Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết quả thị lực gần CKTĐ của chúng tôi tương đồng với kết quả của Carballo-Alvarez, J., và cộng sự (2015) khi đặt Fine Vision (Pod F) trên 44 mắt, kết quả thị lực gần sau chỉnh kính tối đa trung bình là 0,06 ± 0,1 logMAR [5]

Kết quả thị lực gần CKTĐ của chúng tôi tương đồng với kết quả của Carballo-Alvarez, J., và cộng sự (2015) khi đặt Fine Vision (Pod F) trên 44 mắt, kết quả thị lực gần sau chỉnh kính tối đa trung bình là 0,06 ± 0,1 logMAR [5]

Tải bản đầy đủ - 0trang

65



Như vậy có thể thấy phẫu thuật phaco đặt thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu

Fine Vision (Pod F), cho kết quả thị lực tốt ở cả ba khoảng cách khoảng cách

xa, gần và trung gian tại tất cả các thời điểm nghiên cứu.

4.2.2. Độ loạn thị sau phẫu thuật

Bảng 4.9. Độ loạn thị trung bình sau phẫu thuật trong các nghiên cứu

Tác giả



Độ loạn thị sau phẫu thuật

1 tuần

-0,41 ± 0,36

Reinaldo Cancino và

1 tháng

-0,36 ± 0,36

CS(2014) [50]

3 tháng

- 0,35 ± 0,35

1 tháng

-0,33 ± 0,21

Mojzis P (2014) [51]

3 tháng

-0,23 ± 0,19

1 tuần

-0,33 ± 0,21

Hà V Đông và

1 tháng

-0,28 ± 0,33

Cung H Sơn (2018)

3 tháng

- 0,28 ± 0,32

Sau phẫu thuật 1 tuần phần lớn bệnh nhân có độ loạn thị sinh lý dưới 0,5

D (71%), tại thời điểm 1 tháng có trên 80% bệnh nhân có độ loạn thị dưới

0,5D, độ loạn thị này ổn tại thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật.

Độ loạn thị trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi lần lượt là,

-0,33 ± 0,21, -0,28 ± 0,33, - 0,28 ± 0,32. Độ loạn thị này khá tương đồng với

kết quả độ loạn thị sau phẫu thuật của Mojzis P (2014). Tác giả này nghiên

cứu trên 60 mắt của 30 bệnh nhân, độ loạn thị tại thời điểm 1 tháng và 3 tháng

sau phẫu thuật lần lượt là -0,33 ± 0,21D, -0,23 ± 0,19D [51].

Trong nghiên cứu của Reinaldo Cancino và CS(2014) độ loạn thị trung

bình sau phẫu thuật tại thời điểm 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng lần lượt là -0,41 ± 0,36,

-0,36 ± 0,36, - 0,35 ± 0,35 [50]. Khi so sánh với kết quả của chúng tơi thì độ

loạn thị này cao hơn. Lý do là Reinaldo Cancino đã chọn những bệnh nhân có

độ loạn thị trước phẫu thuật nhỏ hơn 1,5D, trong khi chúng tơi chỉ lựa chọn

những bệnh nhân có độ loạn thị giác mạc nhỏ hơn 1D.

Khi so sánh với độ loạn thị trước phẫu thuật, chúng tôi thấy độ loạn thị

trung bình tại các thời điểm sau phẫu thuật giảm đáng kể so với trước phẫu



66



thuật, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Sự giảm độ loạn thị này

cũng góp phần làm tăng thị lực sau phẫu thuật.

4.2.3. Các biến chứng sau phẫu thuật

Bảng 4.10. Tỷ lệ xuất hiện các biến chứng sau mổ ở một số nghiên cứu

Tác giả



Năm



Địa điểm



Cỡ mẫu



Vũ Mạnh Hà[52]

Trần Thị Phương

Thu [53]



2014



Hà Giang

TP. Hồ

Chí Minh



Petrovic [54]



2013



100 mắt

1000 mắt

(938 BN)

268 mắt

(174 BN)

120 mắt

38 mắt

(34 BN)



2009



Mojzis P và CS[55] 2015

Hà Văn Đông và

2018

Cung H Sơn



Serbia

Anh

BV Mắt

TW



Tỷ lệ xuất hiện

biến chứng

Đục bao sau: 4%

Phù giác mạc: 3,0%

Lệch IOL: 1,0%

Lệch IOL: 15,67%

Đục bao sau: 3,3%

Lệch IOL: 10,5%

Đục bao sau: 2,6%



Tại thời điểm 3 tháng chúng tôi nghi nhận thấy có 10,5% mắt bị lệch trục

IOL mức độ ít sau mổ, 2,6% mắt bị đục bao sau độ 1, khơng gặp trường hợp

nào có biến chứng xuất huyết tiền phòng, phản ứng màng bồ đào, viêm mủ nội

nhãn, tăng nhãn áp hay phù hoàng điểm dạng nang.

Lệch thể thủy tinh nhân tạo cũng là một biến chứng cần được quan

tâm, do có ảnh hưởng nhiều hơn đến thị lực sau phẫu thuật so với thể thủy

tinh nhân tạo đơn tiêu cự. Khi khám lại người bệnh với đồng tử giãn tối đa,

chúng tôi thấy hầu hết các trường hợp có thể thủy tinh nhân tạo nằm chính

tâm (89,5%), có 10,5% có lệch TTTNT nhưng ở mức độ ít, không phát hiện

được khi đồng tử không giãn và hầu như không gây ảnh hưởng đến kết quả

phẫu thuật. Tỷ lệ này thấp hơn với nghiên cứu của Petrovic (2014) với tỷ lệ

lệch thể thủy tinh nhân tạo là 15,67% [54]. Nguyên nhân có thể là do nghiên

cứu của Petrovic tiến hành trên nhóm bệnh nhân bị viêm màng bồ đào, nên tỷ

lệ xuất hiện biến chứng lệch TTTNT sau mổ nhiều.



67



Đục bao sau là một trong những biến chứng hay gặp sau phẫu thuật

phaco đặt IOL. Tỷ lệ biến chứng đục bao sau trong nghiên cứu cua chúng tôi

khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của Mojzis P và cộng sự năm 2015

nghiên cứu phẫu thuật trên 120 mắt của 60 người bệnh đặt ATLISA Tri

839MP, khi theo dõi sau phẫu thuật 1 năm có 4 mắt (3,3%) bị đục bao sau có

chỉ định mở bao sau bằng laser YAG [55], tuy nhiên mức độ đục bao sau của

chúng tôi chỉ là độ 1 không cần can thiệp laser. Tỷ lệ đục bao sau trong

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn khi so sánh với kết quả nghiên cứu của Vũ

Mạnh Hà, với tỷ lệ đục bao sau là 4% [52].

Các biến chứng sớm sau phẫu thuật đặc biệt là phù giác mạc, rất hay gặp

trong nhóm bệnh nhân đục nhân độ 5, do có thời gian phaco kéo dài hơn,

năng lượng phaco cao hơn những bệnh nhân khác [56]. Tuy nhiên trong

nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện được bất cứ trường hợp nào biến

chứng sớm sau phẫu thuật. Nguyên nhân có thể do cỡ mẫu của chúng tôi

không lớn, bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ, tuân thủ đúng phác đồ điều trị

cả trước trong và sau phẫu thuật, mặt khác tất cả các BN trong nghiên cứu của

chúng tôi đều được thực hiện bởi cùng một phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm

do vậy xác xuất để sảy ra biến chứng là rất thấp.

Tóm lại, trong nghiên cứu phẫu thuật Phaco đặt kính nội nhãn đa tiêu cự

điều trị đục thể thủy tinh của chúng tôi, phần lớn bệnh nhân chỉ gặp phải các

biến chứng ở mức độ nhẹ, hầu như không ảnh hưởng tới kết quả phẫu thuật.

4.2.4. Kết quả sự hài lòng sau phẫu thuật

4.2.4.1. Theo 14 tiêu chí của VF-14 sau 3 tháng

Chất lượng thị giác tốt giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, điều mà tất

cả các BN nói chung và các BN phẫu thuật đục TTT nói riêng hằng mong mỏi.

Ngày nay với sự ra đời của TTTNT đa tiêu cự, đã khiến cho phẫu thuật

Phaco khơng còn đơn thuần chỉ là mang lại phần ánh sáng mất do đục TTT,



68



mà còn là một phẫu thuật khúc xạ mang lại ánh sáng, chất lượng thị giác và

chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh.

Điểm đánh giá khả năng thực hiện công việc sinh hoạt hàng ngày của BN

sau phẫu thuật khá cao, 100% BN có điểm thực hiện cơng việc từ 80 đến 100

điểm, 78,9% BN có điểm thực hiện công việc từ 90 điểm trở lên. Điểm trung

bình khả năng thực hiện cơng việc là 93,5 ± 4,2. Kết quả nghiên cứu này khá

tương đồng với kết quả của nhiều nghiên cứu khác như của Trần Tất Thắng và

cộng sự (2018) trên 119 mắt cho kết quả khả năng thực hiện công việc đều trên

80 điểm [46]. Kết quả nghiên cứu của Jan A. Venter (2012) tại London, Anh

với 85,7% BN sau phẫu thuật đã cải thiện rõ rệt về khả năng thực hiện các công

việc như đọc sách báo, xem tivi,… kể cả đọc chữ in nhỏ [57].

Qua những phân tích và so sánh ở trên có thể thấy rằng, phẫu thuật

Phaco với nhiều ưu điểm vượt trội cùng với TTT đa tiêu cự đã mang lại thị

lực tốt cho BN ở cả ba khoảng cách nhìn gần, xa và trung gian. Điều này giúp

BN thuận lợi hơn trong thực hiện các công việc, sinh hoạt hằng ngày và từ đó

nâng cao chất lượng cuộc sống.

4.2.4.2. Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Bệnh đục TTT là nguyên nhân hàng đầu gây ra mù lòa và giảm chất

lượng cuộc sống. Việc điều trị bệnh này cho dù theo phương pháp nào thì mục

đích cuối cùng vẫn là đem lại sự hài lòng nhiều nhất cho BN. Gần đây với sự

ra đời của TTTNT đa tiêu cự Fine Vision (Pod F) đã giúp không chỉ mang lại

ánh sáng mà còn giúp cho BN nhìn tốt ở cả ba khoảng cách xa, gần và trung

gian, chất lượng thị giác cũng như chất lượng cuộc sống được tăng lên, điều

này làm cho BN rất hài lòng sau phẫu thuật.

Bảng 4.11. Mức độ hài lòng của BN trong một số nghiên cứu

Tác giả



Năm Địa điểm



Cỡ mẫu



Mức độ hài lòng

Rất hài Hài khơn



69



lòng

Vryghem JC và CS [30] 2013

Nghiêm Mai

2015

Phương[47]

Daniel H Chang [58]

Javier Mendicute



2016

2016



và CS [59]

Nienke Visser[60]



2011



lòng g hài



lòng

Hoa kỳ 50 mắt(25 BN) 100% (nhìn xa) 0%

36 mắt

Việt Nam

96,6%

3,4%

(34 BN)

Hoa Kỳ 32 mắt (16 mắt)

100%

0%

208 mắt

Hoa kỳ

90%

10%

(104BN)

Hà Lan 45 mắt(25BN)

95

5



Khi phỏng vấn BN về mức độ hài lòng sau phẫu thuật tại thời điểm 3

tháng chúng tôi thu được kết quả khả quan với 60,5% rất hài lòng, 34,3% hài

lòng và chỉ có 5,2% (2 người bệnh) khơng hài lòng. Kết quả này là cao và khá

tương đồng so với kết quả của một số tác giả trong và ngoài nước, như của tác

giả Javier Mendicute và CS (2016) với 90% BN cảm thấy hài lòng và rất hài

lòng sau phẫu thuật [59] hay của tác giả Nienke Visser (2011) với 95% BN cảm

thấy hài lòng và rất hài lòng [60] hay của Nghiêm Mai Phương (2015) với tỷ lệ

hài lòng và rất hài lòng sau phẫu thuật là 96,6% [47] . Tuy nhiên khi so với kết

quả nghiên cứu của một số tác giả khác như Daniel H Chang và cộng sự (2016)

hay của Vryghem JC và CS (2013) thì kết quả về tỷ lệ hài lòng trong nghiên

cứu của chúng tơi thấp hơn. Nghiên cứu của Daniel H Chang và cộng sự thực

hiện trên 44 mắt của 22 BN, nghiên cứu của Vryghem JC và CS thực hiện trên

50 mắt của 25 BN tại Hoa Kỳ cho kết quả 100% BN đều hài lòng và rất hài

lòng sau phẫu thuật [58],[30]. Giải thích cho điều này là do trong nghiên cứu

của Daniel H Chang và cộng sự, tác giả đánh giá sự hài lòng của BN chỉ dựa

trên sự hài lòng về kết quả thị lực mà chưa đánh giá khách quan dựa trên bộ

câu hỏi về khả năng thực hiện cơng việc VF-14, còn trong nghiên cứu của

Vryghem JC và CS tác giả chỉ đánh sự hài lòng dựa trên thị lực ở khoảng cách

xa. Mặt khác trong nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ bệnh nhân dưới 40 tuổi

khá cao chiếm 23,3%. Nhóm tuổi này có những BN đặt ngưỡng về sự hài lòng



70



cao hơn những tiêu chí mà chúng tơi đặt ra, trong khi đó trong nhóm này có

một BN bị lệch TTT mức độ nhẹ và có một bệnh nhân đục bao sau độ I. Do đó

tỷ lệ BN hài lòng về kết quả phẫu thuật chưa đạt 100%.

4.2.5. Các cảm giác chủ quan: hiện tượng chói lóa, quầng sáng

Trong nghiên cứu của chúng tơi, đa số bệnh nhân đều không gặp phải

các tác dụng không mong muốn sau phẫu thuật. Có 10,5% mắt bị chói lóa

mức độ nhẹ và 5,3% mắt bị mức độ vừa. Có 15,8% mắt bị quầng sáng mức độ

nhẹ và 5,3% mắt bị mức độ vừa. Những hiện tượng trên xuất hiện không

thường xuyên, giảm dần theo thời gian, hầu như không ảnh hưởng tới đời

sống sinh hoạt và đã được tư vấn rõ từ trước phẫu thuật do vậy, không BN nào

cảm thấy lo lắng sau phẫu thuật. Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có

bệnh nhân nào bị hiện tượng quầng sáng, chói lóa mức độ nặng.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ BN bị hiện tượng quầng

sáng, chói lóa thấp hơn nhiều khi so sánh với tác giả Nghiêm Mai Phương

(2015), trong nghiên cứu này tác giả thống kê thấy tỷ lệ BN bị quầng sáng,

chói lóa mức độ vừa và nhẹ là 44,5% [47].

Trong nghiên cứu của Shimoda (2014) tại Brazil, nghiên cứu trên 34 mắt

của 17 BN, kết quả cho thấy 16,7% BN có hiện tượng chói lóa, 22,2% BN bị

hiện tượng quầng sáng sau phẫu thuật [61]. Kết quả này khá tương đồng với

kết quả nghiên cứu của cúng tôi.

Khi so sánh với một số tác giả nước ngồi khác, chúng tơi thấy kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Trong nghiên cứu của Mojzis P và cộng sự

(2014) đã đưa ra kết quả có 10% người bệnh có quầng sáng và 10% người

bệnh có hiện tượng chói lóa. Tuy nhiên các hiện tượng trên đều có sự cải thiện

giảm đi theo thời gian [51].

Nghiên cứu của Bissen - Miyajima (2015) trên 128 mắt của 64 bệnh

nhân tại Nhật Bản tại thời điểm 1 năm sau phẫu thuật cho kết quả, hiện tượng



71



quầng sáng và chói lóa chỉ chiếm 4,8% [62]. Nguyên nhân có sự khác biệt

trên, là do nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu của nghững tác giả trên

được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, có cỡ mẫu khác nhau, thể thủy tinh

nhân tạo khác nhau, thời gian đánh giá kết quả của chúng tôi là 3 tháng, trong

khi thời gian đánh giá kết quả của những tác giả trên là 6 tháng đến 1 năm.

Như vậy TTTNT đa tiêu Fine Vision (Pod F) với cấu trúc đặc biệt, bằng

sự thay đổi chiều cao của các bậc thang nhiễu xạ, lượng ánh sáng vào được

phân bố, điều chỉnh theo kích thước đồng tử, điều này làm giảm đáng kể hiện

tượng tán xạ ánh sáng, đó là lý do giải thích tại sao tỷ lệ BN bị hiện tượng

quầng sáng, chói lóa trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ thấp đặc biệt

khi so sánh với một số tác giả trong nước.

4.2.6. Độ nhạy cảm tương phản

Ở độ nhạy cảm tương phản 10%, thị lực của người bình thường sẽ giảm

dưới 3 dòng, nếu thị lực giảm trên 3 dòng chứng tỏ có giảm thị lực ở độ nhạy

cảm tương phản thấp ảnh hưởng đến khả năng nhìn trong điều kiện ánh sáng

kém. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tại thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật có

21,1% mắt có sự giảm thị lực trên 3 dòng giữa độ tương phản cao (100%) và độ

tương phản thấp (10%) trong điều kiện ánh sáng phòng, còn lại 78,9% mắt có

chênh lệch thị lực từ 3 dòng trở xuống. Kết quả này cũng khá tương đồng với kết

quả của tác giả Nghiêm Mai Phương, khi đánh giá 36 mắt đặt TTTNT đa tiêu

ATLISA Tri cho kết quả 19,4% bệnh nhân có giảm độ nhạy cảm tương phản, còn

lại 80,6% BN có độ nhạy cảm tương phản bình thường [47].

4.3. BÀN LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KẾT QUẢ

PHẪU THUẬT

4.3.1. Ảnh hưởng của tuổi đến kết quả phẫu thuật

4.3.1.1. Ảnh hưởng của tuổi đến thị lực



72



Trong nghiên cứu của chúng tơi, yếu tố tuổi có ảnh hưởng đến thị lực xa

chưa chỉnh kính và thị lực xa chỉnh kính tối đa với mức ý nghĩa thống kê p

lần lượt là 0,04 và 0,02 nhưng không ảnh hưởng đến thị lực trung gian và thị

lực gần với mức ý nghĩa thống kê p > 0,05. Trong đó, nhóm tuổi dưới 40 và

40 - 60 có thị lực xa chưa chỉnh kính và sau chỉnh kính tối đa tốt hơn nhóm

trên 60 tuổi. Điều này có thể là do tuổi càng cao thì càng hay gặp các vấn đề

về dịch kính võng mạc, sự lão hóa của các tế bào võng mạc có thể ảnh hưởng

đến thị lực, mặc dù các BN đưa vào mẫu đều được lựa chọn nghiêm ngặt thỏa

mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.

Tuổi không ảnh hưởng tới thị lực trung gian và gần bởi vì đồng tử nhỏ

cho thị lực ở khoảng cách gần, trung gian tốt hơn đồng tử có kích thước lớn.

Trong khi đó nhóm tuổi trên 60 thường có kích thước đồng tử nhỏ hơn so với

nhóm tuổi trẻ [63]. Do vậy sau khi đặt TTTNT những BN có tuổi trên 60 có

thị lực xa có thể kém nhưng thị lực trung gian và gần vẫn tốt.

4.3.1.2. Cảm giác chủ quan: hiện tượng chói lóa, quầng sáng

Tuổi ảnh hưởng đến hiện tượng chói lóa và quầng sáng với mức ý nghĩa

p = 0,012 và 0,04. Trong nghiên cứu của chúng tơi 100% BN nhóm tuổi trên

60 gặp hiện tượng quầng sáng, chói lóa. Đây cũng là một tác dụng không

mong muốn khá hay gặp ở những bệnh nhân đặt TTTNT ba tiêu cự [47].

4.3.1.3. Ảnh hưởng của tuổi đến độ nhạy cảm tương phản

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy tuổi có liên quan đến độ nhạy

cảm tương phản với p < 0,001. Nhóm tuổi trên 60 có độ nhạy cảm tương

phản giảm hơn so với nhóm tuổi từ 60 trở xuống. Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Jesus Carballo - Alvarez

và cộng sự (2015) trên 44 mắt của 22 người bệnh, có tuổi trung bình là 68,4 ±

5,5 cũng chỉ ra rằng độ nhạy cảm tương phản phụ thuộc tuổi, tuổi càng cao thì

độ nhạy cảm tương phản càng giảm [5].



73



4.3.2. Kích thước đồng tử và kết quả phẫu thuật

4.3.2.1. Thị lực

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa kích thước đồng tử

của người bệnh và thị lực nhìn gần và trung gian nhưng khơng có mối liên

quan tới thị lực xa chỉnh kính tối đa và chưa chỉnh kính với mức ý nghĩa

thống kê p > 0,05. Nhóm kích thước đồng tử dưới 3 mm cho thị lực gần và

trung gian tốt hơn nhóm kích thước đồng tử từ 3,0 mm trở lên. Kết quả này có

phần tương đồng với kết quả nghiên cứu của Salatic (2007) [37].

4.3.2.2. Kích thước đồng tử và hiện tượng quầng sáng chói lóa

Kích thước đồng tử liên quan đến hiện tượng quầng sáng hay chói

(p < 0,05). Trong nghiên cứu của chúng tôi những mắt có đồng tử lớn thường

hay sảy ra hiện tượng quầng sáng hơn là những mắt có kích thước đồng tử nhỏ.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của

Hayashi K, Hayashi H, Nakao F, và cs (2011). Trong nghiên cứu này tác giả

cũng nhận thấy những bệnh nhân thuộc nhóm có kích thước đồng tử nhỏ có tỷ lệ

BN phàn nàn về hiện tượng quầng sáng, chói lóa thấp hơn những BN thuộc

nhóm có kích thước đồng tử lớn [35].

4.3.2.3. Kích thước đồng tử và độ nhạy cảm tương phản

Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước đồng tử liên quan đến độ nhạy

cảm tương phản (p = 0,035). Nhóm có kích thước đồng tử lớn có độ nhạy cảm

tương phản kém hơn nhóm kích thước đồng tử nhỏ. Nghiên cứu của chúng tơi

đánh giá độ nhạy cảm tương phản ở khoảng cách trung gian 63 cm, mà ở

khoảng cách này, năng lượng cung cấp cho nhìn trung gian sẽ giảm nếu đồng

tử giãn đó là lý do giải thích tại sao độ nhạy cảm tương phản kém hơn nhóm

có kích thước đồng tử lớn. Kết quả này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu

của Alfolso (2007) [64].



74



Vậy để bệnh nhân có thể nhìn gần và trung gian tốt hơn ở cả điều kiện độ

nhạy cảm tương phản thấp, bệnh nhân nên làm các công việc như may vá, đọc

sách dưới ánh đèn sáng. Đây cũng chính là lời khun của chúng tơi cho BN

sau phẫu thuật để có một kết quả thị lực nhìn gần và trung gian tốt hơn.

4.3.3. Ảnh hưởng của độ loạn thị giác mạc sau phẫu thuật đến kết quả

phẫu thuật

4.3.3.1. Ảnh hưởng của độ loạn thị giác mạc sau phẫu thuật đến thị lực sau

phẫu thuật

Loạn thị sau mổ gây ảnh hưởng nhiều đến thị lực của bệnh nhân sau

mổ. Bệnh nhân sẽ không được cải thiện nhiều thị lực ở cả 3 khoảng cách

nhìn gần, xa, nhìn trung gian và phải lệ thuộc nhiều vào kính đeo. Một số

nghiên cứu trước đây chỉ tập trung tìm hiểu về sự khác biệt giữa độ loạn thị

do phẫu thuật đục TTT theo các phương pháp phẫu thuật khác nhau mà ít

nghiên cứu về ảnh hưởng của loạn thị đến kết quả phẫu thuật, như trong

nghiên cứu Krarup T (2014) nghiên cứu các tật khúc xạ trong phẫu thuật TTT

laser hỗ trợ so với phẫu thuật Phaco thông thường [65].

Nghiên cứu của chúng tơi cũng có tiêu chuẩn lựa chọn là những mắt có

loạn thị giác mạc dưới 1 D, cùng với việc sử dụng đường mổ 2,2 mm, loạn thị

do phẫu thuật thấp và thời gian ổn định nhanh hơn [66], nên đa số đối tượng

nghiên cứu của chúng tơi có độ loạn thị sau phẫu thuật thấp dưới 0,5 D. Tuy

nhiên, chúng tôi thấy độ loạn thị sau phẫu thuật vẫn ảnh hưởng đến kết quả thị

lực xa, gần, trung gian CCK với mức ý nghĩa thống kê (p < 0,05), loạn thị càng

cao thì thị lực càng giảm.

4.3.3.2. Ảnh hưởng của độ loạn thị giác mạc sau phẫu thuật đến hiện

tượng chói lóa



75



Trong nghiên cứu của chúng tơi loạn thị khơng ảnh hưởng đến hiện tượng

chói lóa có ý nghĩa thống kê với p = 0,15. Kết quả này khác với nghiên cứu của

Agarwal (2012), sau phẫu thuật đặt kính đa tiêu có nhiều yếu tố làm tăng hiện

tượng chói lóa như mắt khơng chính thị, đồng tử bất thường, lệch kính nội nhãn,

đục bao sau nhưng loạn thị trên 1,0 D là yếu tố đầu tiên hay gặp, chiếm tỷ lệ cao

[67]. Nguyên nhân có thể là do trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn BN có

độ loạn thị sau mổ rất thấp trong giới hạn sinh lý nên khó có thể kiểm tra được

mối liên quan giữa độ loạn thị và hiện tượng chói lóa. Đây cũng chính là một

điểm đáng lưu ý với những nghiên cứu sau này có thể tập trung nghiên cứu sâu

hơn về mối liên quan giữa độ loạn thị và hiện tượng chói lóa sau phẫu thuật

Phaco đặt TTTNT đa tiêu cự điều trị đục thể thủy tinh cho bệnh nhân.

4.3.3.3. Ảnh hưởng của độ loạn thị giác mạc sau phẫu thuật đến độ nhạy

cảm tương phản

Chúng tôi thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa độ nhạy cảm

tương phản và độ loạn thị giác mạc sau phẫu thuật (p = 0,02), độ loạn thị

giác mạc thấp dưới 0,5 D thì độ nhạy cảm tương phản tốt hơn.

Như vậy, độ loạn thị sau phẫu thuật là một trong những yếu tố quan

trọng nhất có ảnh hưởng tới thị lực và độ nhạy cảm tương phản, từ đó ảnh

hưởng tới chất lượng thị giác và sự hài lòng của người bệnh khi đặt thể thủy

tinh nhân tạo đa tiêu cự, kết quả này cũng tương đồng với kết quả của tác giả

Park CY và cộng sự (2011) [68].

4.3.4. Ảnh hưởng của vị trí thể thủy tinh nhân tạo tới kết quả phẫu thuật

4.3.4.1. Ảnh hưởng của vị trí thể thủy tinh nhân tạo tới thị lực sau phẫu thuật

Ngày nay với sự phát triển của những trang thiết bị phẫu thuật hiện đại,

cùng với trình độ chuyên môn của bác sỹ được nâng cao biến chứng lệch IOL

có tỷ lệ thấp, tùy theo mức độ lệch mà ảnh hưởng tới thị lực ở các mức độ

khác nhau, lệch IOL nhiều có thể dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng về



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả thị lực gần CKTĐ của chúng tôi tương đồng với kết quả của Carballo-Alvarez, J., và cộng sự (2015) khi đặt Fine Vision (Pod F) trên 44 mắt, kết quả thị lực gần sau chỉnh kính tối đa trung bình là 0,06 ± 0,1 logMAR [5]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×