Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sau phẫu thuật phaco đặt thể thủy tinh nhân tạo, đặc biệt là TTTNT đa tiêu Fine Vision, người bệnh luôn chờ đợi một kết quả tốt về mặt chức năng thị giác như thị lực ở các khoảng cách khác nhau, giảm sự phụ thuộc vào kính sau phẫu thuật, độ nhạy cảm tương

Sau phẫu thuật phaco đặt thể thủy tinh nhân tạo, đặc biệt là TTTNT đa tiêu Fine Vision, người bệnh luôn chờ đợi một kết quả tốt về mặt chức năng thị giác như thị lực ở các khoảng cách khác nhau, giảm sự phụ thuộc vào kính sau phẫu thuật, độ nhạy cảm tương

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



 Những yếu tố ảnh hưởng đến thị lực xa

 Tật khúc xạ: viễn thị trung bình và nặng, cận thị, loạn thị.

 Các bệnh lý ở mắt: đục các môi trường trong suốt (sẹo giác mạc, đục

thể thủy tinh, đục dịch kính), bệnh lý viêm màng bồ đào, bong võng

mạc, bệnh lý hoàng điểm, gai thị…

1.4.1.2. Thị lực trung gian

 Khái niệm:

Thị lực trung gian là thị lực xấp xỉ chiều dài cánh tay, thường được đo ở

khoảng cách như 50 cm, 63 cm, 70 cm, 80 cm, 100 cm và thị lực được sử

dụng trong các nhiệm vụ như làm máy vi tính, cắt tóc, cạo râu, đọc bản nhạc

khi chơi đàn piano, violon…

 Bảng thử: Bảng thị lực Snellen ở khoảng cách 63 cm, 80cm, 100 cm.



 Những yếu tố ảnh hưởng thị lực trung gian:

 Tật khúc xạ: viễn thị nặng, cận thị trung bình và nặng, loạn thị.

 Các bệnh lý ở mắt: đục các môi trường trong suốt (sẹo giác mạc, đục

thể thủy tinh, đục dịch kính), bệnh lý viêm màng bồ đào, bong võng

mạc, bệnh lý hoàng điểm, gai thị…

1.4.1.3. Thị lực gần

 Khái niệm:

Thị lực gần là thị lực cho các công việc nhìn gần như đọc sách báo, khâu

vá, sửa chữa đồ điện tử…và thường được đo ở khoảng cách từ 30 cm đến 40 cm.



 Bảng thử

 Các bảng thử thị lực gần cũng như các bảng thị lực xa, chỉ khác là các

chữ thử có kích thước nhỏ hơn hoặc có các đoạn câu chữ kích thước

khác nhau, khơng phải các dòng chữ đơn.



14



 Bảng có thể dùng phân số Snellen hoặc dùng thang điểm “N”, “G” hoặc

thang điểm Jaeger hoặc logMAR được thiết kế ở các khoảng cách

khoảng 30 cm hay 40 cm.

 Bình thường:

Tùy thuộc nhu cầu nhìn gần của mỗi người, thơng thường để đọc sách

báo chữ cỡ lớn chỉ cần đến N8 hoặc G7. Nếu đọc sách báo cỡ chữ nhỏ hơn

cần đến N5 hoặc G6 – G5. Nếu thị lực trên N5 hoặc từ G4-G1 là chữ quá nhỏ

phù hợp với những người làm nghề như dược sỹ, sửa chữa đồ điện tử tinh vi.



 Những yếu tố ảnh hưởng đến thị lực gần

 Sinh lý: lão thị

 Tật khúc xạ: Viễn thị trung bình, nặng, cận thị nặng, loạn thị vừa và nặng.

 Bệnh lý khác: Thiểu năng điều tiết, đục TTT dưới bao sau.

 Các bệnh lý hoàng điểm: Phù hoàng điểm dạng nang, thối hóa hồng

điểm tuổi già.

1.4.2. Độ nhạy cảm tương phản



 Khái niệm

 Sự thay đổi độ sáng của một vật có thể biểu thị bằng một lượng được

gọi là tương phản.

 Một vật tiêu gồm các chữ được in bằng mực đen tuyệt đối (tức là hồn

tồn khơng có phản xạ) trên giấy trắng (tức là phản xạ 100%) sẽ có

tương phản 100%.



 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy cảm tương phản

- Bệnh lý gai thị gây biến đổi, phù giác mạc.

- Bệnh lý võng mạc, thị thần kinh, glôcôm…

- Sau phẫu thuật Lasik, hay những phẫu thuật khúc xạ khác.

- Trên thực tế, một số người bệnh sau mổ thể thủy tinh, đặt thể thủy tinh

nhân tạo dù thị lực Snellen 20/20 vẫn có thể phàn nàn là nhìn mờ, đó là do giảm



15



độ nhạy cảm tương phản. Một số tác giả cũng đã so sánh độ nhạy cảm tương

phản giữa nhóm đặt TTTNT đơn tiêu cự và nhóm đặt TTTNT đa tiêu cự cho kết

quả nhóm đặt TTTNT đa tiêu cự có độ nhạy cảm tương phản thấp hơn nhóm đặt

TTTNT đơn tiêu cự, đặc biệt trong điều kiện ánh sáng yếu [17],[18],[19].

Có nhiều cách để đo độ nhạy cảm tương phản: Sử dụng bảng PelliRobson, bảng FACT, thử nghiệm tương phản CVS1000 (Vector Vision), bảng

Colenbrander…

1.4.3. Tác dụng không mong muốn

1.4.3.1. Hiện tượng quầng sáng, chói lóa

Hiện tượng quầng sáng, chói lóa hay đi song hành cùng nhau. Đó là sự xuất

hiện vòng tròn xung quanh nguồn sáng và sự khó nhìn khi gặp ánh sáng mạnh.

Sau khi đặt thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự, người bệnh có thể có hiện

tượng quầng sáng, chói lóa, thường xuất hiện vào buổi tối, khi gặp ánh sáng

mạnh, là do ánh sáng tới bị chia vào hai hay nhiều tiêu điểm khác nhau [20].



Hình 1.4. Hình ảnh quầng sáng chói lóa

Nguồn (http://aboptica.es/)

1.4.3.2. Đục bao sau

Trong phẫu thuật lấy thể thủy tinh, dù bằng phương pháp nào người ta

cũng không thể lấy hết được tất các tế bào biểu mơ thể thủy tinh mà vẫn còn

một số lượng nhất định các tế bào này sót lại ở vùng xích đạo thể thủy tinh và

dưới viền bao trước. Chính những tế bào biểu mơ thể thủy tinh còn sót lại ở

túi bao đã tăng sinh và là nguyên nhân dẫn đến đục bao sau.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đục bao sau, bao gồm yếu tố kỹ thuật lấy



16



thể thủy tinh đặt TTTNT, cấu tạo và kiểu dáng của TTTNT.

Trong phẫu thuật Phaco quá trình rửa hút chất TTT được thực hiện bởi

một bơm tự động trong máy, khi rửa hút chất vỏ TTT sẽ dễ dàng tách ra khỏi

thành túi bao, do đó việc rửa hút đạt kết quả tốt, cũng có tác dụng giảm bớt tỷ

lệ đục bao sau.

Về cấu tạo cũng giống như đa số các thể thủy tinh nhân tạo khác, người

ta thấy rằng TTTNT Fine Vision ít có nguy cơ đục bao sau do:

+ Có thiết kế 4 càng góc càng 5°, giúp tăng khả năng dính mạnh với bao

sau của TTTNT, hiện tượng này có tác dụng ngăn chặn sự di cư của tế bào

biểu mô lan tới bề mặt bao sau thể thủy tinh.

+ Đường kính phần quang học (optic) khá dài 6.11mm, đường kính này

càng lớn càng có tác dụng ức chế đục bao sau do diện tích tiếp xúc giữa

TTTNT với bao sau lớn hơn tạo ra được rào chắn rộng hơn có tác dụng ngăn

cản sự di cư tế bào biểu mô thể thủy tinh ra sau.

Khi so sánh tỷ lệ đục bao sau ở hai nhóm người bệnh đặt thể thủy tinh

nhân tạo đơn tiêu cự và thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự có thiết kế tương tự

nhau, Shah VC và cộng sự (2010) thấy kết quả theo dõi 22 tháng sau phẫu thuật

có 15,49% nhóm đặt TTTNT đa tiêu cự và 5,82% nhóm đặt TTTNT đơn tiêu cự

(p = 0,0014) bị đục bao sau có chỉ định mở bao sau bằng laser YAG, thời gian

xuất hiện đục bao sau trung bình ở nhóm đa tiêu cự là 8,8 tháng và nhóm đơn

tiêu cự là 10,4 tháng (p = 0,559) [21].

1.4.4. Sự hài lòng của người bệnh

Sự hài lòng của người bệnh là cảm giác đạt được kết quả sau phẫu thuật

như mong đợi hoặc trên cả sự mong đợi của người bệnh.

Ngoài ra, để có cái nhìn chính xác và khách quan hơn về hiệu quả phẫu

thuật, một số nghiên cứu đã sử dụng bộ câu hỏi VF-14, là bộ câu hỏi đánh giá

chức năng thị giác trong các hoạt động thường ngày với độ tin cậy cao [22].



17



1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

1.5.1. Sai số trong tính cơng śt thể thủy tinh nhân tạo

- Sai số trong đo khúc xạ giác mạc  Để tránh sai số:

+ Luôn đo hai mắt, Sử dụng máy IOL master để đo

+ Đo nhiều lần khi công suất giác mạc trung bình < 40 D hoặc > 47 D

hoặc có sự khác nhau giữa hai mắt > 1 D.

- Sai số trong đo chiều dài trục nhãn cầu  Khắc phục bằng cách:

+ Đo chiều dài trục nhãn cầu bằng máy siêu âm Lenstar.

+ Luôn đo hai mắt.

- Đo nhiều lần khi chiều dài trục nhãn cầu < 22 mm hoặc > 25 mm, khác

nhau giữa hai mắt > 0,3 mm.

- Lựa chọn cơng thức tính cơng suất TTTNT khơng phù hợp  Chọn

cơng thức tính phù hợp với từng trường hợp cụ thể:

+ Với chiều dài trục nhãn cầu trung bình, khơng có sự khác biệt rõ rệt về

kết quả tính tốn giữa các cơng thức.

+ Với trục nhãn cầu < 22 mm: Hoffer Q, Haigis, Holladay II.

+ Với trục nhãn cầu từ 24,5 mm đến 28 mm: SRK/T, Holladay, Haigis.

+ Với trục nhãn cầu > 28 mm: Holladay, Haigis.

1.5.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật mổ

1.5.2.1. Loạn thị do phẫu thuật

Loạn thị do phẫu thuật phụ thuộc chủ yếu vào vết mổ (độ rộng, độ sâu, vị

trí vết mổ…). Trước đây, khi tiến hành phẫu thuật thể thủy tinh ngoài bao, vết

mổ phải rộng từ 8 – 10 mm gây ra độ loạn thị khá cao. Kết quả nghiên cứu

của Ernest P.H và cộng sự năm 1994 trên 192 người bệnh phẫu thuật lấy TTT

ngoài bao cho thấy độ loạn thị do phẫu thuật sau 3 tháng là 3,08D [23]. Từ

khi phẫu thuật Phaco ra đời cùng với sự tiến bộ của công nghệ sản xuất



18



TTTNT cho phép phẫu thuật viên tạo đường rạch nhỏ hơn, không cần khâu

nên độ loạn thị do phẫu thuật cũng ít hơn. Loạn thị do vết mổ có từ rất sớm,

ngay ngày đầu sau mổ và giảm dần theo thời gian [24]. Kết quả nghiên cứu

của tác giả Khúc Thị Nhụn năm 2006 với đường rạch giác mạc bậc thang

3,2mm phía thái dương trên 232 mắt cho thấy độ loạn thị do giác mạc sau 1

tháng là 0,60D, sau 3 tháng là 0,48D và sau 6 tháng là 0,46D [25].

1.5.2.2. Kỹ thuật xé bao

Kỹ thuật xé bao cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả

phẫu thuật. Kỹ thuật xé bao liên tục, đồng tâm với đường kính xé bao lý

tưởng là 5 – 5,5mm sẽ giúp định tâm TTTNT tốt trong bao [26]. Kích thước

vòng xé bao phải nhỏ hơn kích thước phần quang học của TTTNT giúp ngăn

cản sự di cư của các tế bào biểu mô phát triển ra sau [27]. Ngược lại, đường

xé bao nhỏ sẽ để lại nhiều tế bào biểu mô ở bao trước thể thủy tinh, các tế bào

này tiếp tục sản sinh tạo ra hiện tượng xơ hóa của vòng bao trước và co kéo

túi bao thể thủy tinh sau phẫu thuật [28].

1.5.2.3. Vị trí thể thủy tinh nhân tạo

Sau phẫu thuật thể thủy tinh nhân tạo có thể ở 2 vị trí:

- Chính tâm

- Lệch tâm

1.5.3. Đặc điểm người bệnh liên quan đến kết quả phẫu thuật

- Độ cứng của nhân: Nhân càng cứng đòi hỏi năng lượng phaco cao,

nguy cơ phù giác mạc sau mổ càng lớn.

- Tình trạng loạn thị giác mạc trước mổ: Độ loạn thị giác mạc càng thấp

sẽ cho kết quả thị lực tốt hơn.



19



1.5.4. Ảnh hưởng của biến chứng sau phẫu thuật đến kết quả phẫu thuật

Sau phẫu thuật có thể gặp một số biến chứng sớm và muộn. Các biến

chứng sớm như là biến chứng giác mạc (viêm khía, phù giác mạc), phản

ứng màng bồ đào, lệch thể thủy tinh nhân tạo…

Biến chứng muộn hơn có thể gặp như phù, loạn dưỡng giác mạc, tăng

nhãn áp, viêm nội nhãn… thì nặng hơn, phải theo dõi điều trị kéo dài và làm

giảm thị lực nhiều sau phẫu thuật.



20



1.6. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGỒI NƯỚC

1.6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, đã có một số tác giả tiến hành nghiên cứu về loại thể thủy

tinh nhân tạo ba tiêu cự Fine Vision. Amy L. Sheppard và cộng sự (2013) đã

đặt TTTNT ba tiêu cự Fine Vision trên 30 mắt của 15 người bệnh, 3 tháng sau

phẫu thuật kết quả cho thấy bệnh nhân đặt được thị lực gần, xa, giống như thể

thủy tinh hai tiêu cự trong khi thị lực trung gian tốt hơn, đồng thời tỷ lệ bệnh

nhân phàn nàn về hiện tượng quầng sáng chói lóa cũng thấp [29].

Vryghem JC và cộng sự (2013) đã đặt TTTNT ba tiêu cự Fine Vision

trên 50 mắt của 25 người bệnh, 6 tháng sau phẫu thuật kết quả thị lực hai

mắt chưa chỉnh kính khi nhìn xa là -0,04 ± 0,09 logMAR, nhìn trung gian là

-0,10 ± 0,15 logMAR, nhìn gần là 0,02 ± 0,06 logMAR, và người bệnh rất hài

lòng với kết quả này [30].

Ramón Ruiz-Mesa và cộng sự (2017) đã tiến hành nghiên cứu 40 mắt

của 20 bệnh nhân, chia làm 2 nhóm. Nhóm 1 đặt thể thủy tinh nhân tạo Fine

Vision, nhóm 2 đặt thể thủy tinh nhân tạo Symfony. Kết quả cho thấy khơng

có sự khác biệt về thị lực nhìn xa và nhìn trung gian giữa hai nhóm (p > 0.05).

Tuy nhiên thị lực nhìn gần nhóm 1 là 0.06 ± 0.07 logMAR, nhóm 2 là

0.17 ± 0.06 logMAR sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0.05) [7]

1.6.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, các bác sỹ nhãn khoa Việt Nam đã đưa vào

sử dụng một số loại thể thủy tinh đa tiêu cự trong mổ phaco điều trị bệnh đục

TTT và cũng có một số cơng trình nghiên cứu về các loại thể thủy tinh nhân

tạo này [31],[32]. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại chúng tơi chưa tìm



21



thấy cơng trình nghiên cứu nào được cơng bố, đánh giá một cách đầy đủ và có

hệ thống về hiệu quả của thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu Fine Vision (Pod F).



22



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật Phaco đặt thể

thủy tinh nhân tạo Fine Vision (Pod F), đã được phẫu thuật tại khoa Đáy mắt

màng bồ đào – BV Mắt TW từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

 Bệnh nhân muốn nhìn tốt ở cả ba khoảng cách xa, gần, trung gian

nhằm giảm sự lệ thuộc vào kính sau phẫu thuật.

 Bệnh nhân có giác mạc trong.

 Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

* Tại mắt:

 Bệnh nhân có độ loạn thị giác mạc ≥ 1D.

 Có biến chứng trong phẫu thuật như rách bao sau, yếu dây zinn…

 Bệnh nhân có bệnh mắt khác (chấn thương, glơcơm, viêm màng bồ

đào, bong võng mạc, xuất huyết dịch kính…).

 Bệnh nhân đã dùng một loại TTTNT đơn tiêu ở mắt còn lại.

 Bệnh nhân đã có phẫu thuật mắt trước đó: phẫu thuật Lasik, phẫu thuật

dịch kính, võng mạc…

* Tồn thân:



23



 Bệnh nhân có bệnh tồn thân nặng khơng thể hợp tác trong quá trình

thăm khám và theo dõi: già yếu, rối loạn tâm thần…

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu không có nhóm chứng.

2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

 Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo cơng thức:

Trong đó:

n: Cỡ mẫu cần chọn

p: Tỷ lệ bệnh nhân có thị lực trung gian chưa chỉnh kính từ 20/25 trở lên

trong nghiên cứu của Cochener, B và CS (2012) [33]. Theo đó, p = 0.92.

: Sai số mong muốn tương đối, chọn  = 0,1

: Mức ý nghĩa thống kê = 0,05.

: Giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với được chọn, 1,96.

Tính ra: n ≈ 34

Chúng tơi chọn cơ mẫu cho nghiên cứu là 38

2.2.3. Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu có mục đích: Thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.

2.2.4. Phương tiện nghiên cứu

2.2.4.1. Phương tiện thăm khám

Bảng thị lực xa (6m), gần (40cm), trung gian (80cm) Snellen.

Bảng thử thị lực phối hợp độ nhạy cảm tương phản Colenbrander đánh

giá thị lực ở mức tương phản cao (100%) và thấp (10%) ở 80 cm.

Nhãn áp kế Goldmann. Máy sinh hiển vi đèn khe.

Máy siêu âm lenstar, máy IOL master.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sau phẫu thuật phaco đặt thể thủy tinh nhân tạo, đặc biệt là TTTNT đa tiêu Fine Vision, người bệnh luôn chờ đợi một kết quả tốt về mặt chức năng thị giác như thị lực ở các khoảng cách khác nhau, giảm sự phụ thuộc vào kính sau phẫu thuật, độ nhạy cảm tương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×