Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời gian HATD > 90 mmHg sau dùng HDI

Thời gian HATD > 90 mmHg sau dùng HDI

Tải bản đầy đủ - 0trang

53

53

Bảng 3.15. Phân loại bệnh nhân theo HATB trong 24h điều trị liệu pháp

Thời điểm

T0

T1

T3

T6

T12

T18

T24



HATB < 60 mmHg

n

%

7

43,7

5

31,3

1

6,3

3

18,7

3

18,7

2

13,3

0

0



HATB ≥ 60 mmHg

n

%

9

56,3

11

68,7

15

93,7

13

81,3

13

81,3

13

86,7

15

100



p

p >0,05

p >0,05

p <0,05

p >0,05

p >0,05

p <0,05



Nhận xét: Tại thời điểm T3 (3h dùng HDI) và thời điểm T24 tỉ lệ bệnh

nhân có huyết áp trung bình thuộc nhóm ≥ 60 mmg cao hơn thời điểm trước

sử dụng liệu pháp. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.



Biểu đồ 3.5. Thay đổi nhịp tim trước và trong quá trình điều trị

Nhận xét: Hầu như tại các thời điểm theo dõi kể từ khi bắt đầu điều trị

HDI đến 24h sau đó bệnh nhân đều duy trì được nhịp tim trung bình khoảng

90 -102 lần/phút. Từ sau 12h, giá trị trung bình nhịp tim tại các thời điểm có

sự biến động nhẹ.



Biểu đồ 3.6. Thay đổi CVP trước và trong quá trình điều trị

Nhận xét: Chỉ số trung bình áp lực tĩnh mạch trung tâm có giá trị nhỏ

nhất tại thời điểm bắt đầu dùng HDI (14,6 cmH 2O) và cao nhất sau 3h điều trị

(19,7 cmH2O). Chỉ số này có xu hướng tăng sau dùng HDI và duy trì khoảng

17-20 cmH2O.



Biểu đồ 3.7. Thay đổi Lactat trước và trong quá trình điều trị



54

54

Nhận xét: Chỉ số lactat máu có sự thay đổi trong khoảng thời gian từ

trước liệu pháp đến thời điển 12h dùng liệu pháp. Tuy nhiên sự thay đổi này

khơng có ý nghĩa thống kê. Sau đó, từ 6 – 24h giá trị trung bình lactat có xu

hướng giảm rõ rệt.

Biểu đồ 3.8. Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc vận mạch

Nhận xét: tỉ lệ bệnh nhân không dùng thuốc vận mạch và đã dùng 2 loại

thuốc vận mạch là nhiều nhất và đều là 25%. Sau đó, tỉ lệ bệnh nhân đã dùng

1 và 3 loại thuốc vận mạch cũng tương đương nhau là 18,75%. Có 2 trường

hợp chiếm 12,5% bệnh nhân phải dùng đến 4 loại thuốc vận mạch.

Bảng 3.16: Thay đổi thuốc vận mạch trước và trong quá trình điều trị

Thuốc vận



Trướ



mạch



c HDI



Trong q trình điều trị HDI 24h

Cắt/giảm

Khơng giảm

Tăng



Adrenalin

Noradrenali



1

9



liều

2

6



n

Dopamin

Dobutamin



2

4



3

2



Tổn



liều

1

2



liều

2

4



g

5

12



1

2



0

4



4

8



Nhận xét: Trong q trình điều trị liệu pháp HDI thì thuốc vận mạch được

sử dụng chủ yếu là noradrenalin và thuốc vận mạnh được bổ sung thêm nhiều

nhất là dobutamin. Đối với nhóm có sử dụng noradrenalin có 6 trường hợp được

cắt hoặc giảm liều. Đối với nhóm có sử dụng adrenalin và nhóm có sử dụng

dopamin trong 24h theo dõi đều có 2 trường hợp được cắt hoặc giảm liều.



Biểu đồ 3.9. Đặc điểm dùng vận mạch của bệnh nhân trong 24h HDI

Nhận xét: Có 58,3% bệnh nhân được giữ nguyên/giảm/cắt thuốc vận

mạch trong quá trình điều trị liệu pháp 24 giờ.



55

55



56

56

Bảng 3.17. Kết quả điện điện tâm đồ của bệnh nhân

Điện tâm đồ

Nhịp xoang > 60

Nhịp xoang chậm

Block nhĩ thất

Tổng



Thời điểm T0

Số lượng

%

14

87,5

1

6,25

1

6,25

16

100



Thời điểm T24

Số lượng

%

15

93,75

0

0

1

6,25

16

100



Nhận xét: Kết quả điện tim chỉ ra phần lớn các bệnh nhân có nhịp

xoang trên 60 lần/phút chiếm 87,5%. Có 1 trường hợp có nhịp xoang chậm và

1 trường hợp block nhĩ thất.

3.2.3. Kết quả điều trị



Biểu đồ 3.10. Kết quả cải thiện huyết động sau 24h dùng HDI của BN

Nhận xét: trong tổng số 16 bệnh nhân được sử dụng liệu pháp HDI và được

theo dõi có 10 trường hợp cải thiện được huyết động sau 24 giờ chiếm 62,5%.



57

57

Bảng 3.18. Mối liên quan giữa mức độ cải thiện động sau dùng liệu pháp

insulin liều cao sau 24h và mức độ nặng theo PSS

Mức độ

nặng

TB

Nặng



Mức độ cải thiện huyết động sau HDI 24h

Cải thiện

Chưa cải thiện

n

%

n

%

6

85,7

1

14,3

44,4

55,6

4

5



P

p<

0,01*



*Fisher Exact test



Nhận xét: Đánh giá sau 24 dùng liệu pháp HDI cho thấy ở nhóm bệnh

nhân có mức độ trung bình có 6/7 trường hợp cải thiện huyết động cao hơn so

với nhóm có mức độ nặng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,01.



Biểu đồ 3.11. Kết quả sau quá trình điều trị tại bệnh viện

Nhận xét: Trong số các bệnh nhân ngộ độc cấp được điều trị liệu pháp

HDI có một nửa số bệnh nhân khỏi hồn tồn và chỉ có 1 bệnh nhân đã tử

vong sau quá trình điều trị tại viện chiếm 6,25%.

Bảng 3.19. Mối liên quan giữa sự cải thiện huyết động sau 24h dùng HDI

và kết quả điều trị

Kết quả điều

trị

Khỏi

Nặng hơn

Không thay đổi

Tử vong

Tổng



Cải thiện huyết động



Không cải thiện HĐ



24h



24h



n

7

1

2

0

10



%

70

10

20

0

100



n

1

4

0

1

6



P

%

16,7

66,7

0

16,6

100



p<0,05



Nhận xét: có 8/16 bệnh nhân khỏi hồn tồn sau q trình điều trị.

TRong nhóm cải thiện huyết động 24 h có 7/10 bệnh nhân khỏi hồn tồn, tỷ



58

58

lệ này cao hơn so với nhóm khơng có sự cải thiện huyết động 24h (1/6 trường

hợp). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.20. Thời gian nằm viện của bệnh nhân

Thời gian nằm viện

24 - 48h

48 - 72h

> 72h

Tổng



Số lượng

2

4

10

16



%

12,5

25

62,5

100



Nhận xét: Đa số bệnh nhân phải nằm viện trên 72h chiếm 62,5%. Có 2

trường hợp bệnh nhân (12,5%) được ra viện trước 48h.



59

59

3.3. Một số tác dụng không mong muốn của liệu pháp insulin liều cao

3.3.1. Hạ glucose máu

Bảng 3.21. Tỷ lệ hạ glucose máu do HDI

Biến chứng

Số lượng

%

Không hạ glucose máu

14

87,5

Hạ glucose máu nhẹ

0

0

Hạ glucose máu TB

2

12,5

Hạ glucose máu nặng

0

0

Tổng

16

100

Nhận xét: Trong quá trình điều trị, theo dõi thấy hầu hết bệnh nhân

khơng có hạ glucose máu và chỉ có 2/16 trường hợp có hạ glucose máu mức

độ trung bình.

Bảng 3.22. Mối liên quan giữa tổng thời gian HDI với biến chứng hạ glucose

Tổng thời gian dùng liệu pháp

p

<12 h

12-24h

> 24h

Không hạ glucose máu

1

5

8

p>0,05

Hạ glucose máu TB

1

1

0

Tổng

2

6

8

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt về mức độ nặng của biến chứng hạ

Biến chứng



glucose máu giữa các nhóm tổng thời gian dùng liệu pháp

Bảng 3.23. Mối liên quan giữa phân loại liều duy trì với biến chứng hạ glucose

Liều duy trì

p

0,5

≥1

Khơng hạ glucose máu

7

7

p>0,05

Hạ glucose máu TB

2

0

Tổng

9

7

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt về mức độ nặng của biến chứng hạ

Biến chứng



glucose máu giữa các nhóm phân liều duy trì.

3.3.1.2. Tần suất xuất hiện

Bảng 3.24. Tần suất xuất hiện biến chứng hạ glucose máu



Hạ glucose máu



Số trường



Số lần



Số lần ghi



Mức glucose



hợp

2



theo dõi

48



nhận

8



thấp nhất

2,9 mmol/L



60

60

Nhận xét: Trong 2 trường hợp có hạ glucose máu đã ghi nhận được 8

lần hạ glucose trên tổng số 48 lần theo dõi. Giá trị glucose thấp nhất trong quá

trình theo dõi là 2,9 mmol/L.

3.3.2. Hạ kali máu

Bảng 3.25. Tỷ lệ hạ glucose máu do HDI

Biến chứng

Không hạ kali máu

Hạ kali máu nhẹ

Hạ kali máu TB

Tổng



Số lượng

4

11

1

16



Tỷ lệ (%)

25

68,7

6,3

100



Nhận xét: Sau điều trị bằng liệu pháp HDI, đa số bệnh nhân bị hạ kali

máu mức độ nhẹ chiếm 68,7%. Có 6,3% (1 trường hợp) bệnh nhân bị hạ kali

máu mức độ trung bình.

Bảng 3.26. Mối liên quan giữa tổng thời gian HDI với biến chứng hạ Kali

Biến chứng

Không hạ kali máu

Hạ kali máu nhẹ

Hạ kali máu trung bình

Tổng



Tổng thời gian dùng liệu pháp

<12 h

12-24 h

> 24 h

2

0

2

0

6

5

0

0

1

2

6

8



p

p<0,05



Nhận xét: Tỉ lệ mắc biến chứng hạ kali máu nhẹ ở 2 nhóm tổng thời

gian dùng liệu pháp từ 12-24h và nhóm >24h cao hơn so với nhóm có tổng

thời gian điều trị dưới 12 h. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.27. Mối liên quan giữa phân loại liều duy trì với biến chứng hạ kali

Biến chứng

Không hạ kali máu

Hạ kali máu nhẹ

Hạ kali máu trung bình

Tổng



Liều duy trì

0,5 U/kg/h

≥ 1 U/kg/h

3

1

6

5

0

1

9

7



P

p>0,05



61

61

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt về mức độ nặng của biến chứng hạ

kali máu giữa các nhóm phân liều duy trì.

Bảng 3.28. Tần suất xuất hiện biến chứng hạ glucose máu



Hạ kali máu



Số trường



Số lần



Số lần



Mức kali thấp



hợp

12



theo dõi

108



ghi nhận

39



nhất

2,5 mmol/L



Nhận xét: Trong quá trình theo dõi 12 trường hợp có hạ kali máu đã ghi

nhận được 39 lần hạ kali máu trên tổng số 108 lần theo dõi. Giá trị kali thấp

nhất trong quá trình theo dõi là 2,5 mmol/L.



62

62



Chương 4

BÀN LUẬN



4.1. Đặc điểm chung của các bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm tuổi, giới và tiền sử bệnh tật

Độ tuổi trung bình của đối tượng là: 52,6 ± 21,10. Kết quả này tương

đồng với nghiên cứu hồi cứu của Espinoza và cộng sự (2013) đã thực hiện trên

46 bệnh nhân nhiễm độc thuốc chẹn kênh canxi tại các trung tâm chống độc

khu vực (RPC) từ năm 2002 - năm 2008, độ tuổi bệnh nhân trung bình là 51 ±

18 [42]. Độ tuổi trung bình nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu

của Holger và cộng sự (2011) hồi cứu trên 12 bệnh nhân ngộ độc thuốc chẹn

beta hoặc thuốc chẹn kênh calci với độ tuổi trung bình là: 36,5 (SD= 11,7) [14].

Nghiên cứu của chúng tơi có độ tuổi nhỏ nhất là 28 tuổi và lớn nhất là 82 tuổi.

Trong khi đó, nghiên cứu của Holger độ tuổi của bệnh nhân phân bố từ 19- 65

tuổi [14].

Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu là nam giới chiếm 47,2%. Kết quả này khá

tương đồng với nghiên cứu Cole và cộng sự (2018) tiến hành trên 199 bệnh

nhân ngộ độc thuốc chẹn beta hoặc thuốc chẹn kênh calci được điều trị bằng

HDI từ 2000-2016 tại Hoa Kỳ [43]. Tỷ lệ nam giới trong nghiên cứu của

chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Musselman và cộng sự thực hiện trên

20 bệnh nhân ngộ độc thuốc chẹn beta và/ hoặc thuốc chẹn kênh calci [44].

Thuốc chẹn kênh canxi được sử dụng để điều trị nhiều bệnh lí bao gồm:

tăng huyết áp, đau thắt ngực ổn định, loạn nhịp tim, đau đầu migraine, và

chứng Raynaud. Trên huyết áp, thuốc làm giảm cả huyết áp tâm thu và huyết

áp tâm trương, có tác dụng cho nhiều nhóm tuổi, đặc biệt đối với người già có



63

63

tăng huyết áp tâm thu đơn độc. Thuốc chẹn beta giao cảm ức chế tiết renin

cũng có tác dụng hạ huyết áp. Tại Việt Nam, 2 loại thuộc này được sử dụng

khá phổ biến trong điều trị tăng huyết áp. Kết quả của chúng tôi cũng đã chỉ

ra tỉ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu đã có tiền sử mắc các bệnh lý THA cao

và chiếm 61,1% phù hợp với thực trạng sử dụng thuốc hiện nay.

4.1.2. Căn cứ chẩn đoán và nguyên nhân, loại thuốc gây ngộ độc

Để khai thác được nguyên nhân ngộ độc, phần lớn bác sĩ là thông qua

hỏi bệnh trên của bệnh nhân hoặc người nhà và tang vật thu được. Phần lớn đối

tượng nghiên cứu bị ngộ độc thuốc chẹn kênh canxi và thuốc chẹn beta giao

cảm do tự tử chiếm 67,0%. Có 25,0% là do uống nhầm. Nguyên nhân do tai

biến điều trị ít gặp nhất. Dựa vào kết quả trên có thể thấy việc ngộ độc 2 loại

thuốc trên của bệnh nhân là do chủ ý của bệnh nhân. Khi đánh giá một ngộ độc

tiềm ẩn, ngoài các tác động lâm sàng ngay lập tức của việc uống, điều quan

trọng là phải đánh giá ý định của bệnh nhân [5]. Đây là vấn đề liên quan đến

sức khỏe tâm thần cần quan tâm và can thiệp ở những bệnh nhân này.

Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu này chủ yếu ngộ độc các thuốc

chẹn kênh calci (94,4%), trong đó thuốc amlodipine chiếm 63,9%. Kết quả

này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Cole và cộng sự khi trên 199 bệnh

nhân nghiên cứu có 88 bệnh nhân (44%) bị ngộ độc bởi thuốc chẹn bêta, 22

bệnh nhân (11%) bị ngộ độc bởi thuốc chẹn kênh calci dihydropyridin, 44

bệnh nhân (22%) bị ngộ độc bởi thuốc chẹn kênh canxi nondihydropyridine

(độc quyền verapamil và diltiazem) và 45 bệnh nhân (23%) bị ngộ độc bởi cả

thuốc chẹn bêta và thuốc chẹn kênh calci [43]. Có thể giải thích do sự chênh

lệch cỡ mẫu của 2 nghiên cứu, với cỡ mẫu nhỏ nghiên cứu của chúng tôi chưa

xuất hiện trường hợp phối hợp cả 2 thuốc. Đồng thời là sự khác biệt về loại

thuốc thường được chỉ định trong điều trị bệnh lý tim mạch. Trong nghiên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời gian HATD > 90 mmHg sau dùng HDI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×