Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tuy nhiên, độ chính xác của phân tích bằng số hoá được lâm sàng chấp nhận và có ưu điểm trong hiện tại và tương lai. Mẫu hàm số hoá có thể dần dần được tiêu chuẩn hoá ứng dụng trong chỉnh nha nhờ đặc tính lưu trữ tốt và tiết kiệm thời gian của nó.

Tuy nhiên, độ chính xác của phân tích bằng số hoá được lâm sàng chấp nhận và có ưu điểm trong hiện tại và tương lai. Mẫu hàm số hoá có thể dần dần được tiêu chuẩn hoá ứng dụng trong chỉnh nha nhờ đặc tính lưu trữ tốt và tiết kiệm thời gian của nó.

Tải bản đầy đủ - 0trang

24



1.6. Một số những nghiên cứu về đặc điểm đầu mặt và cung răng ở người

Việt Nam và trên thế giới

1.6.1. Trên thế giới

1.6.1.1. Các nghiên cứu về kích thước cung răng

Năm 1929, Lewis đã nghiên cứu về những thay đổi tăng trưởng của

răng và cung răng, và những thay đổi khớp cắn ở bộ răng sữa sang răng hỗn

hợp với mẫu gồm 170 trẻ từ 1,5 đến 9,5 tuổi. Ngoài những phát hiện về khớp

cắn, Lewis quan tâm đến sự thay đổi kích thước, chiều rộng cung răng (vùng

răng nanh và vùng răng hàm sữa 1 (RHS1) và răng hàm sữa 2 (RHS2)). Kết

quả nghiên cứu được trình bày với số trung bình, độ lệch chuẩn và số đối

tượng chung cho nam và nữ từ 2,5 đến 8 tuổi. Tác giả kết luận khớp cắn chịu

ảnh hưởng của những thay đổi do tăng trưởng, cung răng sữa rộng ra để phù

hợp với kích thước lớn hơn của các răng cửa vĩnh viễn [5].

1.1.1.1.1



Chiều rộng cung răng



Thường được xác định bằng khoảng cách hai điểm đối xứng trên cung

răng ở bên phải và bên trái. Tùy theo sự lựa chọn từng tác giả, các điểm mốc có

thể là các đỉnh múi, các hố hoặc các điểm lồi tối đa mặt ngoài hay mặt trong

của các răng. Mặc dù cách chọn các điểm mốc đo khác nhau nhưng các nghiên

cứu về thay đổi tăng trưởng chiều rộng cung răng trong giai đoạn bộ răng sữa

và giai đoạn đầu của bộ răng hỗn hợp đều cho kết quả khá giống nhau. Hầu hết

các nghiên cứu đều cho thấy sau khi bộ răng sữa mọc đầy đủ thì chiều rộng

cung răng phía trước và chiều rộng cung răng phía sau ít thayđổi trong giai

đoạn bộ răng sữa, nhưng nói chung là tăng trong giai đoạn từ 3tuổi đến trước

khi mọc răng vĩnh viễn Barrow, Foster, Kirkwood, Meredidth.

Barrow G.V. và White J.D. (1952) [9] kết luận:

-



Chiều rộng cung răng ở vị trí đỉnh múi giữa hai răng nanh trên



cung răng ít thay đổi từ 3 đến 5 tuổi, tăng nhanh từ 5 đến 8 tuổi (hay 9 tuổi),



25



(tăng khoảng 4 mm ở hàm trên và 3 mm ở hàm dưới), hầu hết các trường hợp

giảm dần từ 0,5 đến 1,5 mm sau 14 tuổi.

-



Chiều rộng cung răng ở vị trí đỉnh múi ngồi gần giữa hai răng



hàm lớn thứ nhất có mức độ tăng nhanh từ 7 đến 11 tuổi (tăng 1,8 mm ở hàm

trên; 1,2 mm ở hàm dưới). Từ 11 đến 15 tuổi có sự giảm chiều rộng cung răng

(0,4 mm ở hàm trên; 0,9 mm ở hàm dưới).

Theo ông, sở dĩ có sự giảm chiều rộng cung răng vùng răng hàm lớn

thứ nhất sau 11 tuổi là do sự di gần của răng hàm lớn thứ nhất và hướng hội tụ

của hàm dưới nhiều hơn.

Sillman J.H. (1935) [6] thực hiện nghiên cứu dọc về sự thay đổi kích

thước cung răng từ lúc mới sinh đến 25 tuổi trên 1/3 trẻ em sinh ở bệnh viện

Bellevue tại NewYork, 750 mẫu thạch cao được sử dụng cho nghiên cứu này.

Đến năm 1964 ông cơng bố kết quả và nhận xét:

-



Vì chiều rộng cung răng hàm trên và dưới vùng răng nanh tăng



nhanh lúc mới sinh đến 2 tuổi, khoảng 5 mm/năm ở hàm trên và 3,5 mm/ năm

ở hàm dưới, tiếp tục tăng đến 13 tuổi ở hàm trên, 12 tuổi ở hàm dưới. Sau đó

khơng có sự tăng trưởng đáng kể từ 16 tuổi đến 25 tuổi.

-



Chiều rộng vùng răng hàm lớn thứ nhất có sự giảm kích thước cả



hai hàm từ 16 tuổi, nhưng đặc biệt chiều rộng và chiều dài tồn bộ chỉ gia tăng và

ổn định mà khơng giảm là do sự phát triển sau sinh xảy ra ở phía sau của cung

hàm.

Carter G.A. và Mc Namara J.A. (1997) [11] nghiên cứu dọc về sự thay

đổi chiều dài và chiều rộng cung răng ở người trưởng thành. Ông đã kết luận

kích thước chiều rộng, chiều dài và chu vi cung răng đều giảm ít hơn 3 mm từ

14 đến 47 tuổi. Giai đoạn từ 18 đến 50 tuổi các kích thước cung răng giảm

nhiều hơn và giảm có ý nghĩa thống kê so với giai đoạn từ 14 đến 18 tuổi.

Giảm kích thước cung răng là do răng xoay, răng di gần và mòn răng.

1.1.1.1.2 Chiều dài cung răng

Tùy theo điểm mốc được chọn, có nhiều loại chiều dài cung răng. Sử



26



dụng phổ biến nhất là chiều dài cung răng đo từ điểm giữa hai răng cửa giữa

đến đường nối mặt xa hai RHS2, đỉnh múi ngoài gần RHS2 (hoặc răng hàm

nhỏ vĩnh viễn thứ hai), đỉnh hai răng nanh, hai múi gần - ngoài răng hàm lớn

vĩnh viễn thứ nhất.

Kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy chiều dài cung răng hàm trên

luôn lớn hơn hàm dưới ở mọi lứa tuổi. Mẫu thay đổi theo tuổi của chiều dài

cung răng cho thấy không khác nhau nhiều giữa hàm trên và hàm dưới, tuy

nhiên mức độ giảm của hàm dưới nhiều hơn hàm trên do sự di gần của các

răng trong thời kỳ đầu bộ răng hỗn hợp.

Trong giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi, nghiên cứu của nhiều tác giả cùng ghi

nhận chiều dài cung răng không đổi (Sillman, 1964), hoặc giảm nhẹ (Barrow,

1952; Moorrees, 1959). Chiều dài cung răng thay đổi khơng có ý nghĩa trong

giai đoạn bộ răng sữa thuần túy, thực chất không phải các kích thước chiều

dài tăng chậm mà có những giai đoạn tăng, giai đoạn giảm dẫn đến sự khác

biệt toàn thể nhỏ (0,5 mm). So sánh giữa nam và nữ, đa số các tác giả nhận

thấy sự thay đổi chiều dài cung răng trong quá trình tăng trưởng của nam và

nữ khá giống nhau. Theo Moorrees, chiều dài cung răng hàm trên và hàm

dưới giảm chủ yếu vào hai đợt; đợt một từ 4 đến 6 tuổi, đợt hai từ 10 đến 14

tuổi.Chiều dài cung răng của nam và nữ lúc 18 tuổi (tính đến răng hàm nhỏ

thứ hai) nhỏ hơn so với lúc 3 tuổi (tính đến răng hàm sữa thứ hai), mẫu tăng

trưởngchiều dài cung răng tương tự nhau ở nam và nữ[10]. Sillman cho là

chiều dài vùng răng hàm hàm dưới của nam giảm 2 mm từ 3 đến 25 tuổi,

nhưng ở nữ kích thước này giảm không đáng kể [6].

Barrow G.V. (1952) nhận thấy chiều dài cung răng trong giai đoạn

6 - 12 tuổi thay đổi như sau: tăng 1mm với hàm trên (từ 28,82mm đến

29,82mm), giảm 1,12mm với hàm dưới (từ 26,06 đến 24,94mm) [9].

Như vậy, nhiều nghiên cứu dọc và cắt ngang của các tác giả Sillman



27



J.H., Moorrees C.F.A., Barrow G.V.… [6],[9],[10] đều có nhận xét:

-



Kích thước chiều rộng cung răng đo trên mốc răng nanh, răng



hàm nhỏ thứ hai, răng hàm lớn thứ nhất có sự tăng trưởng nhiều trước tuổi

dậy thì; tăng trưởng chậm ở tuổi dậy thì và ổn định ở 16 - 18 tuổi đối với nữ,

18 - 20 tuổi đối với nam.

-



Kích thước chiều dài cung răng theo chiều trước sau được đo



theo mốc các răng trên cho thấy có sự giảm dần từ khi xuất hiện răng vĩnh viễn

trên cung hàm và ổn định ở tuổi 17 đến 18 đối với nữ và 19 đến 20 đối với

nam. Giảm chiều dài cung răng chủ yếu là do răng có xu hướng di gần, xoay

răng, răng bị mòn… Hàm trên giảm khoảng 1,3 mm và hàm dưới khoảng 1,6

mm.

1.6.1.2. Các nghiên cứu về sự thay đổi của khớp cắn

Hầu hết các nghiên cứu về thay đổi của khớp cắn đều gắn liền với các

nghiên cứu về sự thay đổi của cung răng. Có một số cơng trình nghiên cứu

riêng rẽ về sự thay đổi của khớp cắn, dự đoán về sự thay đổi đó cho đến khi

bộ răng vĩnh viễn được thành lập.

Nghiên cứu của Bishara S.E. và cộng sự (1988) [4] trên nhóm trẻ Mỹ

da trắng về sự thay đổi tương quan vùng răng hàm lớn từ giai đoạn bộ răng

sữa sang bộ răng vĩnh viễn trên trẻ từ 5 - 13 tuổi cho thấy:

1. Tất cả các trường hợp khớp cắn răng sữa có mặt phẳng tận cùng kiểu

bước xa đều chuyển thành khớp cắn loại II ở răng vĩnh viễn. Khơng có trường

hợp nào tự điều chỉnh được, do đó việc điều trị chỉnh nha nên được bắt đầu

càng sớm càng tốt.

2. Với những trường hợp khớp cắn răng sữa có MFTC kiểu phẳng, 56%

có thể phát triển thành khớp cắn loại I, 44% thành khớp cắn loại II. Như vậy,

khi bộ răng sữa có mặt phẳng tận cùng kiểu phẳng, cần được theo dõi để có

thể quyết định điều trị chỉnh nha khi cần.

3. Trường hợp khớp cắn răng sữa có mặt phẳng tận cùng kiểu bước gần,



28



bước về phía gần càng nhiều thì khả năng chuyển thành khớp cắn loại III càng

cao; một số có thể phát triền thành khớp cắn loại I bình thường.

1.6.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Việc nghiên cứu hình thái cung răng nói riêng và hệ thống sọ-mặt-răng

nói chung trên người Việt đã được tiến hành từ thập niên 60 của thế kỷ XX,

nhưng chủ yếu về vấn đề hình thái cung răng.

Hồng Tử Hùng và Huỳnh Kim Khang (1992) đo trên mẫu hàm kích

thước ngang và kích thước theo chiều trước - sau của cung răng hàm trên ở

169 người Việt trưởng thành. Kết quả cho thấy cung răng hàm trên có dạng

elip. Cung răng của nam lớn hơn của nữ có ý nghĩa thống kê. Đây có thể được

xem là cơng trình nghiên cứu đầu tiên về hình thái cung răng người Việt [19].

Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng (2000), khi nghiên cứu so

sánh đặc điểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và Trung Quốc, đã đưa ra

nhận xét: cung răng người Việt rộng hơn đáng kể so với cung răng người Ấn Độ

và gần với kích thước cung răng người Trung Quốc. Cung răng người Việt có

loại hàm rộng chiếm đa số và phần trước cung răng lớn hơn người Trung Quốc

nên hàm người Việt hô nhẹ hơn hàm người Trung Quốc ở vùng răng trước [21].

Bằng phương pháp đo trực tiếp trên mẫu hàm Lê Đức Lánh (2002) [22]

đã xác lập mẫu hình thái và mẫu tăng trưởng của khn mặt cung răng ở trẻ tử

12 đến 15 tuổi người kinh tại thành phố Hồ Chí Minh với cỡ mẫu là 140 học

sinh (gồm 77 nam và 63 nữ). Kết quả cho thấyvề hình thái khn mặt nam có

kích thước lớn hơn nữ (p<0.01), mức tăng trưởng ở giai đoạn 13 - 14 tuổi ít

hơn ở giai đoạn 12 - 13 tuổi ở cả hai giới. Chiều rộng của cung răng hàm trên và

hàm dưới ở trẻ 15 tuổi đã đạt được kích thước của người trưởng thành, chiều dài

cung răng ở nam đa số đạt được kích thước ở người trưởng thành lúc 12 tuổi,

chiều dài cung răng ở nữ đa số đạt được kích thước ở người trưởng thành lúc 12

tuổi đối với hàm trên và 15 tuổi đối với hàm dưới.



29



Nghiên cứu về sự thay đổi của cung răng và khớp cắn từ hệ răng hỗn

hợp sang hệ răng vĩnh viễn của Trịnh Hồng Hương năm 2012 [30] đưa ra kết

luận: kích thước cung răng hàm trên ln lớn hơn kích thước của cung răng

dưới cùng lứa tuổi.

Năm 2017, Nguyễn Tài Long [31] nghiên cứu trên trẻ 12 tuổi người

dân tộc Thái đã kết luận kích thước cung hàm ở nam lớn hơn ở nữ.

Do ở Việt Nam còn ít nghiên cứu dọc về đặc điểm hình thái cung răng

sự thay đổi của kích thước cung răng và khớp cắn ở giai đoạn trẻ ở lứa tuổi

trên đối với người dân tộc thiểu số có số của Việt Nam nên việc thực hiện một

nghiên cứu như vậy là cần thiết về góc độ học thuật cũng như có ý nghĩa về

mặt lâm sàng.

1.7. Đặc điểm dân số người Thái và sự phân bố dân cư tại Sơn La

Theo cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2015, tỉnh Sơn La có

1.195.107 người. (theo niên giám thống kê là 1.192.100 người). Trong đó dân

tộc Thái chiếm đa số với 53,2% tiếp theo là dân tộc Kinh (17,61%), Mơng

(14,61%) và Mường (7,57%)



53,2%



Hình 1.8. Tình hình phân bố dân cư tại tỉnh Sơn La

Người Thái là thành phần dân tộc chính của tỉnh, tại Sơn La, người

Thái đã hình thành một nền văn hóa riêng với chữ viết và tiếng nói đặc trưng.

Trẻ em Thái lứa tuổi 12 phần lớn vẫn chưa được học hành và nắm bắt chữ

Quốc Ngữ tốt, chủ yếu vẫn là sống theo kiểu tập quán mà cha ông để lại. Việc



30



nghiên cứu này sẽ giúp khái quát được thực trạng khớp cắn và chen chúc

răng từ đó đưa ra khuyến nghị phù hợp.



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Trẻ 12 tuổi người dân tộc Thái, đang sinh sống tại tỉnh Sơn La.

* Tiêu chuẩn chọn: Có đầy đủ các tiêu chí sau

+ Tuổi: 12 tuổi.Sinh từ 1/1/2005 đến 31/12/2005.

+ Có bố mẹ, ơng bà nội ngoại là người Việt Nam và thuộc dân tộc Thái,

đang sinh sống tại Sơn La.

+ Đã thay hết răng sữa và mọc đủ 24 răng vĩnh viễn (kể cả răng hàm lớn

thứ 2).

+ Chưa điều trị nắn chỉnh răng và các phẫu thuật tạo hình hàm mặt.

+ Khơng có dị dạng hàm mặt, khơng có tiền sử chấn thương.

+ Tự nguyện hợp tác tham gia nghiên cứu với sự đồng ý của phụ huynh

học sinh.

* Tiêu chuẩn loại trừ: Khi có một trong các tiêu chí sau

+ Mất răng hàm lớn thứ nhất (một bên hoặc hai bên).

+ Có phục hình, hoặc tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiều gần

xa của răng.

+ Đang mắc các bệnh cấp tính tồn thân hoặc răng miệng.

+ Không đủ thông tin hồ sơ, bệnh án.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1. Thời gian

Từ tháng 6/2017 đến tháng 9/2018.

2.2.2. Địa điểm

Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt, Trường



31



Đại học Y Hà Nội, và tỉnh Sơn La.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

* Cỡ mẫu nghiên cứu:

Áp dụng cơng thức tính cỡ mẫu ước tính 1 giá trị trung bìnhtrong quần thể:



Trong đó:

- n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu.

- (1) Sai sót loại I (α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội

rút ra một kết luận dương tính giả, Zα = 1,96.

- (2) Sai sót loại II (β) hoặc lực mẫu (power là 1 - β): Chọn β = 0,1

(hoặc lực mẫu = 0,9), tương ứng có 90% cơ hội tránh được một kết luận âm

tính giả, Zβ= 1,28.

- : độ lệch chuẩn. Hiện chưa có nghiên cứu đánh giá nhân trắc đầu mặt

của trẻ em dân tộc Thái 12 tuổi, nên dựa vào nghiên cứu của Lê Đức Lánh

(2002) [22] khi đo kích thước rộng cung răng hàm trên (R66) ở nam giới có kết

quả là: X ± s = 55,1± 2,6 (mm).

- : là sai số mong muốn (cùng đơn vị với  mm).

: là sai số mong muốn (cùng đơn vị với ), ước tính 0,31 mm.Thay

vào cơng thức trên, chúng tơi tính được cỡ mẫu cần nghiên cứu là:

n = (1,96 + 1,28)2 * 2,62/0,312 = 738 người.

Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra là 738 trẻ. Trên thực tế trong

quá trình nghiên cứu khi triển khai cùng với đề tài cấp Nhà nước “Nghiên



32



cứu nhân trắc đầu mặt của người Việt Nam ứng dụng trong y học” chúng tôi

đã nghiên cứu trên 771 trẻ 12 tuổi dân tộc Thái tại Sơn La thỏa mãn tiêu

chuẩn nghiên cứu, điều này đảm bảo bộ số liệu có đủ độ tin cậy và chính xác.

* Phương pháp chọn mẫu:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo tiêu chuẩn đặt ra và

lấy ở các trường học trung học cơ sở tại Sơn La.

 Bước 1: Lựa chọn chủ đích các trường Trung học cơ sở tại tỉnh Sơn La là

vùng có học sinh 12 tuổi dân tộc Thái sinh sống với mật độ cao.

Tại Sơn La, chọn các trường: Trung học cơ sở Chiềng Sinh, Quyết Tâm,

Chiềng Cọ, Chiềng Mung, Hua La, Chiềng Ban, Chiềng Mai, Chiềng An,

Chiềng Xôm, Chiềng Ngần và Chiềng Đen.

Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu. Lên danh sách toàn bộ học sinh

đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Lập khung mẫu. Chọn cỡ mẫu theo kích thước

quần thể, nơi đơng người thì chọn nhiều và ngược lại.

2.3.3. Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu

- Dụng cụ nha khoa thông thường: Gương, gắp, thám trâm, trong khay

khám vô trùng, compa, thước đo tiêu chuẩn.

- Thước cặp điện tử Mitutoyo CD-6”CSX.

- Vật liệu lấy dấu và sáp cắn:Chất lấy dấu (Alginate), thìa lấy dấu, sáp

lá mỏng, đèn cồn, thạch cao siêu cứng, bát cao su, bay đánh chất dấu khn

và thạch cao đá.



33



Hình 2.1. Bộ dụng cụ lấy dấu, đỡ mẫu, đo đạc



Hình 2.2. Thước cặp điện tử Mitutoyo CD-6”CSX

2.4. Các bước nghiên cứu

- Bước đầu: Tập huấn các phương pháp thu thập số liệu, lập danh sách

đối tượng nghiên cứu, khám sàng lọc, lấy mẫu hàm, đổ mẫu, đo đạc chỉ số,

nhập số liệu.

- Bước 1: Lập danh sách trẻ em 12 tuổi tham gia khám sàng lọc cho

nghiên cứu.

- Bước 2: Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu.

- Bước 3: Tiến hành lấy mẫu hàm và đổ mẫu bằng thạch cao.

- Bước 4: Đo đạc các chỉ số trên mẫu hàm thạch cao.

- Bước 5: Nhập, làm sạch và xử lý số liệu bằng phần mềm theo chương

trình đề tài nhà nước.

- Bước 6: Viết luận văn.

2.4.1. Lập danh sách trẻ em 12 tuổi

Lập danh sách học sinh theo lớp, xác minh lý lịch, chọn những học

sinh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.

2.4.2. Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu

Khám sàng lọc, chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn, lên danh sách.

+ Khám ngoài miệng:

Sự cân đối, hài hồ của khn mặt, dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt.

+ Khám trong miệng:

Xác định tình trạng các răng: răng sâu, răng vỡ, răng thừa, răng dị dạng,



34



răng đã phục hình.

2.4.3. Các bước tiến hành lấy dấu, đổ mẫu

* Thực hiện:

+ Thử thìa.

+ Lấy dấu: Lấy dấu hai hàm bằng alginate. Biên giới mặt ngoài cung hàm

là đến đáy ngách lợi, mặt trong đối với hàm dưới đến ranh giới giữa lợi và sàn

miệng, đằng sau tối thiểu đến phía xa răng hàm lớn thứ hai của mỗi cung hàm.

+ Đổ mẫu bằng thạch cao đá, đổ đế bằng thạch cao thường ngay sau khi lấy dấu.

+ Gỡ mẫu khi đã đông cứng.

+ Mài mẫu theo tiêu chuẩn của chỉnh hình răng mặt:

 Đế dày từ 3-4 cm, mặt phẳng đế song song với mặt phẳng cắn.

 Mặt sau vng góc với đường giữa sống hàm.

 Mặt bên tạo một góc 65º so với mặt sau và cách đường viền lợi 2-3mm.

 Hàm trên mặt trước mài thành 2 mặt tạo với mặt bên một góc 30º.

 Hàm dưới mặt trước mài tròn từ răng 3 bên này đến răng 3 bên

kia.



Hình 2.3. Mẫu hàm tiêu chuẩn

* Yêu cầu mẫu:

+ Mẫu không bị co.

+ Đủ đến răng hàm lớn thứ hai của mỗi hàm.

+ Mẫu không bị bọng, không vỡ, không gãy răng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tuy nhiên, độ chính xác của phân tích bằng số hoá được lâm sàng chấp nhận và có ưu điểm trong hiện tại và tương lai. Mẫu hàm số hoá có thể dần dần được tiêu chuẩn hoá ứng dụng trong chỉnh nha nhờ đặc tính lưu trữ tốt và tiết kiệm thời gian của nó.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×