Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Số liệu ở bảng 3.3 về phân bố thai phụ bị TSG và số lần đẻ cho thấy:

Số liệu ở bảng 3.3 về phân bố thai phụ bị TSG và số lần đẻ cho thấy:

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



(2012) và 2% (2017)..

So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hùng Sơn [19], Phan Thị

Thu Huyền [47] cho thấy:

Tác giả



Năm



Làm



Nhóm nghề

Nội

Cán

Cơng



Nghề



ruộng

trợ

bộ

nhân khác

Nguyễn Hùng Sơn [19]

2002

36%

24%

26%

14%

0%%

1997 18,5% 22,2% 50,0% 9,3% 0,0%

Phan Thị Thu Huyền [47]

2007 21,2% 36,4% 24,6% 11,0% 6,8%

2008 21,6% 4,1% 12,4% 37,1% 24,7%

Trần Thị Hiền[29]

2013 20,5% 0,0% 16,8% 29,2% 33,5%

2012 35%% 18,7% 27,6% 15,4% 3,3%

PhạmThị Hương Giang

2017 31,5% 20,7% 33% 12,8%

2%

Trong nghiên cứu của Nguyễn Hùng Sơn nhóm nghề làm ruộng chiếm tỷ

lệ cao nhất, của Phan Thị Thu Huyền nhóm nghề cán bộ chiếm tỷ lệ cao nhất,

còn trong nghiên cứu của chúng tơi nhóm nghề làm ruộng chiếm tỷ lệ cao

nhất phù hợp với nghiên cứu của Trần Hùng Sơn.

4.1.5. Nơi ở

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4 cho thấy năm tỷ lệ tiền sản giật ở đồng

bằng cao hơn miền núi ở cả 2 thời điểm 2012 và 2017. Sở dĩ như vậy là vì dân

cư chủ yếu khám là thành phố, các huyện lân cận. Và vì vị trí địa lý miền núi

của Thanh Hóa việc di chuyển bệnh nhân khơng thuận lợi. Đối với những

bệnh nhân TSG nặng hoặc là chuyển thẳng bệnh nhân ra BVPS Trung ương

sẽ nhanh hơn và đường đi thuận lợi hơn so với vận chuyển bệnh nhận đến BV

PS Thanh Hóa. Hoặc sẽ gọi hỗ trợ từ BVPS Thanh Hóa cấp cứu tại BV tuyến

huyện của Miền Núi. Hằng năm BVPS Thanh Hóa vẫn cử các bác sỹ hỗ trợ

các bệnh viện của các huyện miền nui trong tỉnh. Nên tỷ lệ miền núi gạp ít

hơn đồng bằng trong nghiên cứu của chúng tơi vẫn có thể chấp nhận được.

4.1.6. Phân loại tiền sản giật

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.2 cho thấy năm 2012 tỷ lệ thai phụ bị



65



TSG nhẹ cao gấp đôi TSG nặng, còn năm 2017 tỷ lệ thai phụ bị TSG nhẹ cao

gấp gần 5 lần TSG nặng, song chúng tôi nhận thấy tỷ lệ thai phụ bị TSG nặng

năm 2017 (10,3%) thấp hơn năm 2012 (32,2%), sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê với p < 0,001. Sở dĩ năm 2017 tỷ lệ thai phụ bị TSG nặng thấp hơn

năm 2012 có thể là do ở tuyến y tế cơ sở, cơng tác chăm sóc sức khỏe ban đầu

được đẩy mạnh nên việc tuyên truyền và phát hiện sớm các trường hợp TSG để

quản lý và điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh kịp thời nên tỷ lệ TSG nặng giảm.

So sánh nghiên cứu của chúng tôi với các nghiêm cứu khác:

TT

1

2

3

4



Tên tác giả

Phan Thị Thu Huyền [25]

Nguyễn Hùng Sơn [22]

Trần Thị Hiền [29]

Phạm Thị Hương Giang



Năm nghiên cứu

1997

2007

2002

2008

2013

2012

2017



Tỷ lệ TSG nặng

63%

63,6%

49%

46,4%

23,8%

32,2%

10,3%



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ TSG nặng thấp hơn so với các

nghiên cứu khác. Năm 2017 tỷ lệ tiền sản giật nặng đã giảm đi đáng kể. Điều

này chứng tỏ việc phát hiện sớm TSG để theo dõi và kiểm soát huyết áp rất quan

trọng trong việc điều trị và giảm tỷ lệ các biến chứng của TSG.

4.1.7. Tuổi thai khi vào viện

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.5 cho thấy tuổi thai khi vào viện ở tuần

28 -32 của năm 2012 là 7% còn năm 2017 gấp đơi năm 2012 (15,8%). Từ

tuần thai 33-36 năm 2017 cũng cao hơn so với năm 2012,

Tuần thai >37 năm 2012 cao hơn gấp đôi năm 2017. Tuy nhiên, TSG

nặng ở tuần tuổi thai > 37 tuần năm 2012 lại cao hơn so với năm 2017. Tuy

nhiên sự khác biệt khơng có y nghĩa thống kê.

Điều này chứng tỏ việc tầm soát và phát hiện TSG ngày càng phát triển



66



hơn, điều này cũng có thể giảm những biến chứng cho mẹ và thai. Việc điều

trị TSG cũng sẽ thuận lợi hơn.

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.2.1. Triệu chứng lâm sàng

4.2.1.1. Triệu chứng tăng huyết áp

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 2 cho thấy:

Tỷ lệ thai phụ tăng huyết áp độ 1 năm 2012 là 66,4%, năm 2017 là 80,8%

Độ 2 năm 2012 là 27,1%, năm 2017 là 16,3%. Độ 3 năm 2012 là 6,5%,

năm 2017 là 3%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Năm

2017 tỷ lệ tăng huyết áp độ 2, 3 giảm đáng kể so với năm 2012.

Các nghiên cứu ở Việt Nam trong thời gian gần đây cũng khẳng định

rằng tăng huyết áp là một trong những dấu hiệu thường gặp nhất của TSG.

Dương Thị Bế và CS thơng báo 100% thai phụ có tăng huyết áp trong đó tăng

huyết áp độ 1 chiếm 34,9%, độ 2 là 39% và độ 3 là 26,1% [8].

Mounier-Vehier và CS đề xuất nên dùng từ “hội chứng tăng huyết áp

thai nghén”. các tác giả cũng khẳng định lại tăng huyết áp trong thời kỳ thai

nghén chiếm tỷ lệ từ 10-15% [30]. Tuy nhiên, các tác giả cũng khẳng định

rằng tăng huyết áp chiếm tỷ lệ rất cao trong bệnh lý TSG trên 80%. Tác giả

cũng giải thích 2 yếu tố tham gia vào TSG đó là sự phát triển bất thường của

rau thai và đáp ứng bất thường của bà mẹ đối với việc hình thành rau thai.

Việc xác định tăng huyết áp do có thai hay khơng là rất khó vì khơng biết là

người phụ nữ trước khi có thai có bị tăng huyết áp hay không ngay cả tại các

nước phát triển chứ không chỉ ở các nước đang phát triển.

Tăng HA là dấu hiệu chính xuất hiện đầu tiên trong TSG dựa vào đây

để phân loại TSG [31] bên cạnh đó tăng HA là yếu tố quan trọng để tiên

lượng TSG. Đa số các tác giả đều thấy rằng HATT ≥ 160mmHg, HATTr ≥ 90

mmHg được coi là nguy hiểm và gây ra các biến chứng cho mẹ và thai nhi



67



(Trần Đỗ Trinh – Nguyễn Ngọc Tước (1992) [32]; Theo Ngô Văn Tài (2001)

[16] thì thai phụ có HATT > 160 mmHg có nguy cơ bị SG cao cấp 5,4 gấp, bị

đẻ non cao gấp 1,9 lần và số trẻ sơ sinh cân nặng < 2500g cao gấp 2 lần so với

những sản phụ có HATT < 160 mmHg và HATTr ≥ 90 mmHg có nguy cơ bị

SG cao gấp 4,51 lần, có nguy cơ chảy máu cao gấp 6,2 lần, nguy cơ đẻ non

cao gấp 1,86 lần, nguy cơ trẻ cân nặng thấp < 2500g gấp 1,76 lần so với

những sản phụ có HATTr < 90 mmHg. Tuy nhiên có những trường hợp mặc

dù huyết áp tăng ở mức 140-160 kèm theo một số triệu chứng như nhìn mờ,

đau hạ sườn phải.... cũng được xem là TSG nặng.

Theo “Emergent Therapy for Acute-Onset, Severe Hypertension

During Pregnancy and the Postpartum Period ,” do ACOG ban hành trong

tháng 4 năm 2017, là các hướng dẫn được phát triển bởi Ủy ban về Thực

hành Sản khoa cho các nhà cung cấp. Tăng huyết áp nặng (tâm thu từ 160

mm HG trở lên, hoặc tâm trương từ 110 mm HG trở lên) kéo dài hơn 15

phút ở phụ nữ mang thai và sau sinh với tiền sản giật hoặc sản giật là một

trường hợp khẩn cấp tăng huyết áp. Nó là một ́u tố dự báo chính cho x́t

hút não và, nếu khơng được điều trị nhanh chóng và thích hợp, có thể dẫn

đến tử vong mẹ.



68



4.2.1.2. Triệu chứng phù

Trong bệnh lý TSG phù là một trong những triệu chứng phổ biến cùng

với sự xuất hiện của một số yếu tố nổi trội khác như tăng huyết áp, tăng cân

nhanh bất thường và protein niệu.

Trong nghiên cứu kết quả bảng 3.6 cho thấy:

- Năm 2012 có 38,3% sản phụ bị TSG có phù trong đó TSG nhẹ chiếm

14%, TSG nặng chiếm 20,6%, HELLP và sản giật bằng nhau chiếm 1,9% và

có 61,7% sản phụ bị TSG khơng phù.

- Năm 2017 có 53,2% sản phụ bị TSG có phù trong đó TSG nhẹ chiếm

39,9%, TSG nặng chiếm 11,3%, HELLP và sản giật chiếm tỷ lệ ngang nhau là

1%. 46,8% sản phụ bị TSG không phù.

Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

So sánh với các tác giả khác

Tác giả

Nguyễn Công Nghĩa và

Nguyễn Đức Vy

Trần Thị Phúc và

Nguyễn Văn Thắng

Phan Thị Thu Huyền và

Nguyễn Việt Hùng

Dương Thị Bế và

Phan Trường Duyệt

Gagdné và CS

Lê Thiện Thái và

Phan Trường Duyệt



Năm



Tỷ lệ thai phụ có phù



2001



83,2%



1999



91,1%



1997



81,5%



2007



58,9%



2004



84,1%



Trong vòng 40

năm qua

2009



60%-90%

74%



2012

38,3%

2017

52,2%

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ phù của 2 năm so với các nghiên



Phạm Thị Hương Giang

cứu khác đều thấp hơn.



69



Các tác giả trong và ngoài nước đều nhất trí tính chất phù trong TSG là

phù trắng, phù mềm, ấn lõm, phù không giảm khi nằm nghỉ, [33] [34] Phù có

thể chia thành các mức độ khác nhau như phù nhẹ ở chi, phù trung bình ở chi

và bụng và phù nặng, phù toàn thân và phù đa màng.

Để đánh giá một thai phụ có phù hay khơng trong q trình thai nghén

cần theo dõi cân nặng ở thai phụ. Nếu trọng lượng cơ thể thai phụ tăng lên

trên 500gam trong 1 tuần hoặc trên 2250 gam trong 1 tháng thì được coi là có

phù trong khi mang thai [2], [35],[36] Các tác giả cũng đề xuất rằng triệu

chứng phù liên quan rất chặt chẽ đến tiền sản giật và đình chỉ thai nghén do

tiền sản giật. Dấu hiệu phù là nguyên nhân góp phần tạo nên các biến chứng

cho sản phụ và thai nhi.

Các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất rằng phù trong thời kỳ

thai nghén là một triệu chứng dễ phát hiện và thường là triệu chứng để thai

phụ đi khám bệnh [37] [38] [39].

4.2.2. Triệu chứng cận lâm sàng

4.2.2.1. Công thức máu

Kết quả bảng 3.7 cho thấy:

Tỷ lệ tiểu cầu ≤ 100.000/mm3 ở thai phụ bị TSG năm 2012 là 1,9% thấp

hơn năm 2017 là 1%. Tỷ lệ tiểu cầu > 100.000/mm 3 ở thai phụ bị TSG năm

2012 là 98,1% thấp hơn năm 2013 là 99%. Sự khác biệt không có ý nghĩa

thống kê với p > 0,05.

Trong bệnh lý TSG vai trò của tiểu cầu rất quan trọng trong việc chống

lại nguy cơ chảy máu trong đó có chảy máu do nguyên nhân rau bong non.

Theo Ngô Văn Tài (2001) [16] thì những thai phụ có số lượng tiểu cầu

< 100.000/mm3 máu thì nguy cơ bị rau bong non cao gấp 9,37 lần thai phụ có

tiểu cầu ≥ 100.000/mm3 và có nguy cơ chảy máu cao gấp 10 lần thai phụ có

tiểu cầu ≥ 100.000/mm3 máu.



70



4.2.2.3. Xét nghiệm hóa sinh

Về Ure, creatinin là dấu hiệu cơ bản để chứng tỏ thai phụ bị TSG có suy

thận khơng, đặc biệt là trong những trường hợp sản phụ bị TSG nặng, sản giật

và hội chứng HELLP.Tuy nhiên để chẩn đoán thai phụ có bị suy thận hay

khơng thì khơng chỉ phụ thuộc vào ure, creatinin. Mà còn phụ thuộc vào mức

lọc cầu thận, số lượng nước tiểu 24/h...

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.8 cho thấy năm 2012 tỷ lệ thai phụ bị TSG có

ure > 6,6mmol/l (7,5%) cao hơn năm 2017 (4,4%). Tỷ lệ creatinin > 106 µmol/l

năm 2012 (5,6%) cao hơn 2017 (4,4%). Sự khác biệt về ure huyết, creatinin

hút thanh và các thai phụ bị TSG khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Mức độ tăng của các xét nghiệm này liên quan đến mức độ nặng của

bệnh TSG bởi vì khi ure, creatinin máu tăng chứng tỏ chức năng lọc của cầu

thận bị giảm sút, cầu thận bị tổn thương là dấu hiệu TSG nặng. Chức năng

thận càng giảm thì tình trạng bệnh càng nặng, càng có nguy cơ để lại di chứng

sau khi kết thúc thai nghén. Tuy nhiên để dánh giá suy thận còn dựa vào mức

lọc cầu thận và lượng nước tiểu 24h.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu

Nguyễn Hùng Sơn (2002) [22] ure huyết > 6,6 mmol/l: 18,2%, creatinin

> 106: 8,1%, của Ngô Văn Tài (2001) [16] ure huyết > 6,6mmol/l: 12,2%,

creatinin > 106 mmol/l: 5,6%.

Về acid uric và protid. Kết quả ở bảng 3.8 cho thấy

Năm 2012 có 2,8% thai phụ bị TSG có acid uric > 400 µmol/l và có

protid< 40 g/l là 7%.

Năm 2017 có 1,5% thai phụ bị TSG có acid uric > 400 µmol/l và 7,4%

protid < 40g/l

Acid uric huyết thanh tăng cao sẽ biểu hiện nguy cơ gây tai biến cho mẹ

và con trong TSG và chính acid uric là biểu hiện về mặt sinh hóa của tăng



71



huyết áp. Do tăng huyết áp làm co thắt các tiểu động mạch thận dẫn đến

lượng máu đến thận ít, gây giảm lọc ở thận làm cho độ thanh thải ở thận kém

và hàm lượng acid uric trong máu tăng cao. Qua rất nhiều thử nghiệm lâm

sàng Grarrone và cộng sự (1997) [40] đã đưa ra giá trị acid urid máu nếu

> 360 µmol/l thì tình trạng NĐTN sẽ rất nặng và tình trạng sơ sinh sẽ xấu đi

nếu acid uric máu > 375 µmol/l.

Rối loạn tăng huyết áp của thai kỳ như tiền sản giật là nguyên nhân chính

gây ra bệnh suất và tử vong của cả mẹ và thai trên tồn thế giới. Axít uric đã

được báo cáo là một yếu tố quan trọng góp phần tạo mầm bệnh của TSG. Một

số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ acid uric huyết thanh tăng lên với mức độ

nghiêm trọng của TSG, trong khi một số nghiên cứu đã cho thấy kết quả mâu

thuẫn. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ acid uric cao dẫn đến TSG, trong

khi những người khác nói rằng TSG gây ra sự gia tăng nồng độ acid uric.

Còn theo Lansac (1992) [41] acid uric máu là chỉ số trung thành nhất của

nguy cơ đối với thai, nếu xét nghiệm sản phụ có acid uric máu tăng cao > 360

µmol/l thì ít nhất 90% thai suy dinh dưỡng, 96% bệnh nhân NĐTN có thai

chết lưu và khi có acid uric > 600 µmol/l thì gần như 100% bệnh nhân bị

NĐTN có nguy cơ thai chết lưu trong tử cung.

Theo Ngô Văn Tài (2001) [16]thì lấy mốc là 400 µmol/l ở giữa ngưỡng

nguy kịch và giới hạn cuối cùng của lượng acid uric, khi acid uric > 400

µmol/l các thai phụ bị NĐTN có biểu hiện suy thận cấp tăng lên.

Về men gan: kết quả nghiên cứu bảng 3.8 cho thấy:

Năm 2012: tỷ lệ SGOT ≥ 70UI/l ở thai phụ bị TSG là 3,7%. Tỷ lệ SGPT

≥ 70 UI/l ở thai phụ bị TSG là 4,2%.

Năm 2017: tỷ lệ SGOT ≥ 70UI/l ở thai phụ bị TSG 4,4%. Tỷ lệ SGPT

≥ 70 UI/l ở thai phụ bị TSG là 4,9%.

Khơng có sự khác biệt về AST, ALT ở các thai phụ bị TSG trong năm



72



2012 và năm 2017.

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Tài [16] thai phụ bị NĐTN có AST> 70

UI/l, ALT> 70 UI/l có biểu hiện suy gan cao gấp 34,71 lần những thai phụ có

AST < 70 UI/l, ALT < 70 UI/l.

Theo Curtin và Weinstein (1999) [42] thì lượng SGOT, SGPT tăng cao

≥ UI/l kèm theo các triệu chứng giảm tiểu cầu, tan máu tạo thành bệnh cảnh

điền hình của hội chứng HELLP trong đó có suy giảm chức năng gan với biểu

hiện tăng các men gan.

4.2.2.1. Protein niệu

Cũng như tăng HA, protein niệu cũng là 1 trong những dấu hiệu quan

trọng trong TSG, có protein niệu chứng tỏ có tổn thương thận, protein niệu

càng cao thì bệnh càng nặng. Đa số tác giả cho rằng khi lượng protein niệu

≥ 6g/l là 1 yếu tố rất quan trọng để tiên lượng bệnh [16] [43].

Trong nghiên cứu của chúng tôi bảng 3.9 thì năm 2012 có 17,3% sản phụ

có protein niệu âm tính, 82,7% protein niệu dương tính trong đó 77,1% sản

phụ bị TSG có protein niệu < 3g/l và 5,6% sản phụ bị TSG có protein ≥ 3 g/l.

Năm 2017 có 86,2% sản phụ bị TSG có protein niệu < 3g/l. Có 13,8% sản

phụ bị TSG có protein niệu ≥ 3g/l. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p

< 0,05. Sở dĩ có kết quả này la do năm 2017 việc chẩn đoán TSG là Tăng

huyết áp và protein niệu. Năm 2012 thì tăng hút áp có kèm theo 1 trong 2

triệu chứng phù hoặc protein niệu.

Theo nghiên cứu Uzan (1995) [9] thì protein niệu ở mức 1g/24h có biểu

hiện tổn thương ở mạch thận cao cấp 3 - 5 lần so với những sản phụ có thai

nghén bình thường và có tỉ lệ đẻ non là 12%.

Như vậy protein niệu là 1 dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán TSG, đồng

thời protein niệu tăng cao là 1 yếu tố tiên lượng bệnh.

4.3. So sánh kết quả điều trị tiền sản giật



73



4.3.1. Thái độ điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tơi trong năm 2012 và 2017 có 417 thai phụ

được chẩn đốn là TSG, khơng có thai phụ nào được điều trị ổn định ra viện

khi còn mang thai, tất cả các thai phụ đều được ra viện khi đã chấm dứt thai

kỳ, khi vào viện các thai phụ này đều được thăm khám kỹ lưỡng, được làm

đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng, được điều trị tích cực, đúng phác đồ nên

đã hạn chế được các biến chứng nặng nề đối với mẹ và thai nhi, đặc biệt trong

2 năm khơng có trường hợp nào phù phổi cấp, suy gan và tử vong mẹ.

Thời điểm ĐCTN ln phụ thuộc vào tuổi thai và tình trạng bệnh của

mẹ. Đây là quyết định sản khoa phức tạp và gây rất nhiều tranh cãi vì còn

phụ thuộc vào quan điểm của từng tác giả. Tuy nhiên hầu hết các tác giả

[4], [14], [22] đều cho rằng việc ĐCTN có giá trị giảm thiểu nguy cơ cho

mẹ đồng thời giải phóng cho thai nhi ra khỏi mơi trường thiếu dinh dưỡng

trong tử cung.

Theo Nguyễn Công Nghĩa (2001) [44] khi nghiên cứu việc ĐCTN ở tuổi

thai dưới 28 tuần thì 100% thai nhi bị tử vong. Tại bệnh viện Phụ sản Thanh

Hóa thì những trẻ được sinh ra từ 28 tuần trở xuống chưa ni được. Và

khơng có trường hợp nào phát hiện TSG ở tuần thai từ 28 tuần trở xuống.

Theo Ngô Văn Tài (2006) [9] chỉ định chấm dứt thai kỳ khi điều trị TSG

nặng hoặc SG đã ổn định (tốt nhất là sau 24 giờ), khi điều trị nội khoa không

kết quả, HA vẫn dao động trong TSG nặng hoặc người bệnh vẫn lên cơn giật

mặc dù đã sử dụng đầy đủ các loại thuốc hạ áp, chống co giật. Vấn đề là

việc chấm dứt thai kỳ sẽ được tiến hành sau bao lâu khi đã điều trị tích cực

cho những thai phụ bị TSG. Quan điểm cần chấm dứt thai kỳ cho những

thai phụ bị TSG sau khi đã điều trị 1 tuần nhưng không cải thiện được tình

trạng bệnh đã được các nhà sản khoa ủng hộ. Việc rút ngắn thời gian điều

trị xuống dưới 7 ngày thậm chí chỉ sau khi thai phụ nhập viện 1 hoặc 2



74



ngày, được áp dụng cho những thai phụ bị TSG nặng hoặc lên cơn giật liên

tiếp mà các can thiệp thuốc không đem lại kết quả mong muốn, thậm chí đe

dọa tính mạng thai phụ [10]. Tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa, những thai

phụ được chẩn đốn là TSG nặng được điều trị hạ áp, an thần chống phù

não sau nhập viện từ 1-2 ngày mà huyết áp khơng hạ, bệnh nhân khơng có

tình trạng cải thiện sẽ ĐCTN do điều trị nội khoa thất bại.

Theo kết quả nghiên cứu bảng 3.10 và 3.11 ta thấy: năm 2012 tỷ lệ

thai phụ được nhập viện và ĐCTN ngay là 100 trường hợp trong đó có 30

trường hợp non tháng và 70 trường hợp đủ tháng. Trong khi đó tỷ lệ ĐCTN

ngay của năm 2017 giảm đáng kể có 13 trường hợp trng đó có 5 trường hợp

non tháng và 9 trường hợp đủ tháng. Các trường hợp được vào viện và đình

chỉ thai nghén ngay có thể do TSG nặng,thai suy, ối vỡ... bên cạnh đó việc

điều trị nội khoa năm 2012 có 107 trường hợp được vào viện điều trị, năm

2017 có 190 trường hợp.

Điều này càng cho thấy trình độ chun mơn của các bác sỹ ngày

càng phát triển hơn. Việc phát hiện sớm TSG sẽ giúp cho việc giữ thai và

kéo dài tuổi thai ở năm 2017 cao hơn năm 2012.

4.3.2.2. Các chỉ định đình chỉ thai nghén

Về chỉ định chỉ thai nghén về phía thai. Đây là những trường hợp thai

nhi có thể sống được sau khi lấy thai ra khỏi tử cung người mẹ, những chỉ

định này thường liên quan tới tình trạng thai nhi mà các xét nghiệm thăm dò

như monitoring sản khoa phát hiện các nhịp tim thai bất thường như nhịp

chậm, nhịp phẳng… siêu âm thấy thai chậm phát triển trong tử cung. Hoặc

các xét nghiệm của thai phụ có nguy cao đe dọa tính mạng cả mẹ và con.

Trong những trường hợp này cần có chỉ định ĐCTN đẻ cứu thai nhi.

Các chỉ định đình chỉ thai nghén về phía mẹ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Số liệu ở bảng 3.3 về phân bố thai phụ bị TSG và số lần đẻ cho thấy:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×