhóm bệnh nhân ĐTĐ có

ngã nhiều lần có nguy cơ ngã cao hơn so với nhóm khơng ngã (p < 0,05).

Điểm Fall Risk Index cao, thời gian TUG dài, tầm với hạn chế là các yếu tố

liên quan tới ngã nhiều lần (p< 0,05).



56



3.5. Phân tích hồi quy đơn biến, đa biến đánh giá nguy cơ ngã

3.5.1. Phân tích hồi quy đơn biến, đa biến các yếu tố liên quan tới ngã trên

nhóm nghiên cứu

Bảng 3.22. Phân tích hồi quy đơn biến các yếu tố liên quan tới ngã

Có ngã trong 1 năm qua (n = 458)

OR

p

(95%CI)

0,696 (0,443 – 1,093)

0,115

3,175 (2,009 – 5,019)

< 0,001

2,564 (1,644 – 3,998)

< 0,001

2,045 (1,275 – 3,279)

0,003

2,117 (1,353 – 3,313)

0,001

1,967 (1,274 – 3,036)

0,002



Yếu tố

Giới (nữ)

Tuổi ≥ 80

TUG (giây) ≥ 14 giây

GDS – 15 ≥ 6

Fall Risk Index ≥ 10

Đái tháo đường (có)



Nhận xét: Các yếu tố: tuổi ≥ 80, thời gian TUG kéo dài, trầm cảm,

điểm chỉ số ngã Fall Risk Index cao, Đái tháo đường có liên quan tới ngã ở

nhóm nghiên cứu chung.

Đái tháo đường làm tăng nguy cơ ngã lên 1,967 lần với độ tin cậy

1,274 – 3,036, p = 0,002.

3.5.2. Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan tới ngã

Bảng 3.23. Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan tới ngã

Yếu tố

Giới (nữ)

Tuổi ≥ 80

TUG (giây) ≥ 14

GDS – 15 ≥ 6

Fall Risk Index ≥ 10

Đái tháo đường (có)



Có ngã trong 1 năm qua (n = 458)

OR

p

(95%CI)

0,655 (0,403 – 1,063)

0,087

2,336 (1,408 – 3,874)

0,001

1,603 (0,964 – 2,667)

0,069

1,406 (0,831 – 2,380)

0,204

1,518 (0,926 – 2,49)

0,098

1,907 (1,206 – 3,016)

0,006



Nhận xét: Các yếu tố dự báo nguy cơ ngã là: tuổi ≥ 80 (OR 2,336, 95%CI:

1,408 – 3,874, p = 0,001), Đái tháo đường (OR 1,907, 95%CI: 1,206 – 3,016, p =

0,006).

3.5.3. Phân tích hồi quy đơn biến, đa biến các yếu tố liên quan tới ngã trên

nhóm bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi

Bảng 3.24. Phân tích hồi quy đơn biến các yếu tố liên quan tới ngã



57



Yếu tố



Giới (nữ)

Tuổi ≥ 80

Sống một

mình (có)

ADL ≤ 5

IADL ≤ 7

TUG (giây) ≥

14 giây

GDS – 15 ≥ 6

Fall Risk Index

≥ 10

Tầm với (cm)

< 20 cm

Liệu pháp Insulin

(có)

HbA1C >8%



ĐTĐ có ngã trong 1 năm qua (n = 228)

Ngã trong 1 năm qua

Ngã nhiều lần

OR

OR

p

p

(95%CI)

(95% CI)

0,810

0,487

0,606

0,206

(0,448 – 1,467)

(0,279 – 1,317)

3,731

<0,001

2,440

0,026

(1,995 – 6,978)

(1,11 – 5,36)

3,586

0,054

4,691

0,023

(0,979 – 13,13)

(1,243 – 17,7)

4,753

<0,001

9,384

<0,001

(2,562 – 8,821)

(3,162– 27,848)

3,477

<0,001

4,710

0,001

(1,895 – 6,380)

(1,851 – 11,987)

2,405

0,004

4,082

0,003

(1,329 – 4,352)

(1,604– 10,38)

1,216

<0,001

4,264

<0,001

(1,106 – 1,336)

(1,946 – 9,342)

2,74

0,001

3,394

0,007

(1,506 – 4,984)

(1,398– 8,240)

1,862

0,045

3,649

0,011

(1,014 – 3,421)

(1,344 – 9,908)

1,707

0,103

3,346

0,002

(0,897 – 3,249

(1,562 – 7,6)

1,474

0,238

2,835

0,01

(0,774 – 2,806)

(1,282 – 6,267)



Nhận xét: Các yếu tố liên quan tới ngã và ngã nhiều lần ở bệnh nhân ĐTĐ

cao tuổi là: Tuổi ≥ 80, suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày ADL, IADL, thời

gian TUG kéo dài, trầm cảm, điểm Fall Risk Index cao, hạn chế tầm với.

Sống một mình, liệu pháp Insulin, HbA1C > 8% làm tăng nguy cơ ngã nhiều lần.

Bảng 3.25. Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan tới ngã ở BN ĐTĐ

ĐTĐ có ngã trong 1 năm qua (n = 228)

Ngã trong 1 năm qua

Ngã nhiều lần

OR

OR

Yếu tố

p

p

(95%CI)

(95%CI)

Giới (nữ)

0,634

0,211

0,39

0,054



58



Tuổi ≥ 80

Sống một

mình (có)

ADL ≤ 5

IADL ≤ 7

TUG (giây) ≥

14 giây

GDS – 15 ≥ 6

Fall Risk

Index ≥ 10

Tầm với (cm)

< 20

Liệu pháp

Insulin (có)

HbA1C > 8%



(0,311- 1,294)

1,935

(0,9– 4,159)

3,083

(0,611 – 15,56)

3,051

(1,166 – 7,984)

1,197

(0,451 – 3,181)

0,9

(0,405- 2,0)

2,185

(1,044 – 4,570)

1,413

(0,682 – 2,929)

0,787

(0,342 – 1,813)

0,991

(0,451 – 2,18)

1,205

(0,570 – 2,548)



0,091

0,173

0,023

0,718

0,795

0,038

0,352

0,574

0,982

0,625



(0,15 – 1,017)

0,936

(0,35 – 2,501)

2,632

(0,475 – 14,571)

4,8

(1,009 – 22,84)

1,164

(0,269 – 5,035)

1,105

(0,348 – 3,508)

2,913

(1,146 – 7,405)

1,399

(0,47 – 4,166)

1,565

(0,444 – 5,510)

1,552

(0,595 -4,045)

2,577

(1,012 – 6,565)



0,895

0,268

0,049

0,839

0,865

0,025

0,546

0,486

0,368

0,047



Nhận xét: Các yếu tố dự báo nguy cơ ngã ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi

là: suy giảm chức năng ADL (OR 3,051, 95%CI: 1,166 – 7,984, p = 0,023),

trầm cảm (OR 2,185, 95%CI: 1,044 – 4,570, p = 0,038). Yếu tố dự báo nguy

cơ ngã nhiều lần là: trầm cảm (OR 2,913, 95%CI: 1,146 – 7,405, p = 0,025),

HbA1C > 8% (OR 2,577, 95%CI: 1,012 – 6,565, p = 0,047).

CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Qua nghiên cứu trên 458 bệnh nhân tuổi ≥ 60 khám và điều trị tại bệnh

viện Lão khoa Trung ương được chia thành 2 nhóm: nhóm có ĐTĐ gồm 228



59



bệnh nhân và nhóm khơng có ĐTĐ có 230 bệnh nhân, chúng tôi thu được

một số kết quả sau:

4.1.1. Tuổi, giới, BMI, các yếu tố môi trường xã hội

Các bệnh nhân nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 72,6 ± 8,6 ở nhóm

chứng và 73,1 ± 8,3 ở nhóm có ĐTĐ, khơng có sự khác biệt về độ tuổi trung

bình giữa 2 nhóm. Kết quả của chúng tơi cũng giống nghiên cứu của Chiba

(2015), khơng có sự khác biệt về tuổi giữa 2 nhóm, tuổi trung bình trong nghiên

cứu của Chiba là 75,2 ± 7,3 ở nhóm chứng và 76,2 ± 6,8 ở nhóm có ĐTĐ [3].

Theo nghiên cứu của Dương Thị Liên năm 2014, độ tuổi trung bình của bệnh

nhân ĐTĐ cao tuổi tại bệnh viện Lão khoa trung ương là 69,3 ± 6,3 [62].

Phân bố nhóm tuổi khơng có sự khác biệt giữa 2 nhóm, ở bệnh nhân có

ĐTĐ độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 70 – 79 (44,3%), thấp nhất ở nhóm ≥ 80

(25,4%). Theo kết quả của Lê Anh Tú (2015) nghiên cứu trên bệnh nhân ĐTĐ

cao tuổi, tuổi trung bình là 70,8 ± 7,1, nhóm tuổi 60 – 69 tuổi chiếm tỉ lệ cao

nhất (47,5%), nhóm tuổi ≥ 80 tuổi có tỉ lệ thấp nhất (12,1%) [63].

Nghiên cứu của chúng tơi khơng có sự khác biệt về phân bố giới giữa 2

nhóm, ở cả 2 nhóm khơng ĐTĐ và có ĐTĐ, tỷ lệ nữ giới đều cao hơn nam

giới. Nữ chiếm tỷ lệ 73,5% ở nhóm khơng ĐTĐ và 68% ở nhóm ĐTĐ, nam

giới chiếm tỷ lệ 26,5% ở nhóm khơng ĐTĐ và 32% ở nhóm ĐTĐ. Kết quả

này cũng phù hợp với kết quả của Chiba (2015), khơng có sự khác biệt về

phân bố giới ở 2 nhóm, tỷ lệ nam giới ở nhóm chứng là 32,6% và ở nhóm

ĐTĐ là 35,1% [3]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (Bệnh viện Lão khoa

trung ương, 2013) cũng có kết quả khơng có khác biệt so với kết quả trong

nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân nam là 37%, nữ là 63% [64].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt về trung

bình BMI và phân bố BMI giữa 2 nhóm. BMI trung bình ở nhóm chứng là

22,1 ± 3,01, nhóm ĐTĐ là 22,4 ± 3,6. Thể trạng bình thường chiếm tỷ lệ 52,5%



60



ở nhóm chứng và 43,6% ở nhóm ĐTĐ, thừa cân và béo phì chiếm tỉ lệ 37,7% ở

nhóm chứng và 44,1% ở nhóm ĐTĐ, chiếm tỉ lệ thấp nhất là nhóm thiếu cân,

9,9% ở nhóm chứng và 12,3% ở nhóm ĐTĐ. Kết quả của chúng tôi cũng giống

với kết quả của Chiba (2015), không có sự khác biệt về BMI giữa 2 nhóm, trung

bình BMI ở nhóm chứng là 22,9 ± 2,9 và nhóm ĐTĐ là 23,1 ± 3,3 [3].

Kết quả nghiên cứu so sánh các đặc điểm về khu vực sinh sống, trình

độ học vấn, tình trạng chung sống với, nghề nghiệp, khơng có sự khác biệt

giữa 2 nhóm. Tình trạng sống chung cùng gia đình chiếm đa số, sống một

mình chiếm 7,4% ở nhóm khơng ĐTĐ và 5,3% ở bệnh nhân có ĐTĐ. Tỉ lệ

sống một mình trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu

của A. K. Azidah (2012) là 10,8% [38], nghiên cứu của A. K. Azidah (2012)

là 10,8% [38].

4.1.2. Đặc điểm về hội chứng lão khoa

So sánh các đặc điểm lão khoa về hoạt động chức năng hàng ngày

(ADL, IADL), trầm cảm (GDS-15), số thuốc đang dùng. Kết quả cho thấy: tỉ lệ

suy giảm ADL và IADL cao hơn ở nhóm có ĐTĐ. Tỉ lệ suy giảm ADL là

34,8% ở nhóm chứng, 48% ở nhóm ĐTĐ. Trung bình điểm ADL thấp hơn ở

nhóm có ĐTĐ. Điểm IADL khơng khác biệt giữa 2 nhóm. Kết quả này khác

với nghiên cứu của Chiba (2015), khơng có sự khác biệt về trung bình điểm

ADL giữa 2 nhóm [3]. Tỉ lệ suy giảm ADL của chúng tôi cao hơn so với nghiên

cứu của Volpato (2005) với tỉ lệ là 24,7% ở nhóm khơng ĐTĐ và 33,8% ở

nhóm có ĐTĐ [7]. Như vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tơi có suy giảm

chức năng hoạt động hàng ngày nhiều hơn mặc dù so sánh độ tuổi trung bình

với đối tượng nghiên cứu của Volpato (2005) thì độ tuổi trong nghiên cứu của

chúng tơi thấp hơn (tuổi trung bình trong nghiên cứu của Volpato là 79,1 ± 8.1

ở nhóm khơng ĐTĐ và 75,3 ± 6,5 ở nhóm có ĐTĐ) [7]. Điều này cho thấy đối



61



tượng người cao tuổi ở nghiên cứu của chúng tơi có suy giảm chức năng hoạt

động hàng ngày cao hơn so với các nghiên cứu khác.

Tỷ lệ trầm cảm giữa 2 nhóm khơng có sự khác biệt. Trung bình điểm

GDS-15 thấp hơn ở nhóm có ĐTĐ. Trung bình số thuốc đang dùng giữa 2

nhóm khơng khác biệt. Kết quả này khác với kết quả nghiên cứu của Chiba

(2015), trung bình điểm GDS-15, MMSE khơng khác biệt giữa 2 nhóm [3].

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy nhóm có ĐTĐ có tỉ lệ suy giảm

hoạt động chức năng nhiều hơn, nguy cơ trầm cảm cao hơn so với nhóm

chứng. Điều này cũng phù hợp vì bản thân bệnh lý ĐTĐ ở người cao tuổi

ln có nguy cơ suy giảm các hoạt động chức năng, thể chất, nhận thức hơn

người khơng có ĐTĐ, nguy cơ trầm cảm cũng cao hơn. Kết quả của chúng tôi

cũng giống với nghiên cứu về các hoạt động chức năng ở bệnh nhân ĐTĐ cao

tuổi tại bệnh viện lão khoa của Lê Anh Tú (2015), điểm trung bình của ADL

là 4,97 ± 1,53 , IADL là 6,43 ± 1,83 [63].

Trung bình điểm GDS-15 đánh giá tình trạng trầm cảm trong nghiên

cứu của chúng tơi là: 3,2 ± 2,6 ở nhóm khơng ĐTĐ và 4,2 ± 2,17 ở nhóm có

ĐTĐ. Kết quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Chiba (2015),

trung bình điểm GDS-15 ở nhóm khơng ĐTĐ là 2,9 ± 2,6 và ở nhóm ĐTĐ là

3.9 ± 3.0 [3]. Như vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tơi có nguy cơ trầm

cảm cao hơn so với nghiên cứu của Chiba, điều này có thể giải thích do nhiều

ngun nhân. Chất lượng cuộc sống kém hơn, chất lượng dịch vụ chăm sóc y

tế còn thiếu thốn và nghèo nàn, trình độ dân trí ở mức hạn chế, sự đóng góp

và hỗ trợ của cộng đồng chưa nhiều...dẫn đến đời sống vật chất và tinh thần,

sức khỏe của người cao tuổi nói chung và cao tuổi có ĐTĐ nói riêng ở nước

ta còn hạn chế và thiếu thốn hơn so với các nước khác, do đó nguy cơ trầm

cảm cũng cao hơn. Tỉ lệ trầm cảm trong nghiên cứu của chúng tôi là 19,6% ở

nhóm khơng ĐTĐ và 26,3% ở nhóm ĐTĐ. Kết quả này cũng cao hơn so với



62



nghiên cứu của Volpato S (2005) với tỉ lệ trầm cảm ở nhóm khơng ĐTĐ và có

ĐTĐ tương ứng là 14,6% và 22,8% [7].

Số thuốc trung bình ở nhóm nghiên cứu của chúng tơi là: 4,14 ± 2,4 ở

nhóm khơng ĐTĐ và 4,5 ± 2.17 ở nhóm có ĐTĐ. Kết quả này thấp hơn so

với kết quả của Chiba (2015), với trung bình số thuốc ở nhóm khơng ĐTĐ là

5.5 ± 2.7 và ở nhóm ĐTĐ là 6.0 ± 3.3 [3]. Khơng có sự khác biệt về số lượng

thuốc giữa 2 nhóm, kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của Chiba (2015).

4.1.3. Đặc điểm về tiền sử các bệnh đồng mắc

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy, tỉ lệ có tiền sử mắc THA

cao hơn ở nhóm có ĐTĐ (39,5%) so với nhóm khơng có ĐTĐ (21,8%). Tỉ lệ

mắc các bệnh còn lại: lỗng xương (1,7% ở nhóm khơng ĐTĐ, 2,2% ở nhóm

có ĐTĐ), thối hóa khớp (3,1% ở nhóm khơng ĐTĐ, 3,5% ở nhóm ĐTĐ),

parkinson (0,9% ở nhóm khơng ĐTĐ, 1,3% ở nhóm có ĐTĐ) khơng khác biệt

giữa 2 nhóm.

HATT trung bình và HATTR trung bình của nhóm ĐTĐ cao hơn so với

nhóm chứng, nhóm ĐTĐ có HATT trung bình là 127,9 ± 15,7, HATTR trung

bình là 78 ± 10,0. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Chiba

(2015), trung bình HATT của nhóm ĐTĐ là 128 ± 10 cao hơn so với nhóm

chứng là 124 ± 10 [3]. Tỉ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu khơng khác biệt

giữa 2 nhóm, HA < 140/80 chiếm 79,6% ở nhóm khơng ĐTĐ và 73,2% ở

nhóm có ĐTĐ. Như vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đa phần được

kiểm soát huyết áp tốt. Kết quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của

Dương Thị Liên (2014) với tỉ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu là 63,9%. Sự

khác biệt này là do tác giả Dương Thị Liên chọn mức kiểm soát huyết áp đạt

mục tiêu thấp hơn chúng tôi, tác giả chọn < 130/80 là đạt mục tiêu, còn chúng

tơi chọn mức < 140/80 là đạt mục tiêu [62].

4.1.4. Đặc điểm liên quan tới ĐTĐ



63



Glucose máu lúc đói trung bình ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ là 8,5 ± 5,8.

Trong đó đạt mục tiêu kiểm sốt tốt là 67,1%, còn 32,9 % chưa đạt mục tiêu.

Kết quả của chúng tôi giống với nghiên cứu của Dương Thị Liên trên đối

tượng bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi tại bệnh viện Lão khoa năm 2014, với trung

bình glucose là 8,5 ± 2,5. Tỉ lệ glucose máu lúc đói chưa đạt mục tiêu của

nghiên cứu chúng tôi cao hơn so với Dương Thị Liên (26,2%) [62].

HbA1C trung bình ở nhóm ĐTĐ là 7,7 ± 2,06. Trong đó mức HbA1C ≤

8% là 76,8%, còn 23,2% chưa đạt mục tiêu (>8%). Kết quả của chúng tơi có tỉ

lệ kiểm sốt tốt glucose máu đói và HbA1C cao hơn của Lê Anh Tú (2015)

trên đối tượng ĐTĐ cao tuổi, bệnh nhân có nồng độ glucose máu ≤ 7,2

mmol/l chiếm tỷ lệ 44,9% và bệnh nhân có HbA1c < 7% chiếm 43,6% [63].

Sự khác biệt về kết quả này là do khác nhau về chọn mốc kiểm sốt, chúng tơi

chọn mốc cao hơn, là 8% với HbA1C và 8,3 % với glucose máu đói. Chúng

tơi chọn mốc theo tiêu chuẩn của Hội lão khoa Hoa kỳ dành cho người cao

tuổi có sức khỏe trung bình. So với đối tượng ĐTĐ cao tuổi trong nghiên cứu

của Chiba (2015) thì trung bình HbA1C của Chiba thấp hơn của chúng tơi,

trung bình HbA1C là: 7,4 ± 0,8 [3].

Tỉ lệ dùng thuốc viên chiếm tỷ lệ cao nhất (98,2%) bao gồm thuốc viên

đơn độc và phối hợp với insulin, liệu pháp Insulin (22,8%). Tỉ lệ các phương

pháp điều trị cũng tương tự như nghiên cứu của Volpato năm 2005 về các yếu

tố nguy cơ của ngã trên bệnh nhân nữ cao tuổi tàn tật có đái tháo đường, tỉ lệ

điều trị thuốc viên là 71,3%, liệu pháp insulin là 28,6% [7]. Kết quả nghiên

cứu của Chiba (2015), tỉ lệ dùng thuốc viên là 80,4%, liệu pháp insulin 20,2%

[3]. Nghiên cứu của A.K. Azidah (2012) cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ dùng

insulin là 21% [38].

Tỉ lệ có biến chứng hạ đường huyết trong 1 năm trước là 12,3%. Kết

quả của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Chiba (2015) với tỉ lệ hạ



64



đường huyết là 26,2 [3], nghiên cứu của A.K. Azidah (2012) với tỉ lệ hạ

đường huyết là 19,8% [38].

4.2. Tỉ lệ ngã của đối tượng nghiên cứu

4.2.1. Tỉ lệ ngã của đối tượng nghiên cứu

Trong 458 bệnh nhân nghiên cứu, có 165 bệnh nhân có tiền sử từng bị

ngã (gồm 66 ở nhóm khơng ĐTĐ và 99 ở nhóm có ĐTĐ), có 114 bệnh nhân

có ngã trong 1 năm qua (gồm 43 ở nhómkhơng ĐTĐvà 71 ở nhóm có ĐTĐ),

có 45 bệnh nhân bị ngã nhiều lần (gồm 14 ở nhóm khơng ĐTĐ và 31 ở nhóm

có ĐTĐ). Tỉ lệ ngã bất kỳ (43,4%), ngã trong 1 năm qua (31,1%), ngã nhiều

lần (13,6%) ở nhóm ĐTĐ đều cao hơn so với nhóm chứng (tương ứng là

28,7%, 18,7%, 6,1%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự nhiều

nghiên cứu khác là tỉ lệ ngã ở bệnh nhân cao tuổi có ĐTĐ cao hơn so với

bệnh nhân cao tuổi không mắc ĐTĐ.

Nghiên cứu năm 2005 của Mathew S. Maurer và cộng sự trên 139 bệnh

nhân có độ tuổi 70 – 105, kết quả: tỷ lệ ngã ở bệnh nhân có ĐTĐ và không

ĐTĐ tương ứng là 78% và 30% (p<0,001) [4].

Nghiên cứu của A. K. Azidah (2012) tại Malaysia, đánh giá tỷ lệ và các

yếu tố nguy cơ của ngã trên 288 bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi, kết quả: tỷ lệ ngã ở

nhóm nghiên cứu là 18,8% [38].

Nghiên cứu của Yuko Chiba và cộng sự (2015) trên 211 bệnh nhân

(gồm 168 có ĐTĐ và 43 khơng có ĐTĐ) tại bệnh viện lão khoa Tokyo Nhật

Bản, cho kết quả: tỷ lệ bệnh nhân có ngã trong năm ở nhóm bị ĐTĐ cao gấp 2

lần so với nhóm khơng bị ĐTĐ (36,9 % và 18,6 %, p<0,05) [3].

Nghiên cứu của Yang Yu và cộng sự (2016) trên 14685 bệnh nhân: tỷ lệ

ngã ở bệnh nhân bị ĐTĐ và không bị ĐTĐ tương ứng là 25% và 18,2%

(p<0,05) [39].

4.2.2. Đánh giá nguy cơ ngã của đối tượng nghiên cứu



65



Đánh giá nguy cơ ngã bằng test thời gian đứng lên và đi (TUG) cho thấy

nhóm có ĐTĐ có nguy cơ ngã cao hơn so với nhóm khơng có ĐTĐ.

Thời gian trung bình TUG của nhóm ĐTĐ là 17,2 ± 9,4 cao hơn so với

nhóm chứng là 14,8 ± 7,04. Tỉ lệ có nguy cơ ngã theo test TUG ở nhóm có

ĐTĐ là 54,6% cao hơn nhóm chứng là 44,5%. Kết quả này cũng tương tự

nghiên cứu của Chiba (2015), thời gian TUG trung bình ở nhóm ĐTĐ là

13,6 ± 5,9 cao hơn nhóm chứng là 11,0 ± 3,9 [3].

4.3. Các yếu tố liên quan đến ngã ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi

4.3.1. Mối liên quan giữa ngã với các đặc điểm nhân trắc, môi trường

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy có mối liên quan giữa ngã và

tuổi. Tuổi càng cao tỉ lệ ngã càng cao. Tuổi trung bình của bệnh nhân có ngã

trong 1 năm qua là 76,7 ± 8,3 cao hơn so với nhóm khơng có ngã là 71,5 ± 7,8.

Tỉ lệ ngã trong 1 năm qua tăng dần theo phân nhóm tuổi, chiếm 16,9% ở nhóm

60 – 69 tuổi, 39,4% ở nhóm 70 – 79 tuổi, 43,7% ở nhóm ≥ 80 tuổi. Phân tích

hồi quy đơn biến cho kết quả là tuổi làm tăng nguy cơ ngã (OR 1,065, 95%CI:

1,038 – 1,093, p < 0,001). Kết quả của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu

của A. K. Azidah (2012) , tuổi ≥ 75 là yếu tố dự báo nguy cơ ngã ở bệnh nhân

ĐTĐ cao tuổi với (OR 2.97, 95% CI: 1.12 - 7.87, p = 0,028). Kết quả của

chúng tơi khác với nghiên cứu của Chiba (2015), khơng có sự khác biệt về tuổi

trung bình của 2 nhóm bệnh nhân ĐTĐ có ngã và khơng có ngã [3].

Kết quả nghiên cứu cho thấy khơng có mối liên quan giữa ngã với giới,

BMI, HATT, HATTR, các yếu tố môi trường: khu vực sống, trình độ học vấn,

nghề nghiệp, chung sống với. Tỉ lệ nam giới ở nhóm ĐTĐ khơng ngã là

30,6%, nhóm có ngã là 35,2%. BMI trung bình của nhóm khơng ngã là 22,5 ±

3,5, nhóm có ngã là 22,4 ± 3,8. HATT trung bình ở nhóm khơng ngã là 127,7

± 13,5, nhóm có ngã là 128,1 ± 19,7. HATTR trung bình ở nhóm khơng ngã là

77,7 ± 6,6, nhóm có ngã là 78,9 ± 7,8. Kết quả này cũng tương tự nghiên cứu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Suy giảm ADL, IADL, trầm cảm, uống nhiều thuốc, là các yếu tố liên quan tới ngã nhiều lần ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi (p <0,05).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×