Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Biến chứng sau phẫu thuật

- Biến chứng sau phẫu thuật

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



Bảng 3.20. Tỷ lệ biến chứng muộn sau phẫu thuật (n=30)

Biến chứng muộn

Chảy máu từ tuần thứ 2 sau mổ

Lỗ rò mũi – miệng

Lưỡi gà sau Hình thể khơng rõ ràng

PT 2-3 tháng Chẻ đơi





n

1

2

1



%

3,3

6,7

3,3



0



0



Khơng

n

%

29

96,7

28

93,3

29

96,7

30

100



Nhận xét:

-



Trong 31 BN có 30 BN khám lại cho thấy: sau mổ có 1BN (3,3%)



chảy máu từ tuần thứ 2 sau mổ; 2 BN (6,7%) lỗ rò mũi miệng; 3,3% có lưỡi

gà hình thể khơng rõ ràng.



51



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng khe hở vòm miệng ở các bệnh nhân được phẫu

tạo hình bằng kỹ thuật 2 vạt chữ “Z” đảo ngược

- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong tổng số 31 bệnh nhân

nghiên cứu nam 20/31 BN chiếm 64,5%; nữ 11/31 BN chiếm 35,5%. Kết quả

này khác với nghiên cứu của PhạmThanh Hải (2011) 77,8% nam giới, 22,2%

nữ giới [43]. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với một số

nghiên cứu trước như của Nguyễn Thị Hồng Tuyến (2014) nữ 63,3%, nam

36,7% [44]; Lê Xuân Thu (2011) 611,% nữ 38,9% nam [45]; Lê Ngọc Uyển

(2000) cho thấy nữ chiếm tỉ lệ 62,5%, nam 37,5% [44]. Nghiên cứu cho

Rochelle ở Trung Quốc năm 2014 cho thấy 63,5% là nữ giới; 36,5% nam giới

[46]. Hầu hết các tác giả trên thế giới đều nhận xét rằng, KHM – VM gặp ở

1/800 trẻ mới sinh (Yetter). Trong đó hơn 50% là KHM kết hợp với KHVM.

KHM thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, trong khi đó KHVM đơn thuần lại gặp

ở nữ nhiều hơn nam [7]. Kết quả từ nghiên cứu của Bauer và Vicari (1992),

thấy rằng tỉ lệ này khoảng 1/750 ở trẻ da trắng và 1/2000 ở trẻ da đen. KHVM

chiếm 21%, KHM – VM 46%; 33% là KHVM. Về giới, KHM – VM ở nam

gấp đơi nữ trong khi đó KHVM riêng biệt ở nữ nhiều gấp đôi nam [8]. Các

nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ nam giới cao hơn nữ, điều này nói lên trẻ trai có

xu hướng mắc dị tật này cao hơn ở nữ giới.

Một số nghiên cứu nước ngoài cho rằng nên phẫu thuật khi trẻ 18-24

tháng tuổi vì khi đó, trẻ đủ sức chịu đựng cho cuộc phẫu thuật, mặc dù

nghiên cứu của Dorf nhận những đứa trẻ được mổ trước 12 tháng tuổi có



52



hiệu quả điều trị rõ rệt về phát âm sao với những trẻ mổ sau 12 tháng [35].

Tuổi trung bình để phẫu thuật tạo hình KHM ở Việt nam là 5 – 6 tháng tuổi.

Tùy theo tình trạng tồn thân và mức độ rộng của KHM có thể kéo dài tuổi

lên tháng thứ 8 hoặc thứ 10. Mục đích của phẫu thuật là để tạo điều kiện cho

sự phát triển của môi, mũi và hàm trên của trẻ. Ở Việt nam các KHVM được

mổ khi trẻ 5-6 tuổi để cho các cháu tập phát âm trước khi đến tuổi đi học.

Tùy theo sức khoẻ của trẻ (cân nặng, huyết sắc tố) khả năng gây mê nội khí

quản và hồi sức sau mổ ở các cơ sở, có thể mổ từ lúc trẻ 2,5 – 3 tuổi [47].

Kết qủa nghiên cứu của chúng tơi cho thấy có 45,2% BN dưới 2 tuổi; 41,9%

ở nhóm từ 2 đến 4 tuổi, nhóm 4 đến 6 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất 3,2%. Tuổi

trung bình ở nữ giới 3,72 cao hơn ở nam giới 3,05; tuổi TB chung 3,25; tuy

nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Ở nam giới nhóm

2-4 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (55,0%); nhóm dưới 2 tuổi 35,0%; ở nữ giới

nhóm dưới 2 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 63,6%; tuy nhiên sự khác biệt khơng

có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Kết quả này khác so với kết quả nghiên cứu

của Lê Ngọc Uyển (2000) [23] cho thấy khơng có trẻ nào được phẫu

thuậtthuật KHVM trước 2 tuổi; BN được phẫu thuật sớm nhất lúc 2,5 tuổi,

muộn nhất 16 tuổi; phần lớn đối tượng được mổ trên 4 tuỏi 85,0%. Tuy

nhiên kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân

Thu (20111), tỷ lệ trẻ phẫu thuật trước 2 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 38,9%,

nhóm 2-4 ti4 27,8%, Nguyễn Thị Hồng Tuyến (2014) cho thấy BN được

phẫu thuật sớm nhất 16 tháng tuổi, muộn nhất 15 tuổi; kết quả cho thấy trẻ

được mổ lúc dưới 2 tuổi chiếm cao nhất 70,0%, từ 2-4 tuổi 13,3%, nhóm

trên 6 tuổi 13,3% [44]. Điều này có thể dự đốn được những thuận lợi phục

hồi phát âm cho trẻ sau phẫu thuật.



53



- Nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt

Nghiên cứu của chúng tơi cho thấy phần lớn đối tượng có nguyên

nhân gây dị tật là do mẹ ốm trong lúc mang thai 3 tháng đầu (12/31BN

chiếm 38,7%). Do mẹ dung thuốc trong thai kì chiếm 19,4%; yếu tố do di

truyền 12,9%; không rõ nguyên nhân chiến 29,0%. Một số nghiên cứu cho

rằng yếu tố ngoại lai ảnh hưởng tới mẹ khi mang thai như rối loạn nội tiết,

thiếu dinh dưỡng, tiếp xúc hoá chất, ảnh hưởng của vi khuẩn virus đều có

nguy cơ gây dị tật KHVM cho con sinh ra. Ở Việt nam, theo khoa Răng

Hàm Mặt bệnh viện Việt Đức năm 1971 vấn đề sức khỏe của người mẹ

chiếm tỷ lệ cao 71,4%. Trong đó bị cúm chiếm 67,1%. Gabka phân tích

trên 2500 bệnh nhân khe hở mơi và khe hở vòm miệng thấy:khơng thấy

ngun nhân 23,2%, di truyền 15,1%, hoảng sợ chung 10,9%, mẹ trên 40

tuổi 6,7%, hay chảy máu khi mang thai 5,1%, nhiễm độc rau thai 6,7%,

mắc bệnh do virus thời kỳ mang thai 3,4% [48]. Nghiên cứu của Lê Xuân

Thu (2011) cho thấy nguyên nhân thường gặp nhất mẹ bị cúm trong 3 tháng

đầu mang thai (30,6%), 5,6% do mẹ tiếp xúc với hoá chất trong 3 tháng đầu

mang thai; 5,6% bà mẹ buộc phải uống thuốc kháng sinh do bị ốm, yếu tố

di truyền 16,7% [45]; Lê Ngọc Uyển (2000) nguyên nhân thường gặp nhất

mẹ bị cúm trong 3 tháng đầu mang thai 35%; 7,5% dùng thuốc do bị ốm

[23]; Trần Văn Trường (1999) có 3,8% do mẹ tiếp xúc với hố chất độc

trong 3 tháng đầu mang thai [2]; Nguyễn Thị Kim Hương (1993) do yếu tố

di truyền 15,3% [9].

- Hình thái khe hở

Trong KHVM đơn thuần có thể gặp các mức độ khác nhau, khuyết

hổng có thể từ lưỡi gà tới lỗ răng cửa. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy phần lớn là khe hở VM mềm độ III (71,0%), khe hở VM mềm độ II



54



(29,0%). Tỷ lệ khe hở VM mềm ở nam giới (65,0%) thấp hơn ở nữ giới

(81,8%); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Kết

quả này tương tự kết qủa của Lê Ngọc Uyển (2000) 90% KHVM mềm độ

III, 5% độ I [23]. Tỷ lệ mắc KHVM đơn thuần trên cộng đồng là khác nhau

Bauer là 33% [8]; Marks và Wynn là 30% KHVM [32], Trần Văn Trường

cho thấy 43,3% có KHVM đơn thuần [2].

- Chiều rộng KHVM mềm, chiều dài VM mềm và khoảng cách lưỡi gà

thành sau họng trước mổ

Trong nghiên cứu của chúng tôi đánh giá độ rộng gai mũi sau đại diện

cho độ rộng khe hở vòm miệng. Chiều rộng KHVM chia là 3 nhóm dưới 1

cm, 1-2 cm, trên 2 cm; trên 2cm được xem là khe hở rộng, 1-2 cm được cho

là khe hở vòm có độn rộng trung bình. Phần lớn chiều rộng KHVM thuộc

nhóm 1-2cm (74,2%); nhóm dưới 1cm (25,8%). Tỷ lệ CR KHVM nhóm 12cm ở nam giới (80,0%) cao hơn ở nữ (63,6%); tuy nhiên sự khác biệt

khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Chiều rộng KHVM trung bình

1,13cm; ở nam (1,19cm) cao hơn ở nữ (1,01cm), sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p<0,05. Nhóm dưới 2 tuổi tỷ lệ chiều rộng KHVM 1-2cm

(71,4%); nhóm 2-4 tuổi (84,6%); nhóm 4 đến 6 tuỏi (100%); tỷ lệ này thấp

nhất ở nhóm trên 6 tuổi (33,3%); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê p>0,05. Chiều rộng TB KHVM ở nhóm 4-6 tuổi cao nhất 12cm;

thấp hơn ở nhóm 2-4 tuổi (11,85cm), nhóm dưới 2 tuổi (11,14cm), thấp nhất

ở nhóm trên 6 tuổi (9,0cm); tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống

kê p>0,05. Kêt quả của Nguyễn Thị Hồng Tuyến (2014) trên khe hở toàn bộ

một bên cho thấy 73,3% độ rộng khe hở vòm miệng 1-2cm; 26,7% thuộc

nhóm dưới 1cm, khơng có BN nào trên 2cm; Lê Xuân Thu (2011) cho thấy

có 84,4% nhóm 1-2cm, 9,4% nhóm trên 2cm, 6,2% nhóm dưới 1 cm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Biến chứng sau phẫu thuật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×