Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong bệnh lý TSG phù là một trong những triệu chứng phổ biến cùng với sự xuất hiện của một số yếu tố nổi trội khác như tăng huyết áp, tăng cân nhanh bất thường và protein niệu.

Trong bệnh lý TSG phù là một trong những triệu chứng phổ biến cùng với sự xuất hiện của một số yếu tố nổi trội khác như tăng huyết áp, tăng cân nhanh bất thường và protein niệu.

Tải bản đầy đủ - 0trang

69



Các tác giả trong và ngồi nước đều nhất trí tính chất phù trong TSG là

phù trắng, phù mềm, ấn lõm, phù không giảm khi nằm nghỉ, [33] [34] Phù có

thể chia thành các mức độ khác nhau như phù nhẹ ở chi, phù trung bình ở chi

và bụng và phù nặng, phù toàn thân và phù đa màng.

Để đánh giá một thai phụ có phù hay khơng trong q trình thai nghén

cần theo dõi cân nặng ở thai phụ. Nếu trọng lượng cơ thể thai phụ tăng lên

trên 500gam trong 1 tuần hoặc trên 2250 gam trong 1 tháng thì được coi là có

phù trong khi mang thai [2], [35],[36] Các tác giả cũng đề xuất rằng triệu

chứng phù liên quan rất chặt chẽ đến tiền sản giật và đình chỉ thai nghén do

tiền sản giật. Dấu hiệu phù là nguyên nhân góp phần tạo nên các biến chứng

cho sản phụ và thai nhi.

Các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất rằng phù trong thời kỳ

thai nghén là một triệu chứng dễ phát hiện và thường là triệu chứng để thai

phụ đi khám bệnh [37] [38] [39].

4.2.2. Triệu chứng cận lâm sàng

4.2.2.1. Công thức máu

Kết quả bảng 3.7 cho thấy:

Tỷ lệ tiểu cầu ≤ 100.000/mm3 ở thai phụ bị TSG năm 2012 là 1,9% thấp

hơn năm 2017 là 1%. Tỷ lệ tiểu cầu > 100.000/mm 3 ở thai phụ bị TSG năm

2012 là 98,1% thấp hơn năm 2013 là 99%. Sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê với p > 0,05.

Trong bệnh lý TSG vai trò của tiểu cầu rất quan trọng trong việc chống

lại nguy cơ chảy máu trong đó có chảy máu do nguyên nhân rau bong non.

Theo Ngơ Văn Tài (2001) [16] thì những thai phụ có số lượng tiểu cầu

< 100.000/mm3 máu thì nguy cơ bị rau bong non cao gấp 9,37 lần thai phụ có

tiểu cầu ≥ 100.000/mm3 và có nguy cơ chảy máu cao gấp 10 lần thai phụ có

tiểu cầu ≥ 100.000/mm3 máu.



70



4.2.2.3. Xét nghiệm hóa sinh

Về Ure, creatinin là dấu hiệu cơ bản để chứng tỏ thai phụ bị TSG có suy

thận khơng, đặc biệt là trong những trường hợp sản phụ bị TSG nặng, sản giật

và hội chứng HELLP.Tuy nhiên để chẩn đốn thai phụ có bị suy thận hay

khơng thì khơng chỉ phụ thuộc vào ure, creatinin. Mà còn phụ thuộc vào mức

lọc cầu thận, số lượng nước tiểu 24/h...

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.8 cho thấy năm 2012 tỷ lệ thai phụ bị TSG có

ure > 6,6mmol/l (7,5%) cao hơn năm 2017 (4,4%). Tỷ lệ creatinin > 106 µmol/l

năm 2012 (5,6%) cao hơn 2017 (4,4%). Sự khác biệt về ure huyết, creatinin

huyết thanh và các thai phụ bị TSG khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Mức độ tăng của các xét nghiệm này liên quan đến mức độ nặng của

bệnh TSG bởi vì khi ure, creatinin máu tăng chứng tỏ chức năng lọc của cầu

thận bị giảm sút, cầu thận bị tổn thương là dấu hiệu TSG nặng. Chức năng

thận càng giảm thì tình trạng bệnh càng nặng, càng có nguy cơ để lại di chứng

sau khi kết thúc thai nghén. Tuy nhiên để dánh giá suy thận còn dựa vào mức

lọc cầu thận và lượng nước tiểu 24h.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu

Nguyễn Hùng Sơn (2002) [22] ure huyết > 6,6 mmol/l: 18,2%, creatinin

> 106: 8,1%, của Ngô Văn Tài (2001) [16] ure huyết > 6,6mmol/l: 12,2%,

creatinin > 106 mmol/l: 5,6%.

Về acid uric và protid. Kết quả ở bảng 3.8 cho thấy

Năm 2012 có 2,8% thai phụ bị TSG có acid uric > 400 µmol/l và có

protid< 40 g/l là 7%.

Năm 2017 có 1,5% thai phụ bị TSG có acid uric > 400 µmol/l và 7,4%

protid < 40g/l

Acid uric huyết thanh tăng cao sẽ biểu hiện nguy cơ gây tai biến cho mẹ

và con trong TSG và chính acid uric là biểu hiện về mặt sinh hóa của tăng



71



huyết áp. Do tăng huyết áp làm co thắt các tiểu động mạch thận dẫn đến

lượng máu đến thận ít, gây giảm lọc ở thận làm cho độ thanh thải ở thận kém

và hàm lượng acid uric trong máu tăng cao. Qua rất nhiều thử nghiệm lâm

sàng Grarrone và cộng sự (1997) [40] đã đưa ra giá trị acid urid máu nếu

> 360 µmol/l thì tình trạng NĐTN sẽ rất nặng và tình trạng sơ sinh sẽ xấu đi

nếu acid uric máu > 375 µmol/l.

Rối loạn tăng huyết áp của thai kỳ như tiền sản giật là nguyên nhân chính

gây ra bệnh suất và tử vong của cả mẹ và thai trên toàn thế giới. Axít uric đã

được báo cáo là một yếu tố quan trọng góp phần tạo mầm bệnh của TSG. Một

số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ acid uric huyết thanh tăng lên với mức độ

nghiêm trọng của TSG, trong khi một số nghiên cứu đã cho thấy kết quả mâu

thuẫn. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ acid uric cao dẫn đến TSG, trong

khi những người khác nói rằng TSG gây ra sự gia tăng nồng độ acid uric.

Còn theo Lansac (1992) [41] acid uric máu là chỉ số trung thành nhất của

nguy cơ đối với thai, nếu xét nghiệm sản phụ có acid uric máu tăng cao > 360

µmol/l thì ít nhất 90% thai suy dinh dưỡng, 96% bệnh nhân NĐTN có thai

chết lưu và khi có acid uric > 600 µmol/l thì gần như 100% bệnh nhân bị

NĐTN có nguy cơ thai chết lưu trong tử cung.

Theo Ngơ Văn Tài (2001) [16]thì lấy mốc là 400 µmol/l ở giữa ngưỡng

nguy kịch và giới hạn cuối cùng của lượng acid uric, khi acid uric > 400

µmol/l các thai phụ bị NĐTN có biểu hiện suy thận cấp tăng lên.

Về men gan: kết quả nghiên cứu bảng 3.8 cho thấy:

Năm 2012: tỷ lệ SGOT ≥ 70UI/l ở thai phụ bị TSG là 3,7%. Tỷ lệ SGPT

≥ 70 UI/l ở thai phụ bị TSG là 4,2%.

Năm 2017: tỷ lệ SGOT ≥ 70UI/l ở thai phụ bị TSG 4,4%. Tỷ lệ SGPT

≥ 70 UI/l ở thai phụ bị TSG là 4,9%.

Khơng có sự khác biệt về AST, ALT ở các thai phụ bị TSG trong năm



72



2012 và năm 2017.

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Tài [16] thai phụ bị NĐTN có AST> 70

UI/l, ALT> 70 UI/l có biểu hiện suy gan cao gấp 34,71 lần những thai phụ có

AST < 70 UI/l, ALT < 70 UI/l.

Theo Curtin và Weinstein (1999) [42] thì lượng SGOT, SGPT tăng cao

≥ UI/l kèm theo các triệu chứng giảm tiểu cầu, tan máu tạo thành bệnh cảnh

điền hình của hội chứng HELLP trong đó có suy giảm chức năng gan với biểu

hiện tăng các men gan.

4.2.2.1. Protein niệu

Cũng như tăng HA, protein niệu cũng là 1 trong những dấu hiệu quan

trọng trong TSG, có protein niệu chứng tỏ có tổn thương thận, protein niệu

càng cao thì bệnh càng nặng. Đa số tác giả cho rằng khi lượng protein niệu

≥ 6g/l là 1 yếu tố rất quan trọng để tiên lượng bệnh [16] [43].

Trong nghiên cứu của chúng tơi bảng 3.9 thì năm 2012 có 17,3% sản phụ

có protein niệu âm tính, 82,7% protein niệu dương tính trong đó 77,1% sản

phụ bị TSG có protein niệu < 3g/l và 5,6% sản phụ bị TSG có protein ≥ 3 g/l.

Năm 2017 có 86,2% sản phụ bị TSG có protein niệu < 3g/l. Có 13,8% sản

phụ bị TSG có protein niệu ≥ 3g/l. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p

< 0,05. Sở dĩ có kết quả này la do năm 2017 việc chẩn đoán TSG là Tăng

huyết áp và protein niệu. Năm 2012 thì tăng hút áp có kèm theo 1 trong 2

triệu chứng phù hoặc protein niệu.

Theo nghiên cứu Uzan (1995) [9] thì protein niệu ở mức 1g/24h có biểu

hiện tổn thương ở mạch thận cao cấp 3 - 5 lần so với những sản phụ có thai

nghén bình thường và có tỉ lệ đẻ non là 12%.

Như vậy protein niệu là 1 dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán TSG, đồng

thời protein niệu tăng cao là 1 yếu tố tiên lượng bệnh.

4.3. So sánh kết quả điều trị tiền sản giật



73



4.3.1. Thái độ điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi trong năm 2012 và 2017 có 417 thai phụ

được chẩn đốn là TSG, khơng có thai phụ nào được điều trị ổn định ra viện

khi còn mang thai, tất cả các thai phụ đều được ra viện khi đã chấm dứt thai

kỳ, khi vào viện các thai phụ này đều được thăm khám kỹ lưỡng, được làm

đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng, được điều trị tích cực, đúng phác đồ nên

đã hạn chế được các biến chứng nặng nề đối với mẹ và thai nhi, đặc biệt trong

2 năm khơng có trường hợp nào phù phổi cấp, suy gan và tử vong mẹ.

Thời điểm ĐCTN luôn phụ thuộc vào tuổi thai và tình trạng bệnh của

mẹ. Đây là quyết định sản khoa phức tạp và gây rất nhiều tranh cãi vì còn

phụ thuộc vào quan điểm của từng tác giả. Tuy nhiên hầu hết các tác giả

[4], [14], [22] đều cho rằng việc ĐCTN có giá trị giảm thiểu nguy cơ cho

mẹ đồng thời giải phóng cho thai nhi ra khỏi môi trường thiếu dinh dưỡng

trong tử cung.

Theo Nguyễn Công Nghĩa (2001) [44] khi nghiên cứu việc ĐCTN ở tuổi

thai dưới 28 tuần thì 100% thai nhi bị tử vong. Tại bệnh viện Phụ sản Thanh

Hóa thì những trẻ được sinh ra từ 28 tuần trở xuống chưa ni được. Và

khơng có trường hợp nào phát hiện TSG ở tuần thai từ 28 tuần trở xuống.

Theo Ngô Văn Tài (2006) [9] chỉ định chấm dứt thai kỳ khi điều trị TSG

nặng hoặc SG đã ổn định (tốt nhất là sau 24 giờ), khi điều trị nội khoa không

kết quả, HA vẫn dao động trong TSG nặng hoặc người bệnh vẫn lên cơn giật

mặc dù đã sử dụng đầy đủ các loại thuốc hạ áp, chống co giật. Vấn đề là

việc chấm dứt thai kỳ sẽ được tiến hành sau bao lâu khi đã điều trị tích cực

cho những thai phụ bị TSG. Quan điểm cần chấm dứt thai kỳ cho những

thai phụ bị TSG sau khi đã điều trị 1 tuần nhưng khơng cải thiện được tình

trạng bệnh đã được các nhà sản khoa ủng hộ. Việc rút ngắn thời gian điều

trị xuống dưới 7 ngày thậm chí chỉ sau khi thai phụ nhập viện 1 hoặc 2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong bệnh lý TSG phù là một trong những triệu chứng phổ biến cùng với sự xuất hiện của một số yếu tố nổi trội khác như tăng huyết áp, tăng cân nhanh bất thường và protein niệu.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×