Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn đối tượng có nguyên nhân gây dị tật là do mẹ ốm trong lúc mang thai 3 tháng đầu (12/31BN chiếm 38,7%). Do mẹ dung thuốc trong thai kì chiếm 19,4%; yếu tố do di truyền 12,9%; không rõ nguyên nhân chiến 29,0%. Một

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn đối tượng có nguyên nhân gây dị tật là do mẹ ốm trong lúc mang thai 3 tháng đầu (12/31BN chiếm 38,7%). Do mẹ dung thuốc trong thai kì chiếm 19,4%; yếu tố do di truyền 12,9%; không rõ nguyên nhân chiến 29,0%. Một

Tải bản đầy đủ - 0trang

54



(29,0%). Tỷ lệ khe hở VM mềm ở nam giới (65,0%) thấp hơn ở nữ giới

(81,8%); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Kết

quả này tương tự kết qủa của Lê Ngọc Uyển (2000) 90% KHVM mềm độ

III, 5% độ I [23]. Tỷ lệ mắc KHVM đơn thuần trên cộng đồng là khác nhau

Bauer là 33% [8]; Marks và Wynn là 30% KHVM [32], Trần Văn Trường

cho thấy 43,3% có KHVM đơn thuần [2].

- Chiều rộng KHVM mềm, chiều dài VM mềm và khoảng cách lưỡi gà

thành sau họng trước mổ

Trong nghiên cứu của chúng tôi đánh giá độ rộng gai mũi sau đại diện

cho độ rộng khe hở vòm miệng. Chiều rộng KHVM chia là 3 nhóm dưới 1

cm, 1-2 cm, trên 2 cm; trên 2cm được xem là khe hở rộng, 1-2 cm được cho

là khe hở vòm có độn rộng trung bình. Phần lớn chiều rộng KHVM thuộc

nhóm 1-2cm (74,2%); nhóm dưới 1cm (25,8%). Tỷ lệ CR KHVM nhóm 12cm ở nam giới (80,0%) cao hơn ở nữ (63,6%); tuy nhiên sự khác biệt

khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Chiều rộng KHVM trung bình

1,13cm; ở nam (1,19cm) cao hơn ở nữ (1,01cm), sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p<0,05. Nhóm dưới 2 tuổi tỷ lệ chiều rộng KHVM 1-2cm

(71,4%); nhóm 2-4 tuổi (84,6%); nhóm 4 đến 6 tuỏi (100%); tỷ lệ này thấp

nhất ở nhóm trên 6 tuổi (33,3%); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê p>0,05. Chiều rộng TB KHVM ở nhóm 4-6 tuổi cao nhất 12cm;

thấp hơn ở nhóm 2-4 tuổi (11,85cm), nhóm dưới 2 tuổi (11,14cm), thấp nhất

ở nhóm trên 6 tuổi (9,0cm); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống

kê p>0,05. Kêt quả của Nguyễn Thị Hồng Tuyến (2014) trên khe hở toàn bộ

một bên cho thấy 73,3% độ rộng khe hở vòm miệng 1-2cm; 26,7% thuộc

nhóm dưới 1cm, khơng có BN nào trên 2cm; Lê Xn Thu (2011) cho thấy

có 84,4% nhóm 1-2cm, 9,4% nhóm trên 2cm, 6,2% nhóm dưới 1 cm.



55



Tỷ lệ đối tượng có CD VM mềm 20-25mm 51,6%; trên 25mm là

48,4%. Ở nam giới phần lớn CD VM mềm 20-25mm (55,0%); ở nữ chủ yếu

là CD VM mềm trên 25cm (54,6%); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê p>0,05. Chiều dài VM TB là 25,52mm; ở nam cao 25,60mm cao

hơn ở nữ 25,36mm; tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê p>0,05.

Ở nhóm dưới 2 tuổi phần lớn chiều dài VM mềm ở nhóm 20-25mm 64,3%; ở

nhóm 2-4 tuổi phần lớn có chiều dài VM mềm trên 25mm (53,9%); nhóm 4-6

tuổi 100%, nhóm trên 6 tuổi 66,7%; tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê p>0,05. Chiều dài KHVM mềm trung bình ở nhóm 4-6 cao nhất

29mm, thấp hơn ở nhóm 2-4 tuổi 26,08mm, thấp nhất ở nhóm dưới 2 tuổi

24,71mm.

Phần lớn đối tượng có KT lưỡi gà – thành họng trên 15mm (64,5%),

10-15mm chiếm 35,5%. Ở nam giới tỷ lệ KT lưỡi gà – thành họng trên 15mm

là 60,0% thấp hơn ở nữ giới 72,7%; tỷ lệ KT lưỡi gà – thành họng 10-15mm ở

nam là 40,0% ở nữ là 27,3%; tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống

kê p>0,05. KT lưỡi gà – thành họng TB là 15,68mm; ở nam cao 15,65mm

thấp hơn ở nữ 15,73mm; tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

p>0,05. Trong nhóm dưới 2 tuổi 50,0% có KT lưỡi gà – thành họng 1015mm; 50% trên 50mm. Trong nhóm 2-4 tuổi phần lớn KT lưỡi gà – thành

họng trên 15mm (84,6%), nhóm trên 6 tuổi (66,7%); tuy nhiên sự khác biệt

khơng có ý nghĩa thống kê p>0,05. KT lưỡi gà – thành họng trung bình ở

nhóm 2-4 tuổi 16,76mm; thấp hơn ở nhóm dưới 2 tuổi 15,07mm, trên 6 tuổi

14,67mm, thấp nhất ở nhóm 4 đến 6 tuổi 13mm; tuy nhiên sự khác biệt khơng

có ý nghĩa thống kê p>0,05.



56



4.2. Nhận xét kết quả phẫu thuật

- Đánh giá tình trạng cộng hưởng mũi và thốt mũi sau phẫu thuật

Kết qủa của chúng tôi cho thấy trước lúc phẫu thuật khơng có trường

hợp nào có độ cộng hưởng mũi bình thường, hầu hết các bệnh nhân có

80,6% có giọng mũi hở nặng; trước lúc mổ khơng có trường hợp nào có độ

tình trạng thốt khí mũi bình thường, hầu hết các đối tượng có thốt khí mũi

nặng 93,6%.

Độ cộng hưởng mũi đánh giá được độ kín của van vòm hầu khi cho

phát các phụ âm khơng mũi, lúc này độ cộng hưởng rất thấp. Ở BN bị KHVM

hoặc thiểu năng vòm hầu, sẽ ln tăng cộng hưởng mũi, mà biểu hiện lâm

sàng là giọng mũi hở, khiến lời nói khơng rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của Lê

Ngọc Uyển cho thấy 82,4% BN có giọng mũi hở nặng trước khi phẫu thuật,

mức độ TB chiếm 17,6%, khơng có trường hợp nào ở giới hạn bình thường;

đánh giá âm sau mổ được thực hiện có 15,4% có độ cộng hưởng trong giới

hạn chấp nhận được; 38,5% BN có giọng mũi hở vừa phải, 46,2% có giọng

mũi hở nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trước lúc

phẫu thuật khơng có trường hợp nào có độ cộng hưởng mũi bình thường, hầu

hết các bệnh nhân có 80,6% có giọng mũi hở nặng. Sau phẫu thuật 16,1%

bệnh nhân có mức độ giọng mũi hở nhẹ, tỷ lệ có giọng mũi hở nặng giảm

xuống còn 48,4%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. So sánh trước

và sau mổ cho thấy có xu hướng tiến triển tốt trong việc thiệp lập lại cộng

hưởng âm bình thường trong mẫu nghiên cứu. Kết quả của Brother cho thấy

86% có độ cộng hưởng bình thường [49].

Thốt mũi là hiện tượng xảy ra trong phát âm, ở những đối tượng

KHVM sẽ ln gặp thốt khí mũi ở các mức độ khác nhau. Nếu thốt khí mũi

nhiều, sẽ khơng còn đủ áp lực hơi cần thiết để tạo phụ âm nhất là các phụ âm



57



tắc hay âm xát thậm chí có thể mấy phụ âm. Trước lúc phẫu thuật khơng có

trường hợp nào có độ tình trạng thốt khí mũi bình thường, hầu hết các đối

tượng có thốt khí mũi nặng 93,6%. Sau khi PT tỷ lệ độ tình trạng thốt khí

mũi nặng giảm xuống còn 67,7%, trung bình 32,3%. Sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p<0,05. Kết qủa nghiên cứu của Nguyễn Hoành Đức, từ 1984 –

1988 đã phẫu thuật 40 trường hợp KHVM có sử dụng vạt thành hầu chân trên

để làm tăng chiều dài VM. Thủ thuật được tiến hành ngay một thì ở trẻ trên 6

tuổi hoặc tạo hình thì 2 đối với trẻ đã được phẫu thuật theo phương pháp

thơng thường trước đó mà phát âm kém. Tác giả nhận xét thấy 35/40 BN đạt

kết quả tốt, phát âm rõ, bớt ngọng [39]. Đặng Duy Hiếu, Lâm Ngọc Ấn trong 4

năm (1990 – 1993) đã phẫu thuật 58 BN có KHVM rộng và nhiều lứa tuổi khác

nhau theo phương pháp Limberg cải tiến. Kết quả cho thấy về mặt phát âm và

thẩm mỹ, 45/58 cases đạt kết quả tốt (77,59%); 11/58 cases trung bình

(14,48%) còn lại là khơng đạt [30]. Nguyễn Mạnh Hà, Lê Sơn (1999) đã PT

31 trường hợp KHVM khơng tồn bộ theo phương pháp Furlow sau phẫu

thuật VM được kéo dài ra sau tốt, chức năng phát âm được cải thiện [40]. Lê

Ngọc Uyển (2000) đã nghiên cứu 40 trường hợp KHVM khơng tồn bộ được

phẫu thuật theo phương pháp Furlow vùng mũi hầu được thu hẹp một cách có

ý nghĩa, chức năng phát âm được cải thiện [23]. Jill Nyberg và cộng sự đánh

giá kết quả phát âm của 69 BN được phẫu thuật KHVM cho thấy giọng mũi

hở nhẹ, yếu áp lực khi phát âm có tỷ lệ 19-22% trong 5 năm đầu, sau 10 năm

giảm còn 5%. Còn đối với tình trạng thốt khí mũi với tỷ lệ sau 5 năm là 23%

sau 10 năm khơng có sự cải thiện nào [50]. Trong nghiên cứu của Mossa

Abdel-Aziz cho kết quả phát âm của 21 BN được tạo hình vòm mềm bằng

phương pháp Furlow với thời gian đánh giá sau 4 năm kết quả là 85,7% hoàn

thiện vùng hầu họng, 14,3% có giọng mũi hở nhẹ và khơng có bệnh nhân nào



58



thốt khí mũi [51]. Kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Thu (2011) [45] trước

mổ 100% BN có tình trạng thốt khí mũi nặng, khơng có trường hợp nào ở

mức độ trung bình hay bình thường. Sau phẫu thuật 2-3 tháng có 1/8BN

(12,5%) BN bình thường; 37,5% BN trung bình, 50% BN nặng. Vậy tình

trạng thốt khí mũi sau phẫu thuật có cải thiện tuy nhiên khơng cao bằng kết

quả nghiên cứu của chúng tôi. Kết quả của Nguyễn Thị Thanh Châm đánh giá

chức năng phát âm sau 6 tháng đối với trẻ sau phẫu thuật khe hở mơi vòm

miệng thì có kết quả 100% các bệnh nhân nghiên cứu đều có hiện tượng thốt

khí mũi ở các mức độ khác nhau [52].

- Kết quả liền thương, đóng kín khe hở sau phẫu thuật 1

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số kết qủa liền thương,

đóng kín KHVM tốt 90,3%, tỷ lệ trung bình 9,7%, khơng có đối tượng nào bị

bục vết mỗ, khơng có lỗ thơng mũi miệng. Tỷ lệ kết quả tốt ở nam giới 90,0%

thấp hơn ở nữ giới 90,9%, tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê

với p>0,05. Tỷ lệ kết quả tốt cao nhất ở nhóm trên 4 tuổi 100%, thấp hơn ở

nhóm 2-4 tuổi 92,3%, thấp nhất ở nhóm dưới 2 tuổi 85,7%. Tỷ lệ ở nhóm

chiều rộng KHVM >2cm 95,6% cao hơn nhóm 1-2cm 75,0%, tuy nhiên sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Đối với KHVM không quá rộng (<

1 cm), nhiều tác giả ở các trung tâm khác nhau trên thế giới đã sử dụng

phương pháp tạo hình bằng 2 vạt chữ Z đổi chiều của Furlow cho kết quả tốt.

Randall (1990) với 80% sau mổ 2 năm [34]; Furlow (1976) 92% sau mổ 3

năm [41]; Nghiên cứu năm 1999 tại trường Đại học Tổng hợp Florida

(Mỹ), các tác giả Seagle, Patti và Williams đã báo cáo 29 bệnh nhân

KHVM được mổ từ 1986 -1996, trong đó 18 trường hợp mổ theo kỹ thuật

Furlow thì 83% đạt kết quả tốt [17].



59



- Kết quả đẩy lùi VM ra sau và thu hẹp họng giữa

Trong nghiên cứu của Luce [53] cho thấy chiều dài VM với chức năng

hoạt động bình thường sẽ quyết định sự kín khít của van hòm hầu sau phẫu

thuật. Hoạt động chức năng của VM mềm giữ vai trò chính trong các động tác

nuốt cũng như phát âm. Mặc dù sự đóng kín của van vòm hầu đòi hỏi sự tham

gia của nhiều hoạt độngđộng: sự thu hẹp thành họng bên, sự hướng ra phía

trước của họng sau.. nhưng trong đó, động tác kéo lên trên và ra sau của VM

mềm là quan trọng hơn cả. Chức năng của chiều dài VM quyết định sự kín

khút của van vòm hầu sau phẫu thuật. Mục đích của các phương pháp phẫu

thuật KHVM là đẩy lùi BM ra sau và làm tăng chiều dài VM, giảm bớt sẹo

co, Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chiều dài VM mềm sau phẫu

thuật 33,35±2,93mm, tăng lên 7,84±1,92mm so với trước phẫu thuật, sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Nghiên cứu của Lê Ngọc Uyển cho thấy

với 17 BN tuổi TB 6,11 có chiều dài trung bình của VM mềm đô được trước

mổ là 20,23mm; khi phẫu thuật hoàn thành, chiều dài được xác định lại là

28,58mm; như vậy VM mềm đã tăng lên được 41,27% về kích thước [23]. Từ

kết quả nghiên cứu thu được và một số kết quả nghiên cứu trước có thể cho

rằng phương pháp tạo hình bằng hai vạt chữ Z đảo chiều đã làm tăng chiều

dài VM lên đáng kể. Tuy nhiên só với tỷ lệ tăng thêm lý thuyết thì tỷ lệ đạt

được còn thấp. Điều này được giải thích bằng việc các vạt niêm mạc cơ được

tạo hình nằm 2 bên của KHVM. Khi xoay chuyển các vạt, đồng thời thu hẹp

về chiều rộng các vạt sẽ bị kéo dãn và giảm độ lớn của góc quay so với lúc

ban đầu. Nghiên cứu của Kaukas, Cohen và Grabb cũng cho thấy chiều dài

thực tế trong tạo hình bằng vạt chữ Z bao giờ cũng thấp hơn 28% so với lý

thuyết [40].

Nghiên cứu của Pigoot cho thấy khi cơ khẩu cái màn hầu co lại sẽ kết

hợp với cơ nâng màn hầu để tạo ra một cái nụ nằm ở mặt phía mũi của VM



60



mềmmềm, đối diện với thành họng sau. Chính nhờ sự phồng lên của lưỡi gà

khi cơ co cùng với cử động của thành bên và sau họng sẽ góp phần đóng kín

van vòm hầu lúc phát âm [34], [10]. Một số nghiên cứu bằng nội soi mũi hầu

chỉ ra rằng khi van vòm hầu đóng lại, nếu lỗ van khơng khép được kínkín

nhưng nhỏ hơn 5mm thì cũng không gây những rối loạn nghiêm trọng về phát

âm. Randall cũng cho rằng trong phẫu thuật với các phương pháp thông

thường, VM mềm thường bị thu ngắn lại do tác dụng của đường sẹo thẳng,

lưỡi gà cũng vì thế mà co rất ngắn, nhiều khi mất hồn tồn hình dạng [34].

Các số đo về khoảng cách đầu lưỡi gà tới thành họng sau trong tư thế tĩnh của

nghiên cứu, chưa đánh giá được chứa nặng hoạt động của van hòm hầu,

nhưng đã phản ánh gián tiếp được sự thu hẹp của chiều rộng mũi hầu sau

phẫu thuật. Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khoảng cách lưỡi gà sau

phẫu thuật 8,55±1,55mm, giảm xuống 7,12±1,28mm so với trước phẫu thuật,

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả của chúng tôi tương

đương với kết quả của Nguyễn Thị Hồng Tuyến (2014) cho thấy khoảng cách

đầu lưỡi gà – thánh sau họng đo được trên lâm sàng trước mổ là 11,29mm sau

phẫu thuật là 8,33mm tức là giảm sau phẫu thuật 2,96mm [44]; Lê Xuân Thu

(2011) kích thước dầu lưỡi hà thành họng sau lad 12,32mm sau mổ là 7,9mm

[45]; Lê Ngọc Uyển (2000) từ kích thước đầu lưỡi gà – thành họng trước mổ

là 12,47mm sau mổ là 8,05mm, tỷ lệ giảm trước và sau mổ là 54,9% [23] tất

cả 35 BN lưỡi gà tuy co ngắn nhưng vẫn giữ được hình thể. Kết quả tăng

chiều dài vòm miệng được bao nhiêu thì sự thu hẹp được van hòm hầu được

bấy nhiêu.

- Biến chứng sau phẫu thuật

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 83,7% BN khơng có biến

chứng sớm sau mổ.



61



Chảy máu là một trong những biến chứng chính trong phẫu thuật VM,

có thể gặp ngay trong lúc mổ hoặc vài ngày sau mổ [54]. Gây tê tại chỗ cho

BN, các phương pháp phẫu thuật có sử dụng thuốc tê có pha thuốc co mạch

để tiêm tê tại chỗ, có thể làm giảm nguy cơ chảy máu từ các mạch máu nhỏ;

tuy nhiên đối với mạch máu mới hơn buộc phải thắt hoặc đốt bằng dao điện.

Tuy nhiênnhiên, với một số phương pháp phẫu thuật đường rạch sẽ cắt ngang

cách mạch này do các nhánh động mạch khẩu cái lớn toả rộng về phía trước

trong niêm mạng của VM cứng. Sau khi lật vạt niêm mạc – màng xương để di

chuyển vào trong và đẩy lùi ra sau, để lại phần diện mổ trên bề mặt VM cứng

khơng có niêm mạc che phủ. Điều này có thể dẫn tới nguy cơ chảy máu sau

mổ cho BN. Trong phương pháp Furlow, việc phẫu tích chủ yếu thực hiện tại

VM mềm, sự can thiệp vào niêm mạc – màng xương của VM cứng ở mức độ

tối thiểu, đường rạch giảm căng tại hố Ernst cũng ít phải sử dụng đến, do vật

việc kiểm soát chảy máu sẽ thuận lợi hơn, giảm tai biến chảy máu sau mổ.

Kết qủa nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có BN có biến chứng về

giảm thơng khí do phù nề vết mổ và chảy máu sau mổ.

Nhiễm trùng vết mổ cũng làm chậm q trình lành thương, thậm chí có

thể gây hoạt tử và bục vết mổ [54]. Trong hầu hết các trường hợp bục vết mổ

thường xảy ra tại nơi tiếp nối giữa VM cứng và VM mềm bở sẽ có một

khoảng trống được hình thành giữa 2 niêm mạc miệng và mũi khi khâu đóng

[34]. Kết quả của chúng tơi cho thấy có 6,5% nhiễm trùng nhẹ, phù nề vết

mổ; 9,7% có bục vết mổ do nhiễm trùng. Kết quả của BrotherBrother D.B cho

thấy biến chứng sớm có 4,8% BN là bục vết mổ [49].

Lỗ rò miệng – mũi là một trong những biến chứng muộn thường gặp;

nếu lỗ rò nhỏ khơng gây ảnh hưởng lớn tới ăn uống hay phát âm; nếu lỗ rò lớn

có thể để lọt dịch và thức ăn lên mũi, cặn thức ăn đọng tại lỗ rò sẽ gây hơi thở



62



hơi khiến BN rất khó chịu và ngại tiếp xúc với những người xung quanh.

Cộng hưởng âm mũi miệng không trở lại bình thường bở 1 phần khí bị thốt

lên mũi khi nói, làm cho phát âm của BN khơng được cải thiện sau mổ.

Trong 31 BN có 30 BN trong nghiên cứu của chúng tơi khám lại cho thấy: sau

mổ có 1BN (3,3%) chảy máu từ tuần thứ 2 sau mổ; 2 BN (6,7%) lỗ rò mũi

miệng; 3,3% có lưỡi gà hình thể khơng rõ ràng. Bản thân Furlow cũng gặp 2

BN (5,4%) [41]; Nghiên cứu của Chen cho thấy không có biến chứng này dù

sớm hay muộn [42].

Kết quả này tương đồng với kết quả của Nguyễn Mạnh Hà, Lê Sơn

(1999) đã PT 31 trường hợp KHVM khơng tồn bộ theo phương pháp Furlow

sau phẫu thuật khơng có trường hợp nào bị bục vết mổ [40]. Kết quả nghiên

cứu của Lê Ngọc Uyển (2000) cho thấy 87,5% khơng có biến chứng sớm sau

mổ, khong có trường hợp nào suy hơ hấp do vết mổ phù nề nhiều làm chít hẹp

đường thở, khơng có trường hợp nào bị chảy máu sau mổ, vẫn có 3 BN

(7,5%) nhiễm trùng nhẹ làm vết mổ bị phù nề kéo dàidài hơn so với những

BN khác, 5%BN bị nhiễm trùng và bục vết mổ tại ranh giới VM cứng và VM

mềm; với 40 BN nghiên cứu có 35 BN được đánh giá biến chứng muộn có thể

xảy ra có 2 BN có lỗ thơng miệng mũi sau mổ; lưỡi gà tuy bị co ngắn song

vẫn còn rõ hình thể trong 100% trường hợp, điều này làm giảm thiểu năng

vòm hầu sau mổ [23]. Kết quả một số nghiên cứu và từ kết quả của chúng tơi

cho thấy phương pháp tạo hình bằng 2 vạt chữ Z đảo ngược của Furlow là

phương pháp an tồn, khơng xảy ra biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên với một

số phương pháp phẫu thuật khác cho thấy mức độ có biến chứng gần tương

đồng với phương pháp 2 vạt chữ Z đảo ngược của Furlow. Kết quả nghiên

cứu của Lê Xuân Thu (2011) với phương pháp V-YY-Wardill-kinerkiner cho

thấy 83,3% không có biến chứng gì trong tuần đầu sau mổ cao gấp 5 lần tỷ lệ



63



BN có biến chứng (16,7%); giảm thơng khí do phù nề vết mổ và chảy máu

trong tuần đầu sau mổ khơng có bệnh nhân nào (0%); 8,3% BN có nhiễm

trùng nhẹ phù nề vết mổ; 8,3% có bục vết mổ do nhiễm trùng; có 31/36 BN

được đánh giá lại biến chứng muộn cho thấy sau mổ ngày thứ 15 có 1 BN bị

chảy máu (3,2%); 3BN có lỗ rò mũi - miệngmiệng (9,7%), 2BN có hình thể

lưỡi gà khơng rõ ràng (6,5%); khơng có BN nào lưỡi gà bị chẻ đôi sau mổ 2-3

tháng [45].



64



KẾT LUẬN

1. Đặc điểm lâm sàng khe hở vòm miệng ở các bệnh nhân được phẫu tạo

hình bằng kỹ thuật 2 vạt chữ “Z” đảo ngược

- Giới: Tỷ lệ KHVM ở nữ giới 64,5%; nam giới 35,5%

- Nhóm tuổi: tuổi TB chung 3,25.

- Phần lớn đối tượng có nguyên nhân gây dị tật là do mẹ ốm trong lúc

mang thai 3 tháng đầu 38,7%; do mẹ dùng thuốc trong thai kì chiếm 19,4%;

yếu tố do di truyền 12,9%

- Phần lớn là khe hở VM mềm độ III (71,0%), khe hở VM mềm độ II (29,0%).

- Phần lớn chiều rộng KHVM thuộc nhóm 1-2cm (74,2%); nhóm dưới

1cm (25,8%); chiều rộng KHVM trung bình 1,13cm.

- CD VM mềm 20-25mm chiếm 51,6%; trên 25mm là 48,4%; chiều dài

VM TB là 25,52mm.

- KT lưỡi gà – thành họng trên 15mm (64,5%), 10-15mm chiếm 35,5%;

KT lưỡi gà – thành họng TB là 15,68mm

- Hầu hết các bệnh nhân có 80,6% có giọng mũi hở nặng, thốt khí mũi

nặng 93,6% trước PT

2. Nhận xét kết quả phẫu thuật

- 16,1% bệnh nhân có mức độ giọng mũi hở nhẹ, tỷ lệ có giọng mũi hở

nặng giảm xuống còn 48,4% sau PT

- Tỷ lệ độ tình trạng thốt khí mũi nặng giảm xuống còn 67,7%, trung

bình 32,3% sau PT.

- Kết qủa liền thương, đóng kín KHVM tốt 90,3%, tỷ lệ trung bình 9,7%,

khơng có đối tượng nào bị bục vết mỗ, khơng có lỗ thơng mũi miệng.

- Chiều dài VM mềm sau phẫu thuật 33,35±2,93mm, tăng lên

7,84±1,92mm so với trước phẫu thuật



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn đối tượng có nguyên nhân gây dị tật là do mẹ ốm trong lúc mang thai 3 tháng đầu (12/31BN chiếm 38,7%). Do mẹ dung thuốc trong thai kì chiếm 19,4%; yếu tố do di truyền 12,9%; không rõ nguyên nhân chiến 29,0%. Một

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×