Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chọn thời điểm phẫu thuật

Chọn thời điểm phẫu thuật

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



Việc PT đóng KHVM sớm rõ ràng đã mang lại kết quả tốt trên phương

diện phát âm, song cũng có thể làm rối loạn sự phát triển của khối xương mặt,

đó là điều mà nhiều tác giả lo ngại. Để khắp phục vấn đề này, ngay từ những

năm 50 của thế kỷ trước, Herman Schweckendick và con trai ông: Wolfram

Schweckendick chủ trương đóng VM làm 2 giai đoạn: PT VM mềm lúc 8 – 12

tháng tuổi; VM cứng để lại cho đến khi trẻ 12 – 14 tuổi mới can thiệp phục hồi.

Một số tác giả khác (Jackson, Mc Lennan và Scheker, 1983) cũng ủng hộ cách

thức này nhưng đề nghị đóng VM cứng lúc trẻ 5 tuổi, khi chiều ngang của

xương hàm trên đã phát triển hoàn chỉnh [36], [37].

Một số trường phái khác lại chủ trương khâu đóng VM cứng và mềm

cùng một lúc. Họ nhấn mạnh rằng hiệu quả phát âm dường như là đối ngược

với sự phát triển của xương mặt nên khó có thể đạt được trọn vẹn cả hai mục

đích cùng một lúc. Bardach và cộng sự (1984) nghiên cứu trên 43 BN lựa

chọn ngẫu nhiên, được PT theo phương pháp Schweckendick trung bình 17,2

năm trước đó, đã ghi nhận 88% BN có sự phát triển bình thường của khối

xương mặt, nhưng lại có 74,42% chiều dài VM bị thu ngắn bất thường, đưa

đến kết quả nghèo nàn về phát âm [36]. Witzel, Salyer và Ross (1984) cũng

tán thành quan điểm khâu đóng VM mềm đồng thời với VM cứng [4].

Ở Việt nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Tùng (1995), trong số 202 BN,

chỉ có 21 trường hợp được PT từ 3 – 5 tuổi, còn lại được PT trên 5 tuổi. Sự

muộn trong PT này, sẽ dẫn đến khiếm khuyết về lời nói cho trẻ sau PT [38].

1.9. Một số nghiên cứu về phẫu thuật vòm miệng trong nước và thế giới.

1.9.1. Ở trong nước

- Nguyễn Hoành Đức, từ 1984 – 1988 đã PT 40 trường hợp KHVM có

sử dụng vạt thành hầu chân trên để làm tăng chiều dài VM. Thủ thuật được

tiến hành ngay một thì ở trẻ trên 6 tuổi hoặc tạo hình thì 2 đối với trẻ đã được

PT theo phương pháp thơng thường trước đó mà phát âm kém. Tác giả nhận

xét thấy 35/40 BN đạt kết quả tốt, phát âm rõ, bớt ngọng [39].



24



- Đặng Duy Hiếu, Lâm Ngọc Ấn trong 4 năm (1990 – 1993) đã PT 58 BN

có KHVM rộng và nhiều lứa tuổi khác nhau theo phương pháp Limberg cải

tiến. Kết quả cho thấy về mặt phát âm và thẩm mỹ, 45/58 cases đạt kết quả tốt

(77,59%); 11/58 cases trung bình (14,48%) còn lại là không đạt [30].

- Nguyễn Mạnh Hà, Lê Sơn (1999) đã PT 31 trường hợp KHVM khơng

tồn bộ theo phương pháp Furlow. Các tác giả nhận xét rằng sau PT khơng có

trường hợp nào bị bục vết mổ, VM được kéo dài ra sau tốt, chức năng phát âm

được cải thiện [40].

- Lê Ngọc Uyển (2000) đã nghiên cứu 40 trường hợp KHVM khơng

tồn bộ được PT theo phương pháp Furlow thì 80% đạt kết quả liền thương

tốt, vùng mũi hầu được thu hẹp một cách có ý nghĩa, chức năng phát âm được

cải thiện [23].

1.9.2. Ở nước ngoài

Về mặt kỹ thuật, cho đến nay, nhiều tác giả vẫn ưa chuộng phương pháp

V – Y Veau - Wardill – Kilner bởi dễ thực hiện. Thủ th uật này sử dụng vạt niêm

mạc màng xương ở VM cứng đẩy lùi ra sau theo kiểu tạo hình chữ V – Y

(Kremenak, Olin, 1967; Bardach và Salyer, 1987) [29].

Hiện nay, quan tâm hàng đầu của các nhà PT vẫn là phục hồi phát âm

sau mổ, điều đó phụ thuộc vào phương pháp PT được lựa chọn. Đối với

KHVM không quá rộng (< 1 cm), nhiều tác giả ở các trung tâm khác nhau

trên thế giới đã sử dụng phương pháp tạo hình bằng 2 vạt chữ Z đổi chiều của

Furlow cho kết quả tốt. Randall (1990) với 80% sau mổ 2 năm [34]; Furlow

(1976) 92% sau mổ 3 năm [41]; Chen, Wu và cộng sự (1994) đạt 89% [42].

Nghiên cứu năm 1999 tại trường Đại học Tổng hợp Florida (Mỹ),

các tác giả Seagle, Patti và Williams đã báo cáo 29 bệnh nhân KHVM

được mổ từ 1986 -1996, trong đó 18 trường hợp mổ theo kỹ thuật Furlow

thì 83% đạt kết quả tốt [17].



25



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chọn từ những bệnh nhân bị khe hở vòm miệng

được phẫu thuật bằng kỹ thuật 2 vạt chữ “Z” đảo ngược tại Bệnh viện Đại học

Y Hà Nội, Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội, Bệnh viện RHM Trung ương

Hà Nội từ tháng 9/2017 đến tháng 10/2018.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu

- Bị khe hở vòm miệng khơng tồn bộ hoặc toàn bộ một bên.

- Tuổi phẫu thuật trên 9 tháng tuổi.

- Có đủ điều kiện sức khỏe để phẫu thuật bằng kỹ thuật 2 vạt chữ “Z” đảo ngược.

- Bệnh nhân được phẫu thuật lần đầu theo bằng kỹ thuật 2 vạt chữ “Z”

đảo ngược.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Bệnh nhân được mổ theo phương pháp khác.

- Bệnh nhân không được người nhà đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.1.3. Mẫu nghiên cứu

Theo cơng thức tính cỡ mẫu như sau [31]:



n  Z (21  / 2 )



p(1  p)

d2



+ n: Cỡ mẫu nghiên cứu

+ Z2(1-/2): Mức độ tin cậy với độ tin cậy α = 0,05 ta có Z2(1-/2) = 1,962

+ p: Tỷ lệ bệnh nhân có kết quả tốt sau 3 tháng của một nghiên cứu khe

hở vòm miệng trước đó, của Lê Xn Thu năm 2011. Chọn p = 0,8 [3].

+ d: Sai số tuyệt đối d = 15%

Thay vào cơng thức ta có n = 28 bệnh nhân.



26



2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Tiến hành theo phương pháp can thiệp lâm sàng khơng đối chứng dưới

hình thức tiến cứu.

2.2.2. Cách chọn mẫu: Mẫu thuận tiện, dự kiến 30 bệnh nhân.

2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu

- Tham gia khám, chẩn đoán, phụ mổ, phẫu thuật và theo dõi và đánh

giá kết quả điều trị.

- Mỗi bệnh nhân được mời đến tái khám sau phẫu thuật 3 tháng.

- Các thông tin được thu thập vào bệnh án mẫu cho từng bệnh nhân.

2.2.3.1. Phương tiện nghiên cứu.

- Bệnh án mẫu, bộ dụng cụ khám răng hàm mặt.

- Phòng mổ, bàn mổ, kíp gây mê nội khí quản.

- Bộ dụng cụ để mở vòm và phẫu thuật tạo hình vòm miệng.

- Thuốc gây tê Lidocaine 1% và Epinephrine 1/100.000

- Kim chỉ khâu vòm miệng.

- Thước đo, máy ảnh.

2.2.3.2. Thu thập thông tin: Theo mẫu bệnh án thiết kế sẵn (phụ lục).

* Hành chính:

- Họ và tên bệnh nhân

- Tuổi, giới, dân tộc

- Địa chỉ gia đình, điện thoại

- Ngày vào viện

- Lý do vào viện

- Ngày mổ, phẫu thuật viên

- Chẩn đoán lúc vào viện

- Chẩn đoán lúc ra viện



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chọn thời điểm phẫu thuật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×