Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngã là một hiện tượng phổ biến ở người cao tuổi.

Ngã là một hiện tượng phổ biến ở người cao tuổi.

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



1.1.3. Các nguyên nhân - yếu tố nguy cơ chính gây nên ngã

Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ chính gây ngã ở người cao tuổi

được tóm tắt qua hình vẽ dưới đây:

Yếu tố cá nhân, bệnh lý:

-Tuổi, giới, chủng tộc

-Bệnh mạn tính:

Parkinson, viêm khớp...

-Suy giảm chức năng,

nhận thức...

- Thuốc, sử dụng nhiều

thuốc..



Yếu tố thói quen:

-Uống rượu

-Lười vận động

-Đi giày dép khơng

quai

-Với tay, trèo cao...



Ngã



Yếu tố xã hội:

-Trình độ dân trí thấp

-Thiếu nguồn lực, sự

hỗ trợ xã hội

-Dịch vụ chăm sóc

kém..



Hình 1.1. Các ngun nhân – yếu tố nguy cơ chính gây nên ngã [11]

1.1.3.1. Nguy cơ do đặc điểm cá nhân

Thay đổi theo tuổi và bệnh mạn tính [14].

- Tuổi càng cao, tăng nguy cơ ngã, > 80 tuổi cần trợ giúp trong sinh hoạt

hàng ngày.

- Kiểm soát tư thế



5



+ Tùy thuộc chức năng thị giác, tiền đình và hệ thần kinh trung ương.

+ Diện tích bàn chân giảm theo tuổi.

+ Chậm đáp ứng của thần kinh trung ương với thay đổi của môi trường.

+ Yếu cơ, đau khớp dẫn đến đáp ứng không đầy đủ hay không hiệu

quả gây nên ngã.

- Đường vào cảm giác

+ Hướng tâm: thị giác, thính giác, tiền đình

+ Thị giác: tuổi, bệnh tật (đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, thối hóa

hồng điểm). Giảm thị lực dẫn đến ngã.

+ Giảm thính lực: 50 % trên người cao tuổi

+ Suy chức năng tiền đình dẫn tới mất cân bằng.

- Trung tâm xử lý

+ Thần kinh trung ương bị ảnh hưởng: Parkinson, đột quỵ

+ Trầm cảm dẫn đến giảm tập trung và nhận thức

- Cơ xương suy yếu

+ Khối lượng cơ và sức khỏe giảm theo độ tuổi, bệnh tật, ít vận động

+ Hơng yếu, bệnh cơ xương (viêm khớp, yếu cơ, loãng xương)

- Hạ huyết áp tư thế

+ Gặp ở 10 – 30 % người > 65 tuổi

+ Huyết áp tâm thu giảm ≥ 20mmHg do: thuốc, mất nước, tuổi, bệnh lý

+ Triệu chứng: chóng mặt hay ngã sau thay đổi tư thế, hay sau ăn

- Bệnh cấp tính: viêm phổi, suy tim nặng dẫn tới thay đổi nhận thức,

huyết áp thấp, mệt mỏi.

1.1.3.2. Thuốc

Thuốc gia tăng nguy cơ ngã [14]. Đa số người cao tuổi, không chỉ mắc

phải một bệnh mà thường mắc nhiều bệnh cùng lúc như: huyết áp cao, đái



6



tháo đường, viêm khớp… dẫn tới phải uống nhiều thuốc. Nhiều nghiên cứu

cho thấy: sử dụng trên 4 loại thuốc khác nhau sẽ gia tăng nguy cơ ngã [14].

Ngoài ra, một số loại thuốc cũng gây ra các tác dụng phụ, làm gia tăng

nguy cơ ngã ở người cao tuổi [14]:

- Thuốc giảm đau chống viêm non-steroid (NSAID): Aspirin, diclofenac...

Tác dụng phụ trên hệ thần kinh: có thể gây ù tai, điếc thống qua, say thuốc.

- Corticoid: Ở não có thụ thể của glucocorticoid có liên quan đến những

rối loạn cảm xúc và hành vi → tác dụng phụ: kích thích, sảng hoặc trầm cảm.

- Thuốc an thần: các loại thuốc an thần như nhóm thuốc benzodiazepine

(diazepam, clorazepam, oxazepam…) khi sử dụng một thời gian dài đều làm

gia tăng nguy cơ ngã do gây ra tác dụng phụ như buồn ngủ, chóng mặt, rối

loạn thăng bằng…

- Thuốc hạ huyết áp:

+ Thuốc ức chế men chuyển (Captopril, enalapril...)

+ Thuốc đối kháng canxi (Nifedipin, amlodipin…)

+ Thuốc lợi tiểu (Furosemid, hydrochlorothiazid…)

Các nhóm thuốc hạ áp này làm gia tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi do

gây ra tác dụng phụ: hạ huyết áp tư thế.

- Chống loạn nhịp nhóm quinidine, verapamine, bepridil, cordaron…

Digitalis, lợi tiểu hạ kali, spironolactone, fludrocortison. Cơ chế gây tăng

nguy cơ ngã: rối loạn nhịp hoặc dẫn truyền.

- Thuốc chống trầm cảm (Amitryptilin, nortryptilin…) gây ra tác dụng

phụ buồn ngủ, hạ huyết áp…làm tăng nguy cơ ngã

- Thuốc chống động kinh (Carbamazepin, axít valproic…): tác dụng phụ

là: chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn thăng bằng.

- Thuốc chống loạn thần (Risperidon, chlorpromazine…) thường gây ra

tác dụng phụ buồn ngủ, chóng mặt, rối loạn thăng bằng.

- Thuốc kháng histamine H1 (chlorpheniramin, dexchlorpheniramin...)

cũng gây ra tác dụng phụ buồn ngủ, chóng mặt, dễ ngã…

- Thuốc hạ đường huyết: Insulin, Sulfamid [15].



7



Các sulfamid hạ đường huyết có tác dụng kích thích tiết insulin từ tế

bào beta của đảo tụy. Não sử dụng glucose như một nguồn năng lượng chính.

Một phần nhỏ glucose được lấy từ glycogen chứa trong các tế bào hình sao

nhưng lượng glycogen này chỉ đủ dùng trong vài phút. Phần lớn glucose được

lấy từ máu và khi lượng đường trong máu giảm sẽ gây các triệu chứng về thần

kinh: hoa mắt, chóng mặt, lú lẫn, hơn mê...gây nên ngã.

Glyburide khơng nên chỉ định cho người ĐTĐ cao tuổi vì có nguy cơ

cao hạ đường huyết. Chlorpropamide có thời gian bán hủy kéo dài, đặc biệt

cần tránh ở người lớn tuổi [16].

1.1.3.3. Những yếu tố thuận lợi

- Hoạt động quá sức: cố trèo cao, với tay...

- Lo sợ ngã dẫn đến mất thăng bằng

- Lực tác động

- Vị trí ngã: cao, thấp, có điểm vịn hay khơng, nền cứng, bằng phẳng...

1.1.4. Hậu quả do ngã gây ra đối với người cao tuổi

Theo báo cáo của WHO về ngã ở người cao tuổi trên thế giới, ngã là

nguyên nhân dẫn đến 20 – 30% các chấn thương nhẹ đến nghiêm trọng, là

nguyên nhân cơ bản của 10 – 15% số cấp cứu nhập viện. Hơn 50% các trường

hợp nhập viện liên quan đến chấn thương ở người trên 65 tuổi. Các nguyên

nhân cơ bản phải vào viện liên quan đến ngã là: gãy xương hông, chấn thương

não, thương tổn tay chân [11].

Thời gian nằm viện vì bị ngã thường kéo dài hơn nhiều so với các bệnh

lý khác. Khoảng: 4 – 15 ngày ở Thụy Sĩ , Thụy Điển, Mỹ. Trong trường hợp

gãy xương hông thời gian nằm viện kéo dài đến 20 ngày. Với độ tuổi càng

cao, thể trạng yếu, người cao tuổi có thể có thể vẫn phải nằm viện liên tục

trong suốt cuộc đời họ sau một chấn thương do ngã gây ra [11].

Tại Hoa Kỳ, khoảng ba phần tư số ca tử vong do ngã xảy ra ở 13% dân

số ≥ 65 tuổi, xảy ra chủ yếu ở nhóm có hội chứng lão khoa. Khoảng 40%



8



nhóm tuổi này sống ở nhà một mình bị ngã ít nhất một lần mỗi năm và

khoảng 1 trong 40 người trong số họ phải nhập viện. Trong số những người

nhập viện sau ngã, chỉ khoảng một nửa còn sống một năm sau đó [5].

Theo CDC (Centers for Disease Control and Prevention – Trung tâm

kiểm sốt và phòng ngừa bệnh tật) năm 2013, hơn 2000000 chấn thương

không tử vong liên quan tới ngã được điều trị tại khoa cấp cứu, và hơn

700000 trong đó buộc phải nhập viện [17].

Ngồi ra, ngã cũng có thể dẫn tới một hội chứng sau ngã bao gồm: sự

phụ thuộc, mất sự tự chủ, nhầm lẫn, bất động và trầm cảm, tất cả đều dẫn tới

sự hạn chế hoạt động hàng ngày của bệnh nhân [11].

1.1.5. Dự phòng ngã

Các biện pháp dự phòng ngã và tái ngã chủ yếu tập trung vào:

- Sàng lọc yếu tố nguy cơ:

+ Bệnh nhân: giảm thị lực, thính lực, khả năng di chuyển, các thuốc

đang dùng (hướng thần), lỗng xương...

+ Mơi trường: sàn nhà, ánh sáng, cầu thang, nhà tắm, nhà bếp...

- Đánh giá tồn diện:

+ Hạ áp tư thế, viêm khớp, tình trạng yếu cơ, tổn thương biến dạng bàn

chân, kiểm tra về thần kinh, tâm thần, phản xạ gân xương, chức năng thăng

bằng,..

+ Đường huyết, công thức máu, điện giải đồ, chức năng thận, đo lỗng

xương...

- Các phương pháp phòng ngã:

+ Bệnh nhân: giáo dục bệnh nhân, nhân viên chăm sóc; giảm thuốc

hướng thần; hướng dẫn cách di chuyển và đi bộ an tồn; lớp tập thể dục.



9



+ Mơi trường: đảm bảo mơi trường an tồn, phù hợp: giường thấp, đặt

nệm trên sàn cạnh giường, tay vịn trong nhà vệ sinh...

+ Sử dụng dụng cụ bảo vệ hông

- Điều trị: tập phục hồi chức năng, điều trị thăng bằng, điều chỉnh dáng

đi, tập các kĩ thuật tăng cơ lực chi dưới, giữ thăng bằng...[18].

1.2. Tổng quan về đái tháo đường ở người cao tuổi

1.2.1. Định nghĩa

Hội ĐTĐ Hoa Kỳ (American Diabetes Association - ADA) 2010:

“ĐTĐ là một nhóm các rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do

khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai. Tăng

glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay

suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [19].

1.2.2. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh Đái tháo đường

1.2.2.1. Tình hình bệnh Đái tháo đường trên thế giới

Tốc độ gia tăng số người mắc ĐTĐ nhanh chóng đã khiến bệnh trở thành

vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại. Năm 2000: 151 triệu mắc ĐTĐ [20],

năm 2010: 285 triệu mắc ĐTĐ [21]. Năm 2017 theo IDF, có 425 triệu người

mắc ĐTĐ, dự kiến tăng lên 629 triệu người vào năm 2045 [1].

1.2.2.2. Tình hình bệnh Đái tháo đường trong nước

Ở Việt Nam tỷ lệ mắc ĐTĐ cũng tăng nhanh chóng. Năm 2002, theo

điều tra của bệnh viện Nội tiết Trung ương ở lứa tuổi 30 – 64, tỷ lệ mắc ĐTĐ

chung của cả nước là 2,7 % [22],[23]. Tổng điều tra trên toàn quốc năm 2012

của Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên hơn 11000 người từ 30 đến 69 tuổi tại 6

vùng sinh thái (Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền

Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ) phát hiện tỷ lệ mắc ĐTĐ

ở nước ta đã tăng lên 6%, trong đó tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ (hơn

7%), thấp nhất ở Tây Nguyên (gần 4%). Tỷ lệ người bệnh trong cộng đồng

chưa được phát hiện ở nước ta là gần 64%, cao hơn so với thế giới [24].



10



Số người mắc ĐTĐ tại Việt Nam dự báo sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 so với

năm 2010 [25].

1.2.2.3. Tình hình bệnh Đái tháo đường ở người cao tuổi

Số người cao tuổi trên toàn thế giới ngày một tăng, hiện chiếm khoảng

8,3% dân số thế giới và dự kiến sẽ lên đến 30% vào năm 2050 [2]. Theo Tổ

chức Y tế thế giới (WHO) đến 2030 sẽ có hơn nửa số mắc ĐTĐ trên thế giới

là dân châu Á và hơn phân nửa số bệnh nhân này trên tuổi 60 [2].

Theo J.E. Shaw và cộng sự, năm 2010 tỷ lệ mắc ĐTĐ trên thế giới cao

nhất ở nhóm 40 – 59 tuổi, tuy nhiên dự kiến tỷ lệ này sẽ cao hơn ở nhóm tuổi

60 – 79 vào năm 2030 [25].

Nghiên cứu DECODE Study đánh giá ở các nước Châu Âu cho kết quả:

tỷ lệ mắc ĐTĐ < 10% ở nhóm tuổi <60, và 10 – 20% ở nhóm 60 – 79 tuổi.

Nghiên cứu DECODA ở 11 nước Châu Á cũng cho kết quả tương tự [26].

Theo IDF, số người độ tuổi 65 - 79 mắc ĐTĐ năm 2017 là 98 triệu người, dự

kiến sẽ tăng lên 191 triệu người vào năm 2045 [1].

1.2.3. Biến chứng của đái tháo đường

1.2.3.1. Biến chứng cấp tính

Các biến chứng hay gặp

- Hơn mê tăng áp lực thẩm thấu

- Hôn mê nhiễm toan cetone ĐTĐ

- Nhiễm toan acid lactic

- Biến chứng hạ đường huyết

+ Định nghĩa: theo ADA 2005

Hạ đường huyết được xác định khi có sự biểu hiện các triệu chứng của

hệ thần kinh thực vật và hệ thần kinh trung ương do mức đường huyết hạ thấp

quá; được hồi phục nhanh chóng (trong vòng 10 phút) sau khi ăn glucose

hoặc sucrose [27].

1.2.3.2. Biến chứng mạn tính



11



Các biến chứng mạn tính thường gặp ở bệnh ĐTĐ typ 2 [28].

- Biến chứng vi mạch

- Biến chứng mạch máu lớn

- Biến chứng thần kinh

- Biến chứng nhiễm khuẩn

- Biến chứng bàn chân đái tháo đường

1.2.4. Đặc điểm của đái tháo đường ở người cao tuổi

1.2.4.1. Định nghĩa người cao tuổi

Theo Luật người cao tuổi số: 39/2009/QH12 của Quốc hội Nước

CHXHCN Việt Nam, người cao tuổi là người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên.

1.2.4.2. Suy giảm chức năng, nhận thức, các hội chứng lão khoa hay gặp ở

bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi

Ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra, ĐTĐ có liên quan tới suy giảm

chức năng và khuyết tật ở người cao tuổi. Nghiên cứu của Evelyn Wong

(2013) phân tích trên 3224 đối tượng, kết quả: ĐTĐ có liên quan tới tăng

nguy cơ suy giảm IADL (OR 1·65, 95% CI 1·55–1·74), suy giảm ADL (OR

1·82, 95% CI 1·63–2·04; RR 1·82, 95% CI 1·40–2·36) [29]. Nghiên cứu

French PAQUID trên 4000 đối tượng ≥ 65 tuổi, cho kết quả ĐTĐ có liên quan

tới suy giảm ADL và IADL [30].

Trầm cảm là một căn bệnh có thể ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi bệnh

ĐTĐ. Nó ảnh hưởng tiêu cực đến q trình bệnh ĐTĐ và có liên quan đến

tăng nguy cơ biến chứng (đặc biệt biến chứng tim mạch), tăng đường huyết và

tử vong, thông qua các thay đổi về nội tiết tố, thần kinh hoặc hệ thống miễn

dịch ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất hoặc sử dụng insulin của cơ

thể. Hoặc, ảnh hưởng của trầm cảm có thể là gián tiếp, do kết quả của hành vi

tự chăm sóc kém như ăn quá nhiều, uống rượu, không tập thể dục, bỏ thuốc,

khơng tái khám định kỳ...Vì vậy, xác định và điều trị trầm cảm ở người bệnh



12



ĐTĐ cần được chú trọng [31]. Tỷ lệ trầm cảm khá cao ở bệnh nhân ĐTĐ cao

tuổi, tới 30% bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi có dấu hiệu trầm cảm, 12 - 18% được

chẩn đốn [32].

Sự suy giảm chức năng nhận thức ở bệnh nhân ĐTĐ có thể do q trình

lão hóa nhưng cũng có thể do sa sút trí tuệ gây nên [33]. Hiện nay có nhiều

nghiên cứu khẳng định ĐTĐ là một trong những yếu tố nguy cơ gây sa sút trí

tuệ do các biến chứng mạch máu của ĐTĐ hay đơn giản là do glucose máu

cao [34].

Bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi có nguy cơ cao phải sử dụng nhiều thuốc, làm

tăng nguy cơ tác chịu tác dụng phụ của thuốc và tương tác giữa các loại thuốc

khác nhau [35].

1.2.4.3. Sự khác biệt sinh lý giữa người ĐTĐ cao tuổi và người trẻ

- Bắt nguồn từ sinh lý bệnh của tuổi già [36].

+ Gia tăng kháng insulin do tăng mô mỡ

+ Suy giảm chức năng tế bào beta tụy, làm giảm tiết insulin

+ Nền tảng di truyền của người bệnh

+ Ngưỡng thận của người cao tuổi tăng

+ Cơ chế khát của người già có khiếm khuyết

+ Các bệnh đi kèm làm tăng stress và các hormon đối kháng

+ Giảm hoạt động thể lực

- Những thay đổi sinh lý [36].

Ăn uống kém và thất thường, hấp thu ở ruột chậm, giảm dự trữ glycogen

tại gan, suy giảm chức năng thận theo tuổi, chậm đáp ứng hormon điều hòa

ngược khi có hạ đường huyết làm mờ nhạt các dấu hiệu báo động cơn hạ

đường huyết.



1.2.4.4. Yếu tố nguy cơ hạ ĐH ở người già



13



Bảng 1.1. Yếu tố nguy cơ hạ ĐH ở người già [36].

Liên quan đến Đái Tháo Đường

Bệnh thần kinh tự chủ và thuốc ức



Liên quan đến lối sống

Ăn uống thất thường, khi quên khi nhớ



chế giao cảm



Uống nhiều rượu



Giảm nhận thức



Khác:



Hội chứng suy tuyến nội tiết



-Điều trị insulin hoặc sulfonylurea



Suy gan



-Kiểm soát đường huyết chặt chẽ



Dinh dưỡng kém



-Phác đồ điều trị phức tạp



Suy thận. Nhập viện gần đây



-Uống nhiều thuốc, Thuốc an thần



1.2.4.5. Mục tiêu điều trị ĐTĐ cao tuổi





Mục đích của kiểm soát đường huyết là giảm thiểu biến chứng mạn tính và

tránh sự cố hạ ĐH nặng [36].

- Mục tiêu kiểm soát đường huyết ở người cao tuổi [35].

+ Khuyến cáo của American Geriatrics Society (Hội Lão khoa Koa Kỳ)



HbA1C:

≤ 7% cho người có chức năng tốt.

≤ 8% với người cao tuổi dễ bị tổn thương, kỳ vọng sống < 5 năm,

nhóm có nguy cơ cao hơn lợi ích nếu kiểm soát quá chặt [16].

+ Khuyến cáo của ADA 2012 : Mục tiêu kiểm sốt đường máu đói cho

người cao tuổi [37].



Bảng 1.2. Đồng thuận ADA 2012 ở người cao tuổi



14



Đặc điểm của



Kỳ vọng sống



người bệnh

Có sức khỏe



Kỳ vọng sống dài



tốt (*)

Có sức khỏe



Kỳ vọng sống trung



trung bình (**)



bình, gánh nặng điều

trị, dễ hạ đường huyết,



HbA1C



< 7.5%



< 8.0%



Đường huyết



Đường



lúc đói và



huyết trước



trước ăn

5.0 – 7.2



đi ngủ

5.0 -8.3



mmol/L



mmol/L



5.0 – 8.3



5.0 – 10



mmol/L



mmol/L



5.6 – 10



6.1 – 11



mmol/L



mmol/L



nguy cơ ngã

Có sức khỏe

kém (***)



Kỳ vọng sống hạn chế



< 8.5%



Những thận trọng và ưu điểm của các nhóm thuốc cho người lớn tuổi

+ Insulin: Khi khởi dùng insulin phải cân nhắc tất cả khả năng làm hạ

đường huyết [36].

 Phác đồ insulin cơ bản:

Khó có một phác đồ chung cho việc chuyển từ thuốc viên sang tiêm

dưới da insulin ở người cao tuổi. NPH tiêm dưới da khi ngủ làm hạ đường

huyết trong đêm nhiều hơn glargin vì đỉnh của NPH là 6-8h giờ sau tiêm và

cortisol thấp về đêm góp phần hạ đường huyết. Khi gần sáng, NPH giảm tác

dụng và cortisol được tiết tăng dần dẫn đến tăng đường huyết. Nên tiêm NPH

càng muộn càng tốt. Những analog tác dụng dài (glargin hay determir) thích

hợp hơn NPH. Nếu đường huyết khơng thể kiểm soát được mới chuyển sang

insulin hỗn hợp.

 Insulin hỗn hợp:

Phác đồ insulin nhanh vào các bữa ăn và insulin cơ bản khơng nên

dùng cho người già, thay vào đó nên là insulin hỗn hợp. Insulin analog pha

trộn tiện cho người cao tuổi vì kiểm sốt đường sau ăn tốt hơn và linh động

theo bữa ăn.

+ Thuốc viên

Bảng 1.3.Thận trọng và ưu điểm của các nhóm thuốc cho người cao tuổi [35]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngã là một hiện tượng phổ biến ở người cao tuổi.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×