Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Suy giảm chức năng gan và rối loạn đông máu:

- Suy giảm chức năng gan và rối loạn đông máu:

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



rác lòng mạch là một biến chứng nặng nề của TSG và là một trong những

nguyên nhân gây tử vong cho mẹ do điều trị khó khăn và kém hiệu quả.

+ Sự suy giảm chức năng gan thường hay gặp ở thai phụ TSG đặc biệt

là hội chứng HELLP. Biểu hiện lâm sàng thường là đau vùng gan, buồn nôn,

đôi khi có thể nhầm với các rối loạn tiêu hố

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng HELLP: Trên nền 1 sản phụ có TSG

hoặc SG. Với các tiêu chuẩn về cận lâm sàng:

Tan máu do tổn thương vi mạch: tan máu cấp tính trong lòng mạch,

tăng Bilirubin gián tiếp, tìm thấy mảnh vỡ hồng cầu và hồng cầu vị biến dạng

trên tiêu bản máu đàn.

Tăng men gan các enzym gan tăng cao (AST và ALT ≥ 70 UI/l), thường

lấy giới hạn là tăng gấp 3 lần bình thường. Nguyên nhân là do thiếu máu tại

gan, có thể dẫn tới nhồi máu gan, gây đau vùng hạ sườn phải trên lâm sàng.

Giảm tiểu cầu do ngưng kết trong lòng mạch, do lớp nội mô bị tổn

thương lan tỏa.

- Tử vong mẹ

Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới tỷ lệ tử vong mẹ do tiền sản

giật ở các nước đang phát triển là 150/100.000 thai phụ, còn ở các nước phát

triển chỉ có 4/100.000 thai phụ [18]. Tại Việt Nam theo Lê Điềm tỷ lệ tử vong

mẹ là 2,48% trong số sản phụ bị tiền sản giật, theo báo cáo của Lê Thị Mai tại

Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2003 trong số các sản phụ bị TSG có 2

trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 0,4% [10].

1.5.2. Biến chứng tiền sản giật đối với thai

Các biến chứng hay gặp đối với thai nhi của người mẹ có nguy cơ cao

đặc biệt là bị TSG như đẻ non, tử vong ngay sau sinh, bệnh màng trong, thai

chết lưu trong tử cung, chết ngay sau đẻ. Theo Kristine Y.Lain & James M



26



Roberts [4] tỷ lệ tử vong ở các sản phụ bị TSG cao gấp 5 lần các trường hợp

sản phụ bình thường.

Suy thai

Là một hội chứng bệnh lý xảy ra trong quá trình thai nghén hoặc trong lúc

chuyển dạ mà hậu quả cuối cùng là thiếu ôxy trong máu và trong tổ chức của

thai, gây nên các rối loạn về chuyển hóa, làm tăng q trình tích tụ CO 2 trong

cơ thể thai nhi. Suy thai xảy ra trong khi có thai thường khơng đột ngột gọi là

suy thai mãn, thường là hậu quả của bệnh lý về phía mẹ như: TSG, bệnh tim

hoặc bệnh lý của thai (thai bất thường, thai bị nhiễm khuẩn), hoặc do bất

thường về phía phần phụ của thai. Trái lại suy thai xảy ra trong quá trình

chuyển dạ thường là suy thai cấp, các trường hợp suy thai mãn có thể nhanh

chóng trở thành suy thai cấp tính trong chuyển dạ. Suy thai là nguyên nhân của

tử vong sơ sinh và nó còn là nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ở

trẻ sơ sinh, gây chậm phát triển về tinh thần và vận động của trẻ sau này

Thai chậm phát triển trong tử cung

Thai chậm phát triển chiếm khoảng 50% trong trường hợp tiền sản giật

nặng. Thai chậm phát triển trong tử cung: có các số đo của thai (đường kính

lưỡng đỉnh, chiều dài xương đùi, chu vi đầu, đường kính trung bình bụng),

nằm dưới đường bách phân vị thứ 5 so với biểu đồ tổng hợp bình thường

theo tuổi thai.

Trẻ sơ sinh non tháng

Nghiên cứu của Murphy D.J. và Stirrat G.M. cho thấy tỷ lệ đẻ non ở các

thai phụ bị TSG là 42%, chủ yếu là tuổi thai dưới 30 tuần và trong số này có

tới 80% các trường hợp chấm dứt thai nghén bằng mổ lấy thai. Tại Việt Nam,

nghiên cứu của Phan Trường Duyệt và Ngô Văn Tài cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ

cân dưới 2500g chiếm vào khoảng 52% và sơ sinh non tháng chiếm khoảng

24% các trường hợp thai phụ TSG. Nghiên cứu của Ngô Văn Tài ở 320 thai



27



phụ TSG từ năm 1997 -2000 tỷ lệ đẻ non là 36,3% và sơ sinh cân nặng dưới

2500 gr là 51,5% [16].

Tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh

Tăng huyết áp và tiền sản giật ở mẹ có liên quan với nguy cơ tăng huyết

áp và biến cố tim mạch ở thai nhi. Nếu mẹ bị cao huyết áp và tiền sản giật thì

trẻ sinh ra có nguy cơ bị cao huyết áp và bị bệnh lý tim mạch gia tăng. Theo

nghiên cứu của các tác giả năm Reveret M, Boivin A, Guigonis V và cộng sự

năm 2015 trên quy mô lớn ở Montreal, Canada từ năm 2008 đến 2011 với các

sản phụ từ 29 - 35 tuần, kết quả cho thấy huyết áp ở trẻ sơ sinh của các bà mẹ

bị tiền sản giật tăng lên trong ba ngày đầu tiên so với nhóm mẹ bình thường

(p < 0,001). Trẻ sơ sinh của thai kém phát triển trong tử cung có sự gia tăng

huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương một cách rõ rệt và nguy cơ lâu dài về

bệnh lý tim mạch cho nhóm trẻ này.

Thai chết lưu trong tử cung

Đây là một biến chứng nặng nề nhất của TSG gây ra cho thai, do TSG

gây ra những rối loạn về tuần hoàn tử cung - rau kéo dài và trầm trọng dẫn

đến là gây ngừng trệ sự trao đổi chất dinh dưỡng và ôxy cho thai, gây suy thai

trong tử cung thậm chí có thể làm thai chết. Nghiên cứu của Sibai (1995), cho

thấy ở những thai phụ có hội chứng HELLP, tỷ lệ thai chết trong tử cung là

19,3% và tỷ lệ này tăng lên đến 41,2% ở tuổi thai dưới 30 tuần. Ở Việt Nam,

tỷ lệ thai chết lưu ở các thai phụ TSG tùy khu vực và thời điểm nghiên cứu.

Theo Ngô Văn Tài (2001), tỷ lệ này là 5,3%, theo nghiên cứu của Dương Thị

Bế (2004) tỷ lệ là 6,8%.

Tử vong sơ sinh ngay sau đẻ

Hậu quả nặng nề nhất cho trẻ sơ sinh ở những bà mẹ bị tiền sản giật là tử

vong sơ sinh ngay sau đẻ. Tại Việt Nam theo Phan Trường Duyệt và Ngô Văn

Tài (1999) tỷ lệ tử vong sơ sinh ngay sau đẻ ở sản phụ TSG là 13,8%, của Lê



28



Thị Mai (2004) là 6,4% [11].

1.6. Điều trị TSG

1.6.1. Mục tiêu

Với mẹ: ngăn cản sự tiến triển của bệnh, tránh các biến chứng có thể xảy

ra,hy vọng cải thiện tình trạng bệnh lý và giảm thiểu tỷ lệ mắc biến chứng và

tử vong mẹ.

Với thai: cố gắng đảm bảo sự phát triển bình thường của thai nhi trong tử

cung,hạn chế những nguy cơ có thể xảy ra làm cho thai kém phát triển trong

tử cung như: suy dinh dưỡng,thai lưu,giảm tỷ lệ bệnh và tử vong chu sinh.

Khi điều trị người thầy thuốc phải nắm thật vững phương châm: bảo vệ

mẹ là chính,có chiếu cố đến con. Thuốc điều trị triệu chứng cho mẹ có thể gây

tác động đến thai nhi cho nên phải cân nhắc kỹ trước khi điều trị cho mẹ.

Điều trị TSG bao gồm:

-



Quản lý thai nghén



-



Điều trị nội khoa



- Điều trị sản khoa

1.6.2. Quản lý thai nghén

Phải đảm bảo rằng mỗi thai phụ cần được khám ít nhất 3 lần trong q

trình mang thai của họ để phát hiện những trường hợp TSG và có thái độ xử

trí sớm.

1.6.3. Điều trị nội khoa

1.6.3.1. Chăm sóc

-



Cho thai phụ nghỉ ngơi yên tĩnh, chế độ ăn nhiều đạm, nhiều rau và trái cây

tươi.



-



Khám thai mỗi 3-4 ngày/ lần. Theo dõi tình trạng sức khỏe của bà mẹ, theo

dõi tình trạng sức khỏe của thai nhi, siêu âm thai mỗi 3-4 tuần/ 1 lần, nước

tiểu 2 lần / 1 tuần.



29



1.6.3.2. Các thuốc điều trị TSG

Thuốc kiểm soát huyết áp

Thuốc huyết áp có thể ảnh hưởng bất lợi cho cả mẹ và thai nhi. Ảnh

hưởng trên thai nhi hoặc gián tiếp do giảm lưu lượng tuần hoàn tử cung rau

hoặc trực tiếp trên tim mạch. Do vậy cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi

sử dụng thuốc huyết áp.

Có nhiều loại thuốc làm hạ huyết áp, nhưng trong điều trị TSG người ta

thường dùng các nhóm thuốc thường dùng trong TSG-SG: ức chế giao cảm

trung ương,giãn mạch trực tiếp, ức chế kênh Canxi, ức chế adrenergic, trừ

thuốc ức chế men chuyển và chẹn thụ thể angiotensin có thể gây độc cho thai.

- Thuốc





hạ áp trung ương:



Thuốc huỷ giao cảm α - methyldopa (Aldomet)

Liều dùng: loại viên 0,25 g, uống với liều 2 - 4 viên/ngày. Tối đa dưới 3

g/24 giờ [20], [9].







Hạ áp ngoại vi:



Hydralazin (Dihydralazin, Depressan…): thuốc gây giãn mạch trực tiếp làm

giảm sức cản ngoại vi gây tăng nhịp tim và cung lượng tim. Hiệu quả của

thuốc làm tăng dòng máu tử cung - rau hạ áp nhanh chóng, tác dụng phụ của

thuốc khi uống có thể gây tụt huyết áp tư thế đứng, nhịp tim nhanh, đau đầu,

chống váng, có thể gặp hội chứng gải lupus ở cả mẹ và thai. Dùng đường

uống hoặc tiêm, liều 5 mg/01 lần tiêm tĩnh mạch, nhắc lại sau 15 - 20 phút,

đỉnh hoạt động sau 30 - 60 phút, liều tối đa 200 mg/24 giờ







Thuốc chẹn kênh Calci: Amlodipin làm giãn tiểu động mạch ngoại biên, do đó

làm giảm trở kháng ngoại biên, tác dụng lên tim làm nhịp tim ổn định.

Amlodipin có tác dụng hạ huyết áp chậm kéo dài. Theo Ngơ Văn Tài [21], thì

Amlodipin là thuốc có tác dụng rất tốt trong điều trị TSG, khi nghiên cứu trên



30



bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng các thuốc hạ huyết áp khác (theo

phác đồ bệnh viện) dùng Amlodipin thu được kết quả là 88,25% số thai phụ

có đáp ứng với điều trị, liều dùng là 5 - 10 mg/ 24 giờ.





Ngồi Amlodipin còn có thể dùng Nifedipin (Adalat) có thể hạ huyết áp

nhanh khi ngậm dưới lưỡi, tuy nhiên không nên dung do có thể làm tụt huyết

áp ở mẹ và gây suy thai do giảm tưới máu qua rau thai







Thuốc phong tỏa β - adreneric như Labetalon, Propranolon, Atenolon…, có tác

dụng chẹn beta giao cảm ngoại biên, đối kháng tranh chấp với Nor-adrenalin

nhưng ít được dùng để điều trị TSG ở phụ nữ có thai do tác dụng chậm.





Magie sunfat:

Hiện nay hay dùng MgSO4 15%

Cơ chế :

Kích hoạt chất giãn mạch máu não, làm giảm tình trạng thiều máu cục



bộ bởi sự co thắt mạch máu não trong cơn sản giật, hạ HA , đề phòng sản giật

và chống phù não.

Liều dùng





Liều tấn công: 3-4,5g Magiesulfat 15%/50 ml Glucose tiêm tĩnh mạch

chậm 15-20 phút







Liều duy trì: 1-2g/ giờ truyền tĩnh mạch. Pha 6g Magiesulfat 15% với

500ml Glucose 5% truyền tĩnh mach XXX giọt/phút







Tiêm bắp gián đoạn: Pha 6g Magiesulfat 15% + 2ml nước cất, 7ml /giờ



* Khi sử dụng magie sunfat theo đường tĩnh mạch (do Magiesulfat là

thuốc ức chế canxi làm thay đổi dẫn truyền thần kinh cơ) thì phải theo dõi sát

bệnh nhân. Theo dõi phản xạ gân xương, nhịp thở, nước tiểu trong quá

trình sử dụng thuốc.

Giải độc = tiêm Gluconat canxi 10 ml dd 10%





An thần



31



Một số tác giả sử dụng Seduxen để điều trị TSG và sản giật. Ưu điểm của

thuốc này là có sẵn và dễ sử dụng. Tuy nhiên, thuốc qua đường rau thai và có thể

gây ảnh hưởng khơng tốt đến thai nhi, làm suy tim thai và gây ra các cơn ngừng

thở ở trẻ sơ sinh. Do vậy người ta chỉ dùng seduxen cho các trường hợp sau đẻ

hoặc những trường hợp cấp cứu và không điều trị bằng đường tĩnh mạch kéo dài.

Diazepam 10mg tiêm tĩnh mạch chậm trong vòng 2 phút.

Chỉ định thuốc này khi:

-



Chuyển tún



-



Khơng có magie sulfat hoặc



-



Đã sử dụng magie sulfat mà không hiệu quả



Thuốc lợi tiểu trong điều trị TSG

- Sử dụng thuốc lợi tiểu để điều trị TSG phải hết sức cân nhắc, việc điều

trị thuốc lợi tiểu chỉ được đặt ra khi thai phụ có triệu chứng dọa phù phổi cấp

hoặc phù phổi cấp, thiểu niệu hoặc vô niệu (lượng nước tiểu trong 24 giờ dưới

800ml) và chỉ sử dụng khi huyết áp tâm trương ≥ 70 mmHg (vì đây là ngưỡng

tác dụng mà thận có thể lọc được nước tiểu).

- Trong TSG thuốc lợi tiểu được chọn sử dụng là Lasix(nhóm tác dụng

lên nhánh quai henle), liều lượng tùy thuộc vào tình trạng phù nặng hay TSG

nặng và lượng nước tiểu đo được trong 24 giờ (Lasix 1 ống 20mg x 8 ống –

tiêm tĩnh mạch chậm). Khi dùng thuốc lợi tiểu phải điều trị kết hợp với thuốc

có kali và phải theo dõi tình trạng bệnh bằng các dấu hiệu lâm sàng và cận

lâm sàng cũng như đánh giá tình trạng thai nhi trong tử cung để quyết định

việc điều trị. Tuy thuốc không gây ra dị tật thai, không làm thai chậm phát

triển trong tử cung nhưng việc giảm thể tích lưu thơng trong lòng mạch sẽ làm

tăng nguy có xuật hiện sản giât.

- Khơng dung dung dịch ưu trương.

- Có thể truyền Ringerlactat với tốc độ 60-124ml/giờ.



32



Trong quá trình điều trị TSG, cần phải theo dõi sát, đánh giá kết quả điều

trị hàng ngày. Khi tình trạng TSG có đáp ứng với điều trị, có thể giữ thai đến đủ

tháng. Nếu TSG khơng đáp ứng với điều trị, nên đình chỉ thai nghén.

1.6.4. Điều trị sản khoa

Khi xu hướng lên cơ giật và tăng huyết áp của sản phụ đã được kiểm sốt,

tùy theo tình trạng của thai phụ và thai nhi mà qút định có cho thai ra khơng.

Tình trạng thai phụ càng nặng thì càng cần thiết phải lấy thai ra. Vì vậy việc

cho thai ra là cách điều trị tốt nhất so với các loại thuốc và các biện pháp trị liệu

khác đều chỉ tạm thời. Điều này cần thiết là phải xác định tuổi thai và mức độ

trưởng thành của phổi thai nhi vì nó qút định thái độ xử trí sau này.

1.6.4.1. Điều trị TSG nhẹ

Có thể điều trị ngoại trú hoặc nội trú (nếu không có điều kiện theo dõi).

- Nghỉ ngơi, nằm nghiêng trái.

- Cho thuốc an thần tuỳ theo tình trạng người bệnh (uống diazepam).

- Theo dõi hàng tuần, nếu có dấu hiệu bệnh nặng nên vào nhập viện để

điều trị tích cực.

- Nếu thai đủ tháng thì nên cho đẻ chủ động.

1.6.4.2. Điều trị TSG nặng

Phải nhập viện và điều trị tại tuyến tỉnh, nếu người bệnh được phát hiện

tại tuyến dưới thì phải chuyển tuyến trên ngay.

Cần điều trị khẩn trương tích cực để ngăn chặn tiến triển sang sản giật.

- Chăm sóc cấp 1:

Đặt người bệnh nằm trong phòng n tĩnh, ấm áp, khuyên người bệnh

nghỉ ngơi, nằm nghiêng sang trái.

Theo dõi mỗi giờ mạch, nhiệt độ, HA, nhịp thở, nước tiểu và phản xạ

gân xương ở đầu gối.



33



Đánh giá chức năng gan thận, rối loạn đơng máu và tình trạng thai nhi

bằng thử nghiệm khơng đả kích (Non Stress test).

Dinh dưỡng: chế độ ăn bệnh lý: nhiều rau, quả tươi, ít mặn, nhiều đạm.

Điều trị bao gồm: điều trị nội khoa, điều trị sản khoa.

* Điều trị TSG nặng tại tuyến huyện và tuyến tỉnh.

+ Chăm sóc cấp 1, nếu bệnh nhân lên cơn giật phải ngáng miệng hay

ngáng lưỡi để tránh cắn phải lưỡi khi lên cơn giật.

+ Điều trị:





Điều trị nội khoa: Magiesulfat, seduxen, hydralazine, amlor, propranolon…







Điều trị sản khoa:



Đình chỉ thai nghén: Chấm dứt thai kỳ là điều trị triệt để nhất của TSG

và SG. Bởi vì, khi thai được lấy ra khỏi buồng tử cung, tuần hoàn rau thai

ngừng hoạt động, sức căng của tử cung giảm xuống đáng kể hoặc khơng còn

nữa thì các rối loạn huyết động cũng sẽ dừng lại, tình trạng của người mẹ

được cải thiện – nhất là những biến chứng mà TSG gây ra cho thai phụ sẽ dần

biến mất,s ức khỏe của người mẹ sẽ trở lại bình thường sau một thời gian cơ

thế tự điều chỉnh kết hợp với việc điều trị của thầy thuốc.

Chỉ định chấm dứt thai kỳ: Khi điều trị TSG nặng hoặc SG sau khi đã cắt

cơn giật (tốt nhất là sau 24 giờ)

-



Những thai phụ bị TSG đã điều trị một tuần khơng cải thiện được tình trạng

bệnh nhân.



-



Khi điều trị nội khoa không kết quả, HA vẫn giao động trong TSG nặng hoặc

người bệnh vẫn lên cơn co giật mặc dù đã sử dụng đầy đủ các thuốc chống co

giật và hạ áp, đe dọa đến tính mạng của thai phụ và thai nhi. Thai nhi nếu còn

sống thì nên can thiệp ngay (sau khi cắt cơn giật)

Phương pháp chấm dứt thai kỳ:



34



-



Gây chuyển dạ đẻ đường âm đạo: nếu có điều kiện thuận lợi, chỉ số bishop

≥ 5 điểm có thể khởi phát chuyển dạ bằng tách màng ối, truyền oxytoxin tĩnh

mạch



-



Gây chuyển dạ bằng prostaglandin: Cần chú ý rằng khi sử dụng chỉ sử

dụng pgE2



-



Phẫu thuật lấy thai. Mổ lấy thai cho những sản phụ TSG tuân theo những

chỉ định sau:

o



TSG nặng có biến chứng cho thai phụ và thai nhi: rau bong non, sản

giật, suy thận, suy gan, suy tim nặng đe doạ phù phổi cấp.



o



TSG điều trị đúng không kết quả sau 7 ngày - Nếu TSG nặng điều trị sau

2-3 ngày không kết quả nếu thai nhi có thể sống được nên mổ lấy thai.



o



Những trường hợp sản giật, lên cơn giật liên tiếp nên điều trị cắt cơn

giật rồi mổ lấy thai để cứu mẹ.



o



Khi cổ tử cung và ngôi thai không thuận lợi...



o



Những trường hợp chỉ định do nguyên nhân về phía thai: thai kém

phát triển và sau khi đình chỉ thai nghén thai có thể sống được.



1.7. Các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về TSG

Theo nghiên cứu của Abalos E, Duley L, SteynDW, Henderson-Smart

DJ. Ngày 24/2/2007 về Điều trị thuốc hạ huyết áp cho cao huyết áp nhẹ đến

trung bình trong thời kỳ mang thai.Đã có 44 thử nghiệm (4282 phụ nữ). Hai

mươi tám thử nghiệm so sánh một thuốc hạ hút áp với giả dược / khơng có

thuốc chống cao huyết áp (3200 phụ nữ). Có giảm một nửa nguy cơ mắc bệnh

cao huyết áp nặng kết hợp với việc sử dụng các thuốc giảm huyết áp (1282

phụ nữ) đã so sánh một loại thuốc hạ áp với thuốc khác. Thuốc chẹn beta có

vẻ tốt hơn methyldopa để giảm nguy cơ cao hút áp nặng. Khơng có sự khác

biệt rõ ràng giữa các loại thuốc thay thế với nguy cơ phát triển protein niệu /



35



tiền sản giật. Các kết cục khác chỉ được báo cáo bởi một tỷ lệ nhỏ các nghiên

cứu, và khơng có sự khác biệt rõ ràng.

Theo Makrides M, Crowther CA năm 2001 tại Trung tâm Nghiên cứu

Dinh dưỡng Trẻ em, Viện Nghiên cứu Sức khoẻ Trẻ em, Bệnh viện Phụ sản và

Trẻ em, 72 Đường King William, Bắc Adelaide, SA, AustraliaĐã có 7 thử

nghiệm gồm 2689 phụ nữ. Sáu trong số những thử nghiệm này ngẫu nhiên

phân bổ phụ nữ cho bổ sung magnesium uống hoặc nhóm chứng. Trong phân

tích của tất cả các thử nghiệm, điều trị magnesium uống từ trước tuần thứ 25

của thai kỳ có liên quan đến tần suất sinh non thấp hơn từ 9,4% xuống 5,7%),

tần số thấp hơn 9,6% xuống 4,6% và nhỏ hơn ở trẻ sơ sinh từ 9,3% xuống

5,3%) so với giả dược. Ngoài ra, phụ nữ điều trị bằng magiê còn ít phải nằm

viện trong thời kỳ mang thai từ 8,9% đến 4,9%) và ít trường hợp xuất huyết

thứ phát từ 9% đến 1,6%) so với phụ nữ dùng giả dược.

Theo Hofmeyr GJ, Duley L, Atallah A. tháng 8 năm 2007 tại Cơ quan

nghiên cứu chăm sóc hiệu quả, Khu phức hợp Bệnh viện East London, Đại

học Witwatersrand / Đại học Fort Hare, Đông London, Nam Phi Huyết áp cao

đã giảm với việc bổ sung canxi 11 thử nghiệm, 14.946 phụ nữ từ 8.6% xuống

5.7%, tiền sản giật (12 thử nghiệm, 15,206 phụ nữ 6,9%xuống 3,3%). Hiệu

quả là tốt nhất đối với phụ nữ có nguy cơ cao (5 thử nghiệm, 587 phụ nữ: từ

4,2% xuống 1,2%) Kết quả tổng hợp tử vong bà mẹ hoặc tình trạng nghiêm

trọng đã được giảm từ 9,6 xuống 6,7%). Hội chứng suy giảm máu, tăng men

gan và tiểu cầu thấp đã tăng lên (hai thử nghiệm, 12.901 phụ nữ 10,5-68,2).

Không có ảnh hưởng chung đối với nguy cơ sinh non, thai chết lưu hoặc tử

vong trước khi xuất viện.

Theo nghiên cứu của Werner Rath, Prof. Dr. med and Thorsten Fischer,

Prof. Dr. med tháng 11/2009 về Những phát hiện mới cho chăm sóc tiền sản

và bệnh nhân nội trú Chẩn đốn và điều trị các rối loạn tăng huyết áp khi

mang thai. Kết quả của 11 nghiên cứu quan sát thấy tiền sản giật nặng cho



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Suy giảm chức năng gan và rối loạn đông máu:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×