Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng thời gian trung bình điều trị nội khoa của TSG năm 2012 là 5,2 ± 3,29 ngày. Trong khi đó năm 2017 là 11,56 ± 9,693 ngày.

Tổng thời gian trung bình điều trị nội khoa của TSG năm 2012 là 5,2 ± 3,29 ngày. Trong khi đó năm 2017 là 11,56 ± 9,693 ngày.

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



3.3.5. Tuổi thai khi vào viện và tuổi thai trung bình khi kết thúc thai nghén

Bảng 3.18. Tuổi thai trung bình khi vào viện và khi kết thúc thai nghén

Phân loại

TSG



Tuổi thai TB khi vào viện



Tuổi thai TB khi kết thúc

thai nghén



2012



2017



2012



2017



TSG nhẹ



36,54 ± 1,784



35,7 ± 1,945



37,28 ± 0,971



37,74 ± 0,796



TSG nặng



35,06 ± 1,684



34,32 ± 3,382



35,49 ± 1,472



35,82 ± 1,93



Trung bình



36,02 ± 1,86



35,47 ± 2,285



36,63 ± 1,44



37,37 ± 1,312



Nhận xét:

-



Tuổi thai trung bình khi vào viện dối với TSG nhẹ năm 2012 là 36,02

tuần, năm 2017 là 35,7 tuần.



-



Tuổi thai trung bình khi vào viện dối với TSG nặng năm 2012 là 35,06

tuần, năm 2017 là 35,49 tuần.



-



Tuổi thai trung bình của TSG vào viện năm 2012 là 36,02 ± 1,86 và năm

2017 là 35,47 ± 2,285



-



Tuổi thai trung bình khi kết thúc thai nghén dối với TSG nhẹ năm 2012

là 37,28 tuần, năm 2017 là 37,74 tuần.



-



Tuổi thai trung bình khi kết thúc thai nghén dối với TSG nặng năm 2012 là

34,32 tuần, năm 2017 là 35,82 tuần



-



Tuổi thai trung bình khi kết thúc thai nghén nặng2012 là 36,63 tuần, năm

2017 là 37,37 tuần.



59



3.4. Các biến chứng của tiền sản giật

3.4.1. Biến chứng con

Bảng 3.19. Tỷ lệ biến chứng con trên tổng số các biến chứng cơn

Năm



2012



2017



Biến chứng



n



%



n



%



Đẻ non



75



55,1



35



38



Chết lưu



5



3,6



3



3,2



Thai suy



35



25,7



38



41,3



Thai CPTTTC



21



15,4



16



17,3



Tổng



136



100



92



100



p



0,001

0,23



Nhận xét:

Năm 2012 tỷ lệ các biến chứng đẻ non thai suy thai CPTTTC thai lưu

chiếm tỷ lệ giảm dần, các tỷ lệ đó cũng giảm nhiều hơn ở năm 2017

Tỷ lệ thai đẻ non năm 2012 là 55,1% và 2017 là 38%.

Tỷ lệ thai suy năm 2012 (25,7%) thấp hơn năm 2017 là 41,3%). Sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung + suy dinh dưỡng năm 2012 là

15,4% và 2017 là 17%.

Tỷ lệ thai lưu sau điều trị nội và ĐCTN năm 2012 là 3,6% và 2017 là

3,2%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05



60



3.4.2. Biến chứng của mẹ

Bảng 3.20. Biến chứng cho mẹ

Năm

Biến chứng

Rau bong non

Sản giật

Hội chứng HELLP

Suy thận



2012

n

5

3

3

5



2017

%

2,3

1,4

1,4

2,3



n

1

0

0

1



p

%

0,5

0

0

0,5



0,22



Nhận xét

Trong năm 2012 và 2017 tỷ lệ biến chứng có sự thay đổi. Tỷ lệ biến

chứng rau bong non năm 2012 là 2,3%, trong khi đó tỷ lệ này ở năm 2017

chỉ đạt 0,5%. Tỷ lệ biến chứng sản giật năm 2012 là 1,4%, năm 2017 khơng

có trường hợp nào sau điều trị có biến chứng sản giật. Phù phối cấp, và suy

gan trong 2 năm khơng có trường hợp nào. Nhìn chung các biến chứng của

năm 2017 đã giảm so với năm 2012. Tuy nhiên sự khác biệt này khơng có ý

nghĩa thống kê với p > 0,05

3.5. Các phương pháp đình chỉ thai nghén

Tất cả các trường hợp thai phụ được chẩn đoán TSG đều được chỉ định

mổ lấy thai.

Năm 2012 các trường hợp được chẩn đoán là hội chứng HELLP được

chuyển bệnh viện Phụ sản Trung ương điều trị.



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN



61



Đây là nghiên cứu hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án lưu trữ, do vậy sẽ

còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Nhiều thơng tin chúng tơi muốn thì các

hồ sơ bệnh án không cung cấp đủ. Người nghiên cứu không trực tiếp theo dõi,

điều trị cho bệnh nhân do đó khơng đánh giá được hết các yếu tố ảnh hưởng

đến nghiên cứu. Việc loại bỏ yếu tố nhiễu trong nghiên cứu cũng gặp nhiều

khó khăn. Tuy nhiên, trong q trình thu thập và xử lý số liệu chúng tôi đã cố

gắng loại bỏ các yếu tố gây nhiễu để thu được kết quả một cách khách quan

nhất có ý nghĩa phục vụ cho điều trị

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa. Trong

nghiên cứu này chúng tơi thu thập được 417 hồ sơ của thai phụ bị TSG trong

đó năm 2012 có 212 hồ sơ trong tổng số 12476 sản phụ đẻ, năm 2017 có 205

hồ sơ trong tổng số 18676 sản phụ đẻ với mong muốn nhận xét thái độ xử trí

đối với thai phụ bị TSG tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa trong 2 năm 2012

và 2017.

4.1.1. Tỷ lệ tiền sản giật

Kết quả bảng 3.1 chúng tôi thấy tỷ lệ TSG của năm 2012 chiếm tỷ lệ

1,7% trong tổng số sản phụ đẻ. Năm 2017 chiếm 1,1% như vậy tỷ lệ TSG của

năm 2017 thấp hơn so với năm 2012

So sánh với các tác giả khác chúng tôi nhận thấy tỷ lệ TSG/tổng số đẻ

của chúng tôi là thấp hơn.



62



Tác giả

Trần Hán Chúc [15]

Ngô Văn Tài [16]

Nguyễn Hùng Sơn [22]

Dương Thị Bế [8]

Nguyễn Đức Thuấn (44)

Trần Thị Hiền

Phạm Thị Hương Giang



Năm nghiên cứu

1999

2001

2002

2004

2006

2008

2013

2012

2017



Tỷ lệ %

4 – 5%

4,0%

2,32%

3,1%

6,2%

0,52

0,76

1,7%

1,1%



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu của các

tác giả là do mục tiêu nghiên cứu mà các đối tượng nghiên cứu khác nhau nên

chúng tôi cho rằng tỷ lệ TSG ở cùng địa bàn và có thể ở cùng thời điểm

nghiên cứu nhưng khác nhau giữa các tác giả là chấp nhận được.

4.1.2. Phân bố tiền sản giật theo nhóm tuổi thai phụ trong nghiên cứu

Kết quả bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ thai phụ bị TSG trong từng nhóm tuổi ở

2 giai đoạn không khác biệt nhau với p > 0,05. Chúng tơi nhận thấy thai phụ

bị TSG ít tuổi nhất năm 2012 là 20 tuổi và 2017 là 20 tuổi. Tỷ lệ TSG trung

bình nhóm tuổi trong năm 2017 cao hơn năm 2012.

Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi thai phụ bị TSG của cả 2 năm tập

trung chủ yếu vào nhóm tuổi 30 – 34 tuổi năm 2012 là 44,4% năm 2017 là

44,8% phù hợp với tuổi sinh đẻ là tuổi hay gặp TSG. Kết quả này cũng tương

tự như các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước, cho thấy rằng TSG

hay gặp ở các thai phụ trong độ tuổi sinh đẻ như tác giả Trần Thị Phúc [23] là

65,4% ở tuổi < 35. Lê Thiện Thái [24] thì tỷ lệ này cao hơn là 42% ở tuổi

< 35. Phan Thị Thu Huyền 1997 là 57,4%, 2007 là 73,3% [25].

Trong kết quả nghiên này cũng cho thấy tỷ lệ thai phụ bị TSG < 25 tuổi

chiếm tỷ lệ 10,3% năm 2012 và 15,3% năm 2017, TSG ở thai phụ tù 25-29

năm 2012 chiếm 35,5% và năm 2017 chiếm 28,6%.



63



Vì vậy, cần có kế hoạch chăm sóc và quản lý thai nghén cho các thai

phụ ngay từ khi bắt đầu mang thai để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ và

điều trị sớm tránh các biến chứng cho mẹ và thai, đặc biệt ở những thai phụ

lớn tuổi hay quá trẻ, khi mà xu hướng đẻ muộn ở các thành thị và đẻ sớm ở

các vùng nông thông ngày càng tăng.

4.1.3. Số lần đẻ

Số liệu ở bảng 3.3 về phân bố thai phụ bị TSG và số lần đẻ cho thấy:

Năm 2012: tỷ lệ thai phụ đẻ con lần 2 bị TSG là cao nhất (71%) sau đó

là nhóm thai phụ đẻ con lần 1 (15%) và con lần 3 trở lên là 14%.

Năm 2017: tỷ lệ thai phụ đẻ con lần 1 là (16,7%) đẻ con lần 2 là 48,8%

và con lần 3 trở lên là 34,5%.

So sánh giữa các nhóm thai phụ bị TSG về số lần đẻ trong 2 năm có sự

khác biệt nhau với p < 0,05.

Có rất nhiều ý kiến khác nhau, đôi khi trái ngược nhau về tỷ lệ giữa các

lần sinh, một số tác giả cho rằng tỷ lệ TSG ở người con rạ cao hơn con so

như: Ngô Văn Tài và Phan Trường Duyệt [26]. Nhưng theo Lê Điềm [27] cho

rằng TSG ở người con so 63,35%, con rạ 36,85%, Vương Văn Phú [28] son so

79,3%, con rạ 38,1%. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ TSG ở người sinh

con so lớn hơn con rạ. Trong nghiên cứu của chúng tơi thì tỷ lệ TSG ở người

sinh con lần thứ 2 và lần thứ 3 cao hơn lần đầu.

4.1.4. Nghề nghiệp

Kết quả nghiên cứu ở biểu dồ 3.1 cho thấy sự phân bố nghề nghiệp của

các thai phụ bị TSG trong nhóm làm ruộng, nội trợ, cán bộ, công nhân và các

nghề khác ở 2 năm khác biệt nhau khơng có có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Tỷ lệ thai phụ bị TSG phần lớn gặp ở nhóm thai phụ có nghề nghiệp là cơng

nhân chiếm 15,4% (2012) và 12,8% (2017). Nhóm thai phụ có nghề làm

ruộng 35% (2012) và 31,5% (2017). Nhóm nghề khác có tỷ lệ thấp nhất 3,3%



64



(2012) và 2% (2017)..

So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hùng Sơn [19], Phan Thị

Thu Huyền [47] cho thấy:

Tác giả



Năm



Làm



Nhóm nghề

Nội

Cán

Cơng



Nghề



ruộng

trợ

bộ

nhân khác

Nguyễn Hùng Sơn [19]

2002

36%

24%

26%

14%

0%%

1997 18,5% 22,2% 50,0% 9,3% 0,0%

Phan Thị Thu Huyền [47]

2007 21,2% 36,4% 24,6% 11,0% 6,8%

2008 21,6% 4,1% 12,4% 37,1% 24,7%

Trần Thị Hiền[29]

2013 20,5% 0,0% 16,8% 29,2% 33,5%

2012 35%% 18,7% 27,6% 15,4% 3,3%

PhạmThị Hương Giang

2017 31,5% 20,7% 33% 12,8%

2%

Trong nghiên cứu của Nguyễn Hùng Sơn nhóm nghề làm ruộng chiếm tỷ

lệ cao nhất, của Phan Thị Thu Huyền nhóm nghề cán bộ chiếm tỷ lệ cao nhất,

còn trong nghiên cứu của chúng tơi nhóm nghề làm ruộng chiếm tỷ lệ cao

nhất phù hợp với nghiên cứu của Trần Hùng Sơn.

4.1.5. Nơi ở

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4 cho thấy năm tỷ lệ tiền sản giật ở đồng

bằng cao hơn miền núi ở cả 2 thời điểm 2012 và 2017. Sở dĩ như vậy là vì dân

cư chủ yếu khám là thành phố, các huyện lân cận. Và vì vị trí địa lý miền núi

của Thanh Hóa việc di chuyển bệnh nhân không thuận lợi. Đối với những

bệnh nhân TSG nặng hoặc là chuyển thẳng bệnh nhân ra BVPS Trung ương

sẽ nhanh hơn và đường đi thuận lợi hơn so với vận chuyển bệnh nhận đến BV

PS Thanh Hóa. Hoặc sẽ gọi hỗ trợ từ BVPS Thanh Hóa cấp cứu tại BV tuyến

huyện của Miền Núi. Hằng năm BVPS Thanh Hóa vẫn cử các bác sỹ hỗ trợ

các bệnh viện của các huyện miền nui trong tỉnh. Nên tỷ lệ miền núi gạp ít

hơn đồng bằng trong nghiên cứu của chúng tơi vẫn có thể chấp nhận được.

4.1.6. Phân loại tiền sản giật

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.2 cho thấy năm 2012 tỷ lệ thai phụ bị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng thời gian trung bình điều trị nội khoa của TSG năm 2012 là 5,2 ± 3,29 ngày. Trong khi đó năm 2017 là 11,56 ± 9,693 ngày.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×