Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Số lần đẻ. Người đẻ con dạ tỷ lệ mắc TSG cao hơn con so.

Số lần đẻ. Người đẻ con dạ tỷ lệ mắc TSG cao hơn con so.

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



nguyên của TSG.

-



Chế độ dinh dưỡng. Chế độ thiếu các vitamin, muối khoáng và protein cũng như

các yếu tố vi lượng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ các bà mẹ mang thai bị TSG.



-



Khí hậu và mùa.Tỷ lệ TSG về mùa rét, ẩm ướt cao hơn so với mùa nóng ấm.

Theo kết quả nghiên cứu của Ngơ Văn Tài 2006 thì tỷ lệ xuất hiện bệnh

thường xảy ra vào mùa xuân và thời gian chuyển tiếp từ mùa xuân sang mùa

hè [1].



-



Tiền sử bệnh tật.

+ Tiền sử nội khoa: Bệnh ĐTĐ, béo phì, THA, bệnh về thận, suy tuyến

giáp làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh và là yếu tố làm nặng bệnh.

+ Tiền sử sản khoa: Tiền sử SG và TSG, thai chết lưu, rau bong non …

cũng là yếu tố làm tăng tỷ lệ phát sinh bệnh và làm nặng thêm bệnh.



-



Số lượng thai bất thường. Chửa trứng, chửa đa thai, các trường hợp bất

thường NST có nguy có bị TSG cao hơn. Bởi vì THA và protein niệu thường

hay xuất hiện sớm trong các trường hợp chửa trứng vì vậy người ta giả thuyết

rằng liệu chửa trứng có cùng một bản chất với TSG hay khơng.

1.3. Các triệu chứng lâm sàng

1.3.1. Tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một triệu chứng có thể có trước lúc mang thai hoặc xuất

hiện lúc mang thai, hay có sẵn và nặng lên do thai nghén. Điều này có nghĩa

là tăng huyết áp khi có thai có thể có nguyên nhân độc lập với tình trạng thai

nghén hoặc nguyên nhân do thai. Nhưng dù là nguyên nhân gì thì việc tăng

huyết áp trong thai kỳ cũng là dấu hiệu báo động hoặc dấu hiệu của một thai

kỳ đầy nguy cơ, có thể dẫn đến tử vong mẹ và thai.

Tăng huyết áp động mạch là dấu hiệu sớm nhất và quan trong nhất,có vai

trò chủ ́u trong tiên lượng TSG.

1.3.1.1. Định nghĩ tăng huyết áp



16



Tăng huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên và/hoặc mức huyết áp tâm

trương từ 90 mmHg trở lên.

Bảng 1.1. Phân loại mức độ tăng huyết áp theo JNC 8 cho người lớn [13]

Phân loại

Huyết áp tối ưu

Huyết áp bình thường

Huyết áp bình thường cao

(mức giới hạn trên)

Tăng huyết áp

Độ I

Độ II

Độ III

Chú ý:



Huyết áp tâm thu



Huyết áp tâm trương



(mmHg)

< 120

< 130



(mmHg)

< 80

và < 85



130 – 139



hoặc 85 – 89



140 – 159

160 – 179

≥ 180



và/hoặc 90 -99

và/hoặc 100- 109

và/hoặc ≥ 110



+ Đo HA khi bệnh nhân không dùng thuốc và khơng có bệnh cấp tính.

+ Khi số huyết áp tâm thu, tâm trương đo được khác với phân loại trên

thì lấy số đo huyết áp cao hơn để xếp loại.

+ Gọi là tăng huyết áp khi con số huyết áp ít nhất là hai lần đo của một

lần khám và ít nhất phải thấy tăng huyết áp trong hai lần khám khác nhau.

1.3.1.2.Chẩn đoán xác định tăng huyết áp trong TSG

Tăng huyết áp thai nghén

HATT < 160 mmHg,HATr < 110 mmHg. Khơng có protein niệu và

khơng có triệu chứng

Tiền sản giật – sản giật (Tăng huyết áp ≥ 20 tuần và protein niệu)

Tăng HA. Protein niệu ≥ 300 mg/24 giờ, tỷ lệ protein/creatinine ≥ 0.30,

hoặc ≥ 1 đối với mẫu thử qua nước tiểu

Tiền sản giật nặng xuất hiện tăng HA kèm theo bất kỳ dấu hiệu sau

Tăng huyết áp nặng: HATT ≥ 160mmHg hoặc HATr ≥ 110mmHg.

Giảm tiểu cầu dưới 100.000/mm3.

Tăng men gan gấp đôi ngưỡng trên giới hạn bình thường.



17



Phù phổi

Creatinine huyết thanh: 1,1mg/dl.

Các triệu chứng thần kinh trung ương nặng và liên tục.

Tăng huyết áp mãn tính

Tăng huyết áp trước khi mang thai

Tăng huyết áp trước 20 tuần thai kỳ

Tiền sản giật nặng kèm theo các dấu hiệu nặng: tăng huyết áp mãn kèm

bất kỳ dấu hiệu nào trong nhóm TSG nặng

Theo Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu về tăng huyết áp trong thai kỳ

(ISSHP) phân loại bệnh lý tăng HA trong thai kỳ gồm TSG, tăng HA thai

nghén, tăng HA mãn tính và tiền sản giật nặng trên nền tăng HA mãn tính [14]

Ba tiêu chuẩn để xác định THA khi so sánh HA đo lúc khám với HA tại

thời điểm trước tuần thứ 21 của thai nghén là:

-



HATT tăng lên 30 mmHg, HATTr tăng trên 15 mmHg.



-



HA trung bình tăng trên 20 mmHg.



-



Nếu không xác định được HA thai phụ trước khi có thai thì lấy mốc 140/90

mmHg là bệnh rối loạn huyết áp thai nghén.

Chú ý: đo huyết áp hai lần cách nhau 4 giờ.

1.3.2. Protein niệu

- Protein niệu là dấu hiệu quan trọng thứ hai của TSG, Protein niệu đôi

khi xuất hiện trước TSG – trong trường hợp này thai phụ thường có triệu

chứng của bệnh thận tiềm tàng. Nếu chỉ có Protein niệu mà khơng kèm theo

THA thì phải coi đó là biến chứng thận của thai nghén.

- Protein niệu được coi là dương tính (+) khi:

+ Lượng Protein niệu > 0,3 g/l lấy nước tiểu trong 24 giờ.

+ Lượng Protein niệu > 0,5 g/l lấy mẫu ngẫu nhiên.

-Một số tác giả cho rằng Protein niệu là triệu chứng quan trọng để chẩn

đoán TSG (Lain K.Y và Roberts J.M) .



18



- Theo Friedman E.A và Neff R.K thì Protein niệu ít xuất hiện khi

HATTr < 90 mmHg. Khi xuất hiện Protein niệu kèm theo THA thì tỷ lệ tử

vong chu sinh tăng lên một cách có ý nghĩa.

Moodley J và Mphatsoe M thấy rằng nếu HATTr từ 95 mmHg trở lên kết

hợp với Protein từ (++) trở lên sẽ làm cho tỷ lệ tử vong chu sinh tăng có ý

nghĩa. Vì vậy, Protein niệu phối hợp với tăng huyết áp trong tiền sản giật

được nhiều tác giả nhấn mạnh trong yếu tố tiên lượng

1.3.3. Phù và tăng cân

-



Sự xuật hiện và mức độ của phù đơi khi rất khó đánh giá và ít hoặc khơng có

ý nghĩa về mặt chẩn đoán và tiên lượng. Cả hai loại phù khu trú và phù tồn

thân đều có thể xảy ra ở các thai sản bình thường.



-



Để đánh giá một sản phụ có phù hay khơng trong q trình thai nghén, người

ta theo dõi cân nặng của sản phụ hằng ngày (thường vào buổi sáng). Nếu

trọng lượng cơ thể tăng lên 500 gr trong một tuần hoặc 2250 gr trong một

tháng thì sản phụ này phải được coi là bị phù trong khi mang thai [15].



-



Đặc điểm của phù trong TSG là phù trắng, mềm, ấn lõm, không mất đi khi

nằm nghỉ; 80% thai nghén có phù là bình thường nếu nó khơng kết hợp với

THA.



-



Chính vì vậy, cả hai dấu hiệu phù và tăng cân phải được coi như dấu hiệu báo

trước khả năng phát sinh những rối loạn THA thai sản.

1.3.4. Các triệu chứng cơ năng khác

Ngoài 3 dấu hiệu trên của bệnh lý TSG, có thế xuất hiện các triệu chứng

khác như:

-



Đau đầu, chóng mặt



-



Tăng phản xạ



-



Nhìn mờ do phù hay do xuất huyết võng mạc



19



-



Buồn nôn, nôn



-



Giãn tĩnh mạch dưới bao gan



-



Tràn dịch đa màng (phổi, bụng,tim…)



-



Lượng nước tiểu ít dần.



Khi xuất hiện các triệu chứng này thường báo hiệu một tình trạng nặng

của bệnh nhân, đó là biến chứng của TSG nặng, suy gan, suy thận.

1.4. Một số thay đổi về cận lâm sàng trong bệnh lý tiền sản giật

- Ngồi protein trong nước tiểu còn có thể có hồng cầu, bạch cầu, trụ

niệu. Mức độ nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ tổn thương thận và độ trầm

trọng của bệnh.

- Soi đáy mắt có dấu hiệu Gunn, phù gai thị, xuất huyết võng mạc,... là

mắt đã bị tổn thương. Động mạch mắt xơ hoá thường gặp trong THA mạn tính.

- Thăm dò tình trạng thai.

1.4.1. Thay đổi về cơng thức máu, sinh hóa máu và đơng máu trong bệnh lý TSG

1.4.1.1. Tiểu cầu

Là thành phần hữu hình của máu có vai trò quan trọng trong q trình cầm

máu và đơng máu. Tiểu cầu có nguồn gốc từ tủy xương (những xương dẹt). Bình

thường trong máu có 150 000 – 300 000 tiểu cầu/mm 3 máu [18]. Trong bệnh lý

TSG nặng, nhất là hội chứng HELLP có sự thay đổi phức tạp trong bệnh lý đông

máu, cụ thể là tăng đông máu nội mạch và đông máu khu trú ở một vài cơ quan.

Hội chứng này đã được Sibai biểu thị cụ thể bằng các dấu hiệu: lượng bilirubin

toàn phần tăng cao > 1,2mg/dL, enzyme lactatdehydrogenazase tăng trên 600

UI/l, AST và ALT tăng cao > 70 UI/l, số lượng tiểu cầu giảm xuống

< 100000 mm3 máu.

1.4.1.2. Protid và Albumin huyết thanh

Khi có một lượng máu đi qua thận, ở cầu thận protein được tái hấp thu

hoàn toàn vì vậy protein niệu thường xun âm tính và protein HT tồn phần



20



ln hằng định 60 – 80 g/l [1].

Trong bệnh lý tiền sản giật, thận (màng đáy của tiểu cầu thận) bị tổn

thương, protein ở trong huyết tương được lọc qua thận, bị lọt qua màng đáy

của tiểu cầu thận ra nước tiểu nên xét nghiệm protein nước tiểu dương tính và

protein hút thanh tồn phần giảm.

Albumin do gan sản xuất và đưa vào máu. Vì vậy, trong những bệnh làm

giảm chức năng gan, albumin trong huyết thành giảm làm áp śt keo giảm,

nước trong lòng mạch thốt ra đọng trong các khoảng gian bào, gây phù.

Protid và Albumin huyết thanh càng giảm càng làm tăng nguy cơ phù

nặng và nguy cơ suy dinh dưỡng do năng lượng cung cấp cho thai nhi không

đủ. Hiện nay nồng độ của Albumin giảm rất được quan tâm. Bởi Albumin

≤ 25 g/l có chỉ định truyền Albumin và Albumin giảm làm tăng nguy cơ phù não.

1.4.1.3. Ure huyết thanh

Ure là một trong những sản phẩm của chuyển hóa protein được thối hóa

ở gan và đào thải ra nước tiểu.

Nồng độ Ure huyết thanh ở người bình thường dưới 8,3 mmol/l [1]

Trong thai nghén bình thường, sự thanh thải ure tồn phần và ure nitơ

huyết thanh tăng lên. Vì thế mà nồng độ của chúng ở trong huyết thanh bị

giảm xuống. Trong bệnh lý TSG độ thanh thải ure giảm, mức độ giảm tùy

thuộc vào sự trầm trọng của bệnh và thể tích nước tiểu dẫn đến nồng độ ure

trong huyết thanh tăng [1].

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Tài, nếu một thai phụ bị TSG có ure

huyết thanh trên 6,6 mmol/l kết hợp với creatinin hút thành > 106 µmol/l

thì biểu hiện suy thận được dự báo là 52,6% [9].

1.4.1.4. Creatinin huyết thanh

Creatinin trong huyết tương được lọc ở cầu thận và được bài tiết ở ống thận.

Bình thường creatinin huyết thanh ở mức dưới 97 µmol/l [9]. Creatinin là

thành phần protein trong hút thanh có nồng độ ổn định nhất, khơng phụ



21



thuộc vào chế độ ăn, chế độ vận động hoặc các thay đổi sinh lý khác. Chính vì

vậy, creatinin được dùng để đánh giá khả năng lọc của cầu thận. Trong TSG,

nồng độ creatinin huyết tương tăng do giảm lượng máu qua thận, giảm mức lọc

cầu thận. Theo nghiên cứu của Ngô Văn Tài (2001) cho thấy những thai phụ

TSG có creatinin hút thanh càng cao thì biểu hiện suy thận càng tăng [16]

1.4.1.5. Acid uric huyết thanh

Nồng độ acid uric huyết thanh của người bình thường ở nam giới là:

210 – 420 µmol/l và của nữ giới là: 150 – 350 µmol/l, nồng độ này gần như

bão hòa do quá trình hình thành và thải trừ cân bằng nhau, ở người phụ nữ có

thai < 340 µmol/l là bình thường.

Những thai sản bình thường, nồng độ acid uric trong máu gần như bình

thường. Khi thai phụ bị TSG có hiện tượng co mạch máu thận vì vậy thể tích

hút tương qua thận giảm dẫn đến sự thanh thải acid uric trong máu giảm và

acid uric huyết thanh tăng.

1.4.1.6. AST và ALT

Bình thường AST và ALT là 31 UI/l ở nhiệt độ 370C [17]

Trong bệnh lý TSG, nhất là TSG nặng hoặc hội chứng HELLP, hoạt

động emzym AST và ALT tăng lên trên 70 UI/l. Cơ chế của hiện tượng này

đến nay vẫn chưa rõ, người ta thấy các tế bào gan bị hủy hoại làm tăng các

enzym của gan và gây đau ở vùng mạng sườn phải của thai phụ. Hiếm gặp

hơn là có thể gặp chảy máu trong gan và khối máu tụ dưới vỏ bao gan, gây

nên bệnh cảnh chảy máu trong ổ bụng.

1.4.2. Chẩn đốn hình ảnh

1.4.2.1. Siêu âm

Đánh giá sự phát triển của thai nhi nhằm phát hiện các trường hợp thai

chậm phát triển trong tử cung. Đánh giá tình trạng sức khỏe của thai thong

qua một số các chỉ số.

• Xác định cân nặng



22



Dựa vào đo kích thước các phần thai để xác định độ tăng cân nặng của

thai trong tử cung.



Nhiều tác giả áp dụng các phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh,chu vi

vòng đầu, chu vi bụng,độ dài xương đùi để tính cân nặng thai. Cân nặng sai

lệch khoảng từ 100-300 gr, tùy từng phương pháp.



• Doppler động mạch tử cung, doppler động mạch não - rốn

• Xác định độ trưởng thành của bánh rau:

Thể tích bánh rau và độ canxi hóa của múi rau là dấu hiệu để chẩn đoán

độ trưởng thành của bánh rau. Có 4 độ canxi hóa

- Độ 0:Bánh rau mịn,khơng có hình ảnh canxi hóa.

- Độ 1. Khi hình ảnh canxi ít,chưa tạo thành hình vòng cung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Số lần đẻ. Người đẻ con dạ tỷ lệ mắc TSG cao hơn con so.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×