Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Độ 1. Khi hình ảnh canxi ít,chưa tạo thành hình vòng cung

Độ 1. Khi hình ảnh canxi ít,chưa tạo thành hình vòng cung

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



- Độ 2: Khi hình ảnh canxi nhiều tạo thành nửa vòng cung của múi rau ở rải rác

khắp bánh rau.

- Độ 3: Khi hình ảnh canxi nhiều tạo thành hình vong cung của múi rau ở khắp

bánh rau.

- Chỉ số ối:



1.5. Các biến chứng của tiền sản giật

1.5.1. Biến chứng của TSG đối với mẹ

Với các trường hợp thai phụ bị tiền sản giật nặng không được phát hiện

và điều trị sớm, đơi khi đã điều trị tích cực nhưng vẫn xuất hiện các biến

chứng cho mẹ như sản giật, rau bong non, suy tim phù phổi cấp, suy gan, suy

thận... Đây là các biến chứng nguy hiểm cần phải điều trị tích cực đồng thời

cần phải theo dõi sát, đình chỉ thai nghén kịp thời để cứu mẹ.

- Sản giật



24



Là biến chứng nguy hiểm của TSG, thường là do phù não, mạch máu bị

co thắt gây THA, dấu hiệu quan trọng nhất của thai phụ trước khi lên cơn giật

là đau đầu dữ dội [18], [19].

Tỷ lệ xuất hiện sản giật thay đổi theo từng nghiên cứu của từng tác giả.

Theo Murphy tỷ lệ TSG là 1,5% trong tổng số 71 thai phụ bị TSG. Theo Ngô

Văn Tài với kết quả phân tích đa biến hồi quy logistic cho thấy nếu một thai

phụ con so có HATT ≥ 160 mmHg kết hợp với HATTr ≥ 90 mmHg và phù

nặng thì nguy cơ xảy ra sản giật là 40,9% [16].

- Rau bong non: không phải tất cả các trường hợp tiền sản giật đều gây

ra rau bog non.

- Suy tim và phù phổi cấp:

Các thai phụ bị TSG thường kèm rối loạn chức năng thất trái và biến

chứng phù phổi cấp do tăng hậu gánh. Phù phổi cấp cũng có thể phát sinh do

giảm áp lực keo trong lòng mạch.

- Suy thận:

Biểu hiện lâm sàng là thiểu niệu, vô niệu, nước tiểu < 400 ml/24h. Biểu

hiện cận lâm sàng bằng các chỉ số urê hụyết thanh tăng, creatinin huyết thanh

tăng, axit uric huyết thanh tăng, có hồng cầu, bạch cầu, trụ niệu trong nước tiểu.

Theo nghiên cứu của Matchaba R. và Moodley M. (2004) tổn thương thận trong

hội chứng HELLP chiếm tỷ lệ tương đối cao74,5%. Theo Ngô Văn Tài (2001)

nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương thì tỷ lệ suy thận trong TSG là

4,4%, còn theo Lê Thị Mai năm 2003 tỷ lệ này là 11,1% [10], [16].

- Suy giảm chức năng gan và rối loạn đơng máu:

+ Ở thai sản bình thường, có sự thay đổi quan trọng trong cơ chế cầm

máu, máu có khuynh hướng tăng đơng và giảm hoạt tính phân hủy fibrin.

Trong TSG,có những thay đổi phức tạp trong hệ thống đơng máu, cụ thể là

tăng đông máu nội mạc và đông máu khu trú ở một vài cơ quan. Đông máu rải



25



rác lòng mạch là một biến chứng nặng nề của TSG và là một trong những

nguyên nhân gây tử vong cho mẹ do điều trị khó khăn và kém hiệu quả.

+ Sự suy giảm chức năng gan thường hay gặp ở thai phụ TSG đặc biệt

là hội chứng HELLP. Biểu hiện lâm sàng thường là đau vùng gan, buồn nôn,

đôi khi có thể nhầm với các rối loạn tiêu hố

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng HELLP: Trên nền 1 sản phụ có TSG

hoặc SG. Với các tiêu chuẩn về cận lâm sàng:

Tan máu do tổn thương vi mạch: tan máu cấp tính trong lòng mạch,

tăng Bilirubin gián tiếp, tìm thấy mảnh vỡ hồng cầu và hồng cầu vị biến dạng

trên tiêu bản máu đàn.

Tăng men gan các enzym gan tăng cao (AST và ALT ≥ 70 UI/l), thường

lấy giới hạn là tăng gấp 3 lần bình thường. Nguyên nhân là do thiếu máu tại

gan, có thể dẫn tới nhồi máu gan, gây đau vùng hạ sườn phải trên lâm sàng.

Giảm tiểu cầu do ngưng kết trong lòng mạch, do lớp nội mô bị tổn

thương lan tỏa.

- Tử vong mẹ

Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới tỷ lệ tử vong mẹ do tiền sản

giật ở các nước đang phát triển là 150/100.000 thai phụ, còn ở các nước phát

triển chỉ có 4/100.000 thai phụ [18]. Tại Việt Nam theo Lê Điềm tỷ lệ tử vong

mẹ là 2,48% trong số sản phụ bị tiền sản giật, theo báo cáo của Lê Thị Mai tại

Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2003 trong số các sản phụ bị TSG có 2

trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 0,4% [10].

1.5.2. Biến chứng tiền sản giật đối với thai

Các biến chứng hay gặp đối với thai nhi của người mẹ có nguy cơ cao

đặc biệt là bị TSG như đẻ non, tử vong ngay sau sinh, bệnh màng trong, thai

chết lưu trong tử cung, chết ngay sau đẻ. Theo Kristine Y.Lain & James M



26



Roberts [4] tỷ lệ tử vong ở các sản phụ bị TSG cao gấp 5 lần các trường hợp

sản phụ bình thường.

Suy thai

Là một hội chứng bệnh lý xảy ra trong quá trình thai nghén hoặc trong lúc

chuyển dạ mà hậu quả cuối cùng là thiếu ôxy trong máu và trong tổ chức của

thai, gây nên các rối loạn về chuyển hóa, làm tăng q trình tích tụ CO 2 trong

cơ thể thai nhi. Suy thai xảy ra trong khi có thai thường khơng đột ngột gọi là

suy thai mãn, thường là hậu quả của bệnh lý về phía mẹ như: TSG, bệnh tim

hoặc bệnh lý của thai (thai bất thường, thai bị nhiễm khuẩn), hoặc do bất

thường về phía phần phụ của thai. Trái lại suy thai xảy ra trong quá trình

chuyển dạ thường là suy thai cấp, các trường hợp suy thai mãn có thể nhanh

chóng trở thành suy thai cấp tính trong chuyển dạ. Suy thai là nguyên nhân của

tử vong sơ sinh và nó còn là nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ở

trẻ sơ sinh, gây chậm phát triển về tinh thần và vận động của trẻ sau này

Thai chậm phát triển trong tử cung

Thai chậm phát triển chiếm khoảng 50% trong trường hợp tiền sản giật

nặng. Thai chậm phát triển trong tử cung: có các số đo của thai (đường kính

lưỡng đỉnh, chiều dài xương đùi, chu vi đầu, đường kính trung bình bụng),

nằm dưới đường bách phân vị thứ 5 so với biểu đồ tổng hợp bình thường

theo tuổi thai.

Trẻ sơ sinh non tháng

Nghiên cứu của Murphy D.J. và Stirrat G.M. cho thấy tỷ lệ đẻ non ở các

thai phụ bị TSG là 42%, chủ yếu là tuổi thai dưới 30 tuần và trong số này có

tới 80% các trường hợp chấm dứt thai nghén bằng mổ lấy thai. Tại Việt Nam,

nghiên cứu của Phan Trường Duyệt và Ngô Văn Tài cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ

cân dưới 2500g chiếm vào khoảng 52% và sơ sinh non tháng chiếm khoảng

24% các trường hợp thai phụ TSG. Nghiên cứu của Ngô Văn Tài ở 320 thai



27



phụ TSG từ năm 1997 -2000 tỷ lệ đẻ non là 36,3% và sơ sinh cân nặng dưới

2500 gr là 51,5% [16].

Tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh

Tăng huyết áp và tiền sản giật ở mẹ có liên quan với nguy cơ tăng huyết

áp và biến cố tim mạch ở thai nhi. Nếu mẹ bị cao huyết áp và tiền sản giật thì

trẻ sinh ra có nguy cơ bị cao huyết áp và bị bệnh lý tim mạch gia tăng. Theo

nghiên cứu của các tác giả năm Reveret M, Boivin A, Guigonis V và cộng sự

năm 2015 trên quy mô lớn ở Montreal, Canada từ năm 2008 đến 2011 với các

sản phụ từ 29 - 35 tuần, kết quả cho thấy huyết áp ở trẻ sơ sinh của các bà mẹ

bị tiền sản giật tăng lên trong ba ngày đầu tiên so với nhóm mẹ bình thường

(p < 0,001). Trẻ sơ sinh của thai kém phát triển trong tử cung có sự gia tăng

huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương một cách rõ rệt và nguy cơ lâu dài về

bệnh lý tim mạch cho nhóm trẻ này.

Thai chết lưu trong tử cung

Đây là một biến chứng nặng nề nhất của TSG gây ra cho thai, do TSG

gây ra những rối loạn về tuần hoàn tử cung - rau kéo dài và trầm trọng dẫn

đến là gây ngừng trệ sự trao đổi chất dinh dưỡng và ôxy cho thai, gây suy thai

trong tử cung thậm chí có thể làm thai chết. Nghiên cứu của Sibai (1995), cho

thấy ở những thai phụ có hội chứng HELLP, tỷ lệ thai chết trong tử cung là

19,3% và tỷ lệ này tăng lên đến 41,2% ở tuổi thai dưới 30 tuần. Ở Việt Nam,

tỷ lệ thai chết lưu ở các thai phụ TSG tùy khu vực và thời điểm nghiên cứu.

Theo Ngô Văn Tài (2001), tỷ lệ này là 5,3%, theo nghiên cứu của Dương Thị

Bế (2004) tỷ lệ là 6,8%.

Tử vong sơ sinh ngay sau đẻ

Hậu quả nặng nề nhất cho trẻ sơ sinh ở những bà mẹ bị tiền sản giật là tử

vong sơ sinh ngay sau đẻ. Tại Việt Nam theo Phan Trường Duyệt và Ngô Văn

Tài (1999) tỷ lệ tử vong sơ sinh ngay sau đẻ ở sản phụ TSG là 13,8%, của Lê



28



Thị Mai (2004) là 6,4% [11].

1.6. Điều trị TSG

1.6.1. Mục tiêu

Với mẹ: ngăn cản sự tiến triển của bệnh, tránh các biến chứng có thể xảy

ra,hy vọng cải thiện tình trạng bệnh lý và giảm thiểu tỷ lệ mắc biến chứng và

tử vong mẹ.

Với thai: cố gắng đảm bảo sự phát triển bình thường của thai nhi trong tử

cung,hạn chế những nguy cơ có thể xảy ra làm cho thai kém phát triển trong

tử cung như: suy dinh dưỡng,thai lưu,giảm tỷ lệ bệnh và tử vong chu sinh.

Khi điều trị người thầy thuốc phải nắm thật vững phương châm: bảo vệ

mẹ là chính,có chiếu cố đến con. Thuốc điều trị triệu chứng cho mẹ có thể gây

tác động đến thai nhi cho nên phải cân nhắc kỹ trước khi điều trị cho mẹ.

Điều trị TSG bao gồm:

-



Quản lý thai nghén



-



Điều trị nội khoa



- Điều trị sản khoa

1.6.2. Quản lý thai nghén

Phải đảm bảo rằng mỗi thai phụ cần được khám ít nhất 3 lần trong q

trình mang thai của họ để phát hiện những trường hợp TSG và có thái độ xử

trí sớm.

1.6.3. Điều trị nội khoa

1.6.3.1. Chăm sóc

-



Cho thai phụ nghỉ ngơi yên tĩnh, chế độ ăn nhiều đạm, nhiều rau và trái cây

tươi.



-



Khám thai mỗi 3-4 ngày/ lần. Theo dõi tình trạng sức khỏe của bà mẹ, theo

dõi tình trạng sức khỏe của thai nhi, siêu âm thai mỗi 3-4 tuần/ 1 lần, nước

tiểu 2 lần / 1 tuần.



29



1.6.3.2. Các thuốc điều trị TSG

Thuốc kiểm soát huyết áp

Thuốc huyết áp có thể ảnh hưởng bất lợi cho cả mẹ và thai nhi. Ảnh

hưởng trên thai nhi hoặc gián tiếp do giảm lưu lượng tuần hoàn tử cung rau

hoặc trực tiếp trên tim mạch. Do vậy cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi

sử dụng thuốc huyết áp.

Có nhiều loại thuốc làm hạ huyết áp, nhưng trong điều trị TSG người ta

thường dùng các nhóm thuốc thường dùng trong TSG-SG: ức chế giao cảm

trung ương,giãn mạch trực tiếp, ức chế kênh Canxi, ức chế adrenergic, trừ

thuốc ức chế men chuyển và chẹn thụ thể angiotensin có thể gây độc cho thai.

- Thuốc





hạ áp trung ương:



Thuốc huỷ giao cảm α - methyldopa (Aldomet)

Liều dùng: loại viên 0,25 g, uống với liều 2 - 4 viên/ngày. Tối đa dưới 3

g/24 giờ [20], [9].







Hạ áp ngoại vi:



Hydralazin (Dihydralazin, Depressan…): thuốc gây giãn mạch trực tiếp làm

giảm sức cản ngoại vi gây tăng nhịp tim và cung lượng tim. Hiệu quả của

thuốc làm tăng dòng máu tử cung - rau hạ áp nhanh chóng, tác dụng phụ của

thuốc khi uống có thể gây tụt huyết áp tư thế đứng, nhịp tim nhanh, đau đầu,

chống váng, có thể gặp hội chứng gải lupus ở cả mẹ và thai. Dùng đường

uống hoặc tiêm, liều 5 mg/01 lần tiêm tĩnh mạch, nhắc lại sau 15 - 20 phút,

đỉnh hoạt động sau 30 - 60 phút, liều tối đa 200 mg/24 giờ







Thuốc chẹn kênh Calci: Amlodipin làm giãn tiểu động mạch ngoại biên, do đó

làm giảm trở kháng ngoại biên, tác dụng lên tim làm nhịp tim ổn định.

Amlodipin có tác dụng hạ huyết áp chậm kéo dài. Theo Ngơ Văn Tài [21], thì

Amlodipin là thuốc có tác dụng rất tốt trong điều trị TSG, khi nghiên cứu trên



30



bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng các thuốc hạ huyết áp khác (theo

phác đồ bệnh viện) dùng Amlodipin thu được kết quả là 88,25% số thai phụ

có đáp ứng với điều trị, liều dùng là 5 - 10 mg/ 24 giờ.





Ngồi Amlodipin còn có thể dùng Nifedipin (Adalat) có thể hạ huyết áp

nhanh khi ngậm dưới lưỡi, tuy nhiên không nên dung do có thể làm tụt huyết

áp ở mẹ và gây suy thai do giảm tưới máu qua rau thai







Thuốc phong tỏa β - adreneric như Labetalon, Propranolon, Atenolon…, có tác

dụng chẹn beta giao cảm ngoại biên, đối kháng tranh chấp với Nor-adrenalin

nhưng ít được dùng để điều trị TSG ở phụ nữ có thai do tác dụng chậm.





Magie sunfat:

Hiện nay hay dùng MgSO4 15%

Cơ chế :

Kích hoạt chất giãn mạch máu não, làm giảm tình trạng thiều máu cục



bộ bởi sự co thắt mạch máu não trong cơn sản giật, hạ HA , đề phòng sản giật

và chống phù não.

Liều dùng





Liều tấn công: 3-4,5g Magiesulfat 15%/50 ml Glucose tiêm tĩnh mạch

chậm 15-20 phút







Liều duy trì: 1-2g/ giờ truyền tĩnh mạch. Pha 6g Magiesulfat 15% với

500ml Glucose 5% truyền tĩnh mach XXX giọt/phút







Tiêm bắp gián đoạn: Pha 6g Magiesulfat 15% + 2ml nước cất, 7ml /giờ



* Khi sử dụng magie sunfat theo đường tĩnh mạch (do Magiesulfat là

thuốc ức chế canxi làm thay đổi dẫn truyền thần kinh cơ) thì phải theo dõi sát

bệnh nhân. Theo dõi phản xạ gân xương, nhịp thở, nước tiểu trong quá

trình sử dụng thuốc.

Giải độc = tiêm Gluconat canxi 10 ml dd 10%





An thần



31



Một số tác giả sử dụng Seduxen để điều trị TSG và sản giật. Ưu điểm của

thuốc này là có sẵn và dễ sử dụng. Tuy nhiên, thuốc qua đường rau thai và có thể

gây ảnh hưởng khơng tốt đến thai nhi, làm suy tim thai và gây ra các cơn ngừng

thở ở trẻ sơ sinh. Do vậy người ta chỉ dùng seduxen cho các trường hợp sau đẻ

hoặc những trường hợp cấp cứu và không điều trị bằng đường tĩnh mạch kéo dài.

Diazepam 10mg tiêm tĩnh mạch chậm trong vòng 2 phút.

Chỉ định thuốc này khi:

-



Chuyển tún



-



Khơng có magie sulfat hoặc



-



Đã sử dụng magie sulfat mà không hiệu quả



Thuốc lợi tiểu trong điều trị TSG

- Sử dụng thuốc lợi tiểu để điều trị TSG phải hết sức cân nhắc, việc điều

trị thuốc lợi tiểu chỉ được đặt ra khi thai phụ có triệu chứng dọa phù phổi cấp

hoặc phù phổi cấp, thiểu niệu hoặc vô niệu (lượng nước tiểu trong 24 giờ dưới

800ml) và chỉ sử dụng khi huyết áp tâm trương ≥ 70 mmHg (vì đây là ngưỡng

tác dụng mà thận có thể lọc được nước tiểu).

- Trong TSG thuốc lợi tiểu được chọn sử dụng là Lasix(nhóm tác dụng

lên nhánh quai henle), liều lượng tùy thuộc vào tình trạng phù nặng hay TSG

nặng và lượng nước tiểu đo được trong 24 giờ (Lasix 1 ống 20mg x 8 ống –

tiêm tĩnh mạch chậm). Khi dùng thuốc lợi tiểu phải điều trị kết hợp với thuốc

có kali và phải theo dõi tình trạng bệnh bằng các dấu hiệu lâm sàng và cận

lâm sàng cũng như đánh giá tình trạng thai nhi trong tử cung để quyết định

việc điều trị. Tuy thuốc không gây ra dị tật thai, không làm thai chậm phát

triển trong tử cung nhưng việc giảm thể tích lưu thơng trong lòng mạch sẽ làm

tăng nguy có xuật hiện sản giât.

- Khơng dung dung dịch ưu trương.

- Có thể truyền Ringerlactat với tốc độ 60-124ml/giờ.



32



Trong quá trình điều trị TSG, cần phải theo dõi sát, đánh giá kết quả điều

trị hàng ngày. Khi tình trạng TSG có đáp ứng với điều trị, có thể giữ thai đến đủ

tháng. Nếu TSG khơng đáp ứng với điều trị, nên đình chỉ thai nghén.

1.6.4. Điều trị sản khoa

Khi xu hướng lên cơ giật và tăng huyết áp của sản phụ đã được kiểm sốt,

tùy theo tình trạng của thai phụ và thai nhi mà qút định có cho thai ra khơng.

Tình trạng thai phụ càng nặng thì càng cần thiết phải lấy thai ra. Vì vậy việc

cho thai ra là cách điều trị tốt nhất so với các loại thuốc và các biện pháp trị liệu

khác đều chỉ tạm thời. Điều này cần thiết là phải xác định tuổi thai và mức độ

trưởng thành của phổi thai nhi vì nó qút định thái độ xử trí sau này.

1.6.4.1. Điều trị TSG nhẹ

Có thể điều trị ngoại trú hoặc nội trú (nếu không có điều kiện theo dõi).

- Nghỉ ngơi, nằm nghiêng trái.

- Cho thuốc an thần tuỳ theo tình trạng người bệnh (uống diazepam).

- Theo dõi hàng tuần, nếu có dấu hiệu bệnh nặng nên vào nhập viện để

điều trị tích cực.

- Nếu thai đủ tháng thì nên cho đẻ chủ động.

1.6.4.2. Điều trị TSG nặng

Phải nhập viện và điều trị tại tuyến tỉnh, nếu người bệnh được phát hiện

tại tuyến dưới thì phải chuyển tuyến trên ngay.

Cần điều trị khẩn trương tích cực để ngăn chặn tiến triển sang sản giật.

- Chăm sóc cấp 1:

Đặt người bệnh nằm trong phòng n tĩnh, ấm áp, khuyên người bệnh

nghỉ ngơi, nằm nghiêng sang trái.

Theo dõi mỗi giờ mạch, nhiệt độ, HA, nhịp thở, nước tiểu và phản xạ

gân xương ở đầu gối.



33



Đánh giá chức năng gan thận, rối loạn đơng máu và tình trạng thai nhi

bằng thử nghiệm khơng đả kích (Non Stress test).

Dinh dưỡng: chế độ ăn bệnh lý: nhiều rau, quả tươi, ít mặn, nhiều đạm.

Điều trị bao gồm: điều trị nội khoa, điều trị sản khoa.

* Điều trị TSG nặng tại tuyến huyện và tuyến tỉnh.

+ Chăm sóc cấp 1, nếu bệnh nhân lên cơn giật phải ngáng miệng hay

ngáng lưỡi để tránh cắn phải lưỡi khi lên cơn giật.

+ Điều trị:





Điều trị nội khoa: Magiesulfat, seduxen, hydralazine, amlor, propranolon…







Điều trị sản khoa:



Đình chỉ thai nghén: Chấm dứt thai kỳ là điều trị triệt để nhất của TSG

và SG. Bởi vì, khi thai được lấy ra khỏi buồng tử cung, tuần hoàn rau thai

ngừng hoạt động, sức căng của tử cung giảm xuống đáng kể hoặc khơng còn

nữa thì các rối loạn huyết động cũng sẽ dừng lại, tình trạng của người mẹ

được cải thiện – nhất là những biến chứng mà TSG gây ra cho thai phụ sẽ dần

biến mất,s ức khỏe của người mẹ sẽ trở lại bình thường sau một thời gian cơ

thế tự điều chỉnh kết hợp với việc điều trị của thầy thuốc.

Chỉ định chấm dứt thai kỳ: Khi điều trị TSG nặng hoặc SG sau khi đã cắt

cơn giật (tốt nhất là sau 24 giờ)

-



Những thai phụ bị TSG đã điều trị một tuần khơng cải thiện được tình trạng

bệnh nhân.



-



Khi điều trị nội khoa không kết quả, HA vẫn giao động trong TSG nặng hoặc

người bệnh vẫn lên cơn co giật mặc dù đã sử dụng đầy đủ các thuốc chống co

giật và hạ áp, đe dọa đến tính mạng của thai phụ và thai nhi. Thai nhi nếu còn

sống thì nên can thiệp ngay (sau khi cắt cơn giật)

Phương pháp chấm dứt thai kỳ:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Độ 1. Khi hình ảnh canxi ít,chưa tạo thành hình vòng cung

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×