Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 3.19: Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển theo đáp ứng sau kết thúc điều trị

Biểu đồ 3.19: Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển theo đáp ứng sau kết thúc điều trị

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



3.3. Một số tác dụng không mong muốn

3.3.1. Tác dụng khơng mong muốn trên hệ tạo huyết

Bảng 3.18: Độc tính trên hệ tạo huyết

Chu

Chu

Chu

Chu

Chu

Chu

Chu

Chu

kỳ 1

kỳ 2

kỳ 3

kỳ 4

kỳ 5

kỳ 6

kỳ 7

kỳ 8

n=45 n=45 n=45 n=45 n=39 n=39 n=39 n=39

n % n % n % n % n % n % n % n %

Hạ huyết sắc tố

1

18 40 12 26,7 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

2



0



0



0



0



0



0 0



0



0



0



0



0



0



0



3

0 0 0

4

0 0 0

Hạ bạch cầu hạt

1

0 0 0



0

0



0

0



0

0



0

0



0 0

0 0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0



2 5,1



0



0



0



0



0



0



0



0



2



0



0



0



0



0



0



0



0 1 2,2



0



0



0



0 0



1



0



2,6 0



0



3

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

4

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

Hạ tiểu cầu

1

0 0 0

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

2

0 0 0

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

3

0 0 0

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1 2,6

4

0 0 0

0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

Nhận xét: Có 18% trường hợp hạ huyết sắc tố độ 1 trong chu kỳ truyền

đầu tiên và 26,7% trong chu kỳ 2, không ghi nhận thêm trường hợp nào hạ

huyết sắc tố độ 2,3,4 ở tất cả các chu kỳ.

Tỷ lệ hạ bạch cầu hạt độ 1 là hơn 7%, hạ bạch cầu hạt độ 2 chiếm

2,6%, khơng có bệnh nhân nào hạ bạch cầu hạt độ 3 và hạ độ 4.

Trong nghiên cứu chỉ ghi nhận 1 trường hợp chiếm 2,6% hạ tiểu cầu độ

3 ở chu kỳ 8.

3.3.2. Tác dụng không mong muốn trên hệ tiêu hóa

Bảng 3.19: Nơn, buồn nơn



56



Độ 0

Độ 1

Độ 2

Độ 3

Độ 4

Tổng



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu kỳ



kỳ 1

43



kỳ 2

38



kỳ 3

40



kỳ 4

42



kỳ 5

39



kỳ 6

39



kỳ 7

39



8

39



95,6% 84,4% 88,9% 93,7% 100%

0

3

2

3

0



100%

0



100%

0



100%

0



0%

2



6,7%

4



4,4%

3



6,3%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



4,4%

0



8,9%

0



6,7%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

45



0%

45



0%

45



0%

45



0%

39



0%

39



0%

39



0%

39



100%



100%



100%



100%



100%



100%



100%



100%



Nhận xét: Trong toàn bộ q trình truyền hóa chất có tổng gần 18%

bệnh nhân có nơn mức độ 1 và 2, khơng có bệnh nhân nào nôn độ 3,4.



57



Bảng 3.20: Tiêu chảy



Độ 0

Độ 1

Độ 2

Độ 3

Độ 4

Tổng



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



kỳ 1

42



kỳ 2

40



kỳ 3

42



kỳ 4

42



kỳ 5

38



kỳ 6

39



kỳ 7

39



kỳ 8

39



100%

0



100%

0



100%

0



93,4% 89,9% 93,4% 93,7% 97,4%

2

3

2

2

1

4,4%

1



6,7%

2



4,4%

1



4,4%

1



2,6%

0



0%

0



0%

0



0%

0



2,2%

0



4,4%

0



2,2%

0



2,2%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

0



0%

45



0%

45



0%

45



0%

45



0%

39



0%

39



0%

39



0%

39



100%



100%



100%



100%



100%



100%



100%



100%



Nhận xét: Từ chu kỳ 1 đến chu kỳ 5 tỷ lệ tiêu chảy độ 1 gặp nhiều nhất

là 6,7%; độ 2 là 4,4%; không có bệnh nhân tiêu chảy độ 3,4. Từ chu kỳ 6 đến

chu kỳ 8 khơng có bệnh nhân nào tiêu chảy.



3.3.3. Tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh

Bảng 3.21: Độc tính trên hệ thần kinh



58



Chu



Chu



Chu



Chu



kỳ 1

kỳ 2

kỳ 3

kỳ 4

n=45 n=45

n=45

n=45

n % n % n %

n %

Thần kinh ngoại vi

1

4 8,9 9 20 13 28,9 9 20

2



0



0



0



0



Chu



Chu



Chu



Chu



kỳ 5

n=39

n %



kỳ 6

n=39

n %



kỳ 7

n=39

n %



kỳ 8

n=39

n %



1 2,6 1 2,6



1 2,6



4



10,3



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



3

0 0 0 0 0

4

0 0 0 0 0

Hội chứng bàn tay-chân

1

2 4,4 3 6,7 2



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



2,6 1 2,6 1 2,6



4,4



2 4,4



1



2,6



1



1 2,2



0



0



0



0



0 0



0



0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0 0

0 0



0

0



0

0



2



1 2,2



2



4,4



1



2,2



3

4



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có viêm thần kinh ngoại vi cao nhất là 28,9% ở

độ 1 ở chu kỳ thứ 3, khơng có bệnh nhân nào ở độ 2,3,4. Kết quả ghi nhận có

37,8% bệnh nhân nói chung có hội chứng bàn tay-chân, trong đó chủ yếu là

độ 1,2. Khơng ghi nhận trường hợp nào độ 3,4.



3.3.4. Tác dụng không mong muốn trên mạch máu

Bảng 3.22: Tăng huyết áp



Độ 0

Độ 1



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



kỳ 1

44



kỳ 2

40



kỳ 3

4



kỳ 4

4



kỳ 5

38



kỳ 6

39



kỳ 7

39



kỳ 8

39



100%



100%



97,4%



0%



0%



0%



97,8% 88,9% 97,8% 97,8% 97,4%

1

4

1

1

1

2,2%



8,9%



2,2%



2,2%



2,6%



59



1



Độ 2



0%



Độ 3

Độ 4



0%

0%

45



2,2%

0%

0%

45



100%



100%



Tổng



0%



0%



0%



0%



0%



0%



0%

0%

45



0%

0%

45



0%

0%

39



0%

0%

39



0%

0%

39



0%

0%

39



100%



100%



100%



100%



100%



100%



Nhận xét: Gặp nhiều nhất là tăng huyết áp độ 1 chiếm tỷ lệ là 8,9% chu

kỳ 2, có 2,2% bệnh nhân tăng huyết áp độ 2 và không có bệnh nhân nào tăng

huyết áp độ 3,4.

Bảng 3.23: Mối liên quan giữa tăng huyết áp và tiền sử bệnh nhân

Tác dụng THA



khơng

5

2





Tiền sử THA

Khơng

Tổng



Tổng

7



71,4%

6



28,6%

32



100%

38



15,8%

11



84,2%

34



100%

45



24,4%

76,5%

100%

Test χ p = 0,02 < 0,05

Nhận xét: Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp sẽ có nguy cơ bị tăng

2



huyết áp cao hơn một cách có thống kê (p=0,02<0,05) so với những bệnh

nhân khơng có tiền sử này.

Khơng ghi nhận được trường hợp nào chịu tác dụng không mong muốn

là protein niệu, thủng tạng rỗng, xuất huyết và huyết khối.

3.3.5. Tác dụng không mong muốn trên gan, thận

Bảng 3.24: Tác dụng không mong muốn trên gan,thận

Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



Chu



kỳ 1

kỳ 2

kỳ 3

kỳ 4

kỳ 5

kỳ 6

kỳ 7

kỳ 8

n=45 n=45 n=45 n=45 n=39 n=39 n=39 n=39

n % n % n % n % n % n % n % n %

AST,ALT



60



1

0

2

0

3

0

4

0

Creatinin

1

0



0

0

0

0



1

1

0

0



2,2

2,2

0

0



1

0

0

0



2,2

0

0

0



0

0

0

0



0

0

0

0



0 0 1 2,6

0 0 0 0

1 2,6 0 0

0 0 0 0



0



0



0



0



0



0



0 0



0



0



0

0

0

0



0

0

0

0



0

0

0

0



0

0

0

0



0



0



0



0



0



2



0



0



0



0



0



0



0



0 0



0



0



0



0



0



0



0



3

4



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0 0

0 0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



0

0



Nhận xét: Đa số bệnh nhân khơng có độc tính trên gan biểu hiện là

tăng AST, ALT là 86,7%, độc tính này ở độ 1 là 8,9%; độ 2,3 là 2,2%. Không

gặp bệnh nhân nào có độc tính trên gan độ 4.

Khơng ghi nhận trường hợp nào độc tính trên thận.

Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư đại trực

tràng giai đoạn IV

4.1.1. Đặc điểm chung

* Tuổi, giới:

Tuổi: Là yếu tố quan trọng trong các nghiên cứu ung thư, nhiều tác giả

cho rằng độ tuổi phản ánh quá trình tiếp xúc với các tác nhân ung thư bên

cạnh đó với các bệnh ung thư phổ biến thì nghiên cứu về độ tuổi hay gặp giúp

đưa ra các khuyến cáo về phòng bệnh cho các bệnh nhân, Hiệp hội phòng

chống ung thư quốc tế (UICC) chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh UTĐTT đang tăng

dần theo tuổi, hơn 92% bệnh nhân UTĐTT có độ tuổi từ 50 trở lên [45]. Tác

giả Siegel RL đánh giá độ tuổi mắc ung thư đại trực tràng đang có xu hướng

tăng so với 2014, độ tuổi trên 50,60 tuổi tăng trên 23% [46]. Tuổi trung bình



61



của các bệnh nhân UTĐTT giai đoạn IV trong nghiên cứu của chúng tôi là

57,7 tuổi; nhỏ nhất là 28 tuổi và lớn nhất là 79 tuổi. Đây cũng là độ tuổi hay gặp

nhất của UTĐTT. Kết quả này tương đương với Đỗ Huyền Nga ghi nhận độ tuổi

trung bình trong nghiên cứu của mình là 56 tuổi [47], thấp hơn so với Nguyễn

Văn Hợp là 60,5 tuổi [48] và Leonard B. Slatz là 60 tuổi [49] nhưng cao hơn so

với tác giả Trần Thắng 52,5 tuổi [50]; Lê Đình Roanh là 51,8 tuổi [12].

Trong số 45 bệnh nhân của chúng tơi, nhóm tuổi từ 50-70 tuổi chiếm tỷ

lệ cao nhất 77,8%; kết quả này tương đồng với các tác giả: Trịnh Lê Huy có

67% bệnh từ 40-65 tuổi [16], Trương Văn Hợp ghi nhận có 88,2% bệnh nhân

trên 50 tuổi [48], Nguyễn Thị Hằng (2016) cũng ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân trên

40 tuổi chiếm 87% [51]. Tương tự, Alfred M. Cohen (1997) tỷ lệ UTĐTT ở

nhóm tuổi trên 50 chiếm 90 - 95% [52].

Giới: Nhìn chung trong UTĐTT tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn nữ. Tỷ lệ

nam mắc bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi là 62,2% cao hơn nữ là 37,8%

và nam/nữ là 1,65. Kết quả này cao hơn của các tác giả khác như Nguyễn Văn

Hợp nam/nữ là 1,04 [48]; Bùi Diệu ghi nhận tỷ lệ nam/nữ mắc UTĐTT nói

chung tại Việt Nam là 1,24 [53]. Tuy nhiên kết quả của chúng tôi thấp hơn

của Trịnh Lê Huy khi nghiên cứu về bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn IV

được điều trị bằng phác đồ FOLFOXIRI ghi nhận tỷ lệ này là 2/1 [16].

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng

4.1.2.1. Chỉ số toàn trạng trước điều trị

Đánh giá chỉ số toàn trạng PS trước điều trị giúp các bác sĩ lựa chọn

phác đồ điều trị, liều lượng thuốc phù hợp. Trong kết quả của chúng tơi đa số

bệnh nhân có chỉ số toàn trạng PS=1 chiếm 82,2%; PS= 0 chiếm 13,3% và có

2 bệnh nhân (4,4%) PS=2. Kết quả này tương đương với tác giả Trịnh Lê Huy

là 82,1% PS=1 [16], Nguyễn Thu Hương có 79,4% số bệnh nhân có thể trạng

(PS) 0-1, 20,6% có PS 2 [54]. Tuy nhiên của Saltz ở nhánh điều trị phác đồ



62



Avastin và XELOX thì PS = 0 là 59%, PS=1 chiếm 41% [51] và Đỗ Huyền

Nga trong nghiên cứu của mình ghi nhận đa số bệnh nhân có thể trạng còn

tốt: PS = 0 có 33 bệnh nhân chiếm 68,8%, PS = 1 có 15 bệnh nhân chiếm

31,2% [47].

4.1.2.2. Triệu chứng toàn thân

Đặc điểm toàn thân của bệnh nhân UTĐTT giai đoạn IV trong nghiên

cứu của chúng tơi có 24,4% bệnh nhân khơng có triệu chứng tồn thân tại thời

điểm chẩn đốn.

Gày sút cân là triệu chứng hay gặp nhất với tỷ lệ cao là 31,1%. Đây là

dấu hiệu thường gặp trong kết quả của các tác giả khác như Trương Văn Hợp

là 53,2% [48]; Trịnh Lê Huy tỷ lệ gày sút cân chiếm 46,2% [16]. Theo các

nghiên cứu nước ngồi thì tỷ lệ này thấp hơn: tác giả Hye Young Koo là

18,9% [56].

Thiếu máu: Chiếm khoảng 20% các trường hợp, kết quả này thấp hơn

so với các tác giả Trịnh Lê Huy là 46,2% [16]; tác giả Nguyễn Văn Hiếu là

32,4% [19]. Trên thế giới theo ghi nhận của Acher PL và cộng sự tỷ lệ thiếu

máu dao động trong khoảng từ 11-57% [57]. Tình trạng thiếu máu đa số là

mạn tính, hồng cầu nhược sắc do sự chảy máu rỉ rả từ khối u.

Có khoảng 24,4% bệnh nhân vừa có gày sút cân và thiếu máu tương

đương với tác giả Trương Văn Hợp là 29,8% [48].

4.1.2.3. Triệu chứng thực thể

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có triệu

chứng thực thể (khoảng gần 47%) thấp hơn so với Nguyễn Văn Hợp khi tỷ lệ

này là 68,1% [48]; chỉ có 28,9% bệnh nhân sờ thấy u bụng, gần 9% bệnh

nhân có sờ thấy u trực tràng, số ít còn lại có triệu chứng tắc ruột hoặc sờ thấy

hạch thượng đòn. Mặc dù là giai đoạn IV tuy nhiên triệu chứng thực thể của

bệnh nhân cũng khá nghèo nàn, không điển hình.



63



Sờ thấy u bụng: có khoảng gần 29% trường hợp, tỷ lệ này tương đương

với của tác giả Trương Văn Hợp là 27,7% [48]; cao hơn của tác giả Trịnh Lê

Huy ghi nhận là 20,5% [17] và thấp hơn tác giả Nguyễn Thị Hằng là 33,1%

[51]. Theo tác giả Nguyễn Văn Hiếu sờ thấy khối u gặp ở 60% bệnh nhân [6].

Tắc ruột: trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 3% bệnh nhân có triệu

chứng tắc ruột, thấp hơn nhiều so với các tác giả trong nước, của Trịnh Lê

Huy là 43,6% [16]; của Nguyễn Thị Hằng là 51,9% [51]. Theo tác giả Correa

R và cộng sự công bố năm 2011 thì tỷ lệ tắc ruột là 28% [58]. Một số nghiên

cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ tắc ruột của ung thư đại tràng di căn phụ thuộc vào

tuổi. Nhóm bệnh nhân < 40 và > 80 tuổi có nguy cơ tắc ruột cao hơn [59].

Tác giả Trần Thắng ghi nhận có khoảng 4,4% bệnh nhân có di căn hạch

thượng đòn [50], tỷ lệ này cũng tương đồng với nghiên cứu của chúng tơi có

6,7% trường hợp có di căn hạch.

4.1.3. Triệu chứng cận lâm sàng

4.1.3.1. Đặc điểm u nguyên phát

* Vị trí khối u nguyên phát qua nội soi

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi: Ung thư trực tràng hay gặp nhất

chiếm tỷ lệ 42,2%; đại tràng Sigma chiếm 26,7% và tiếp theo là đại tràng phải

17,8%; đại tràng trái 6,7%. Đại tràng ngang chiếm tỷ lệ thấp nhất 2,2%.

Trong nghiên cứu của Trương Văn Hợp ghi nhận trên 47 bệnh nhân

ung thư đại tràng di căn: Ung thư đại tràng Sigma chiếm tỷ lệ cao nhất 57,4%;

đại tràng trái 21%; đại tràng phải là 19,2% và thấp nhất là đại tràng ngang

6,4% [48].

Tuy nhiên theo nghiên cứu tổng quan hệ thống của Nele Boeckx và cs

công bố năm 2018 [60], dựa vào đặc điểm sinh học phân tử, theo nguồn gơc

phơi thai học thay vì theo vị trí giải phẫu ngày nay chia đại tràng thành 2

phần: đại tràng trái và đại tràng phải. Việc phân đại tràng phải và trái này có



64



liên quan đến đột biến gen, tỷ lệ đáp ứng, thời gian sống không bệnh và thời

gian sống thêm tồn bộ của bệnh nhân.Vì vậy hiện nay phân chia đại tràng

phải gồm ruột thừa, đại tràng lên, đại tràng góc gan, một phần đại tràng

ngang. Đại tràng trái gồm phần còn lại của đại tràng ngang, đại tràng góc

lách, đại tràng xuống, đại tràng sigma và trực tràng .

Về mặt đại thể nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận gặp nhiều nhất là

dạng sùi loét chiếm 71,1%; kết quả này thấp hơn của Trần Thắng dạng sùi

loét chiếm 80,3% [50]; nhưng lại cao hơn so với ghi nhận của Trương Văn

Hợp thể sùi loét chiếm 38,3% [48].

* Mơ bệnh học:

Chúng tơi ghi nhận có 84,4% ung thư biểu mô tuyến và 15,6% là ung

thư biểu mô nhày. Điều này cũng tương đồng với các nghiên cứu khác khi ghi

nhận ung thư biểu mô tuyến là loại mô bệnh học hay gặp nhất. Kết quả này phù

hợp với tác giả Trần Thắng là ung thư biểu mô tuyến chiếm 85,3% và 14,7%

ung thư biểu mô nhày [50]; Trịnh Lê Huy ghi nhận ung thư biểu mơ tuyến là

thể hay gặp nhất (66,67%) sau đó đến ung thư biểu mô tuyến nhày (33,33%)

[16]. Theo Fleming M thì UTBM tuyến cũng gặp phổ biến nhất chiếm khoảng

90% [61].

Huge và cộng sự ghi nhận nhóm ung thư biểu mơ tuyến chế nhày có

khả năng di căn nhiều vị trí cao hơn so với nhóm ung thư biểu mơ tuyến. Tác

giả nhận cũng nhận xét trong nhóm ung thư biểu mơ tuyến chế nhày thì tỷ lệ di

căn phúc mạc cũng cao hơn [62]. Trịnh Lê Huy trong nghiên cứu của mình

cũng chỉ ra bệnh nhân UTBM nhày có tỷ lệ di căn phúc mạc cao hơn so với

UTBM tuyến một cách có ý nghĩa thống kê [16]. Kết quả của chúng tôi cũng

tương đồng với các tác giả trên khi nhận ra mối quan hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ

bệnh nhân ung thư biểu mô nhày và di căn phúc mạc, trong 8 bệnh nhân di căn



65



phúc mạc thì có 6 bệnh nhân chiếm 75% là ung thư biểu mơ nhày (với

p <0,001).

* Độ biệt hóa:

Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi, ung thư biểu mô tuyến biệt

hóa cao-vừa chiếm tỷ lệ cao nhất là gần 75,5%, loại kém biệt hóa khoảng

24,5%, tương đương với Nguyễn Văn Hiếu có 79,6% là ung thư biểu mơ

tuyến biệt hóa vừa [6]. Tuy nhiên ghi nhận của chúng tôi khác với Đỗ Huyền

Nga, trong nghiên cứu tác giả thấy có ung thư biểu mơ tuyến biệt hóa vừa

chiếm 43,8%; kém biệt hóa là 52,1% [47], Nguyễn Văn Tú khi nghiên cứu

trên các bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn thấy có 78,1% ung thư biểu

mơ tuyến biệt hóa vừa [63].

4.1.3.2. Nồng độ CEA trước điều trị

CEA là kháng nguyên biểu mô phôi thai, bản chất là một glycoprotein

được liên kết với tế bào khối u và giải phóng vào máu, do vậy CEA gián tiếp

phản ánh tình trạng và mức độ xâm lấn của khối u. Trong UTĐTT giai đoạn

IV, CEA đa số tăng hơn bình thường và chỉ số này có ý nghĩa trong đánh giá

kết quả điều trị và tiên lượng tái phát di căn xa.

Chúng tôi ghi nhận trong nghiên cứu đa số bệnh nhân ở giai đoạn này có

CEA lớn hơn bình thường chiếm 84,4%; cao hơn kết quả trong nghiên cứu của

Nguyễn Văn Hợp là 59,6% [48] nhưng tương đương với A de Garmmont khi ghi

nhận chỉ có 14,6% bệnh nhân UTĐTT di căn có CEA bình thường <5ng/ml

[52]. Đa số các tác giả đều chỉ ra rằng nồng độ CEA tăng cao hơn bình thường

trong UTĐTT giai đoạn muộn.

Giá trị CEA trung bình trước điều trị của chúng tơi là 209,6 ng/ml.

Các nghiên cứu khác trong y văn cũng chỉ ra mối liên quan giữa nồng

độ CEA với tỷ lệ di căn xa: Nghiên cứu của Nguyễn Quang Thái cho thấy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 3.19: Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển theo đáp ứng sau kết thúc điều trị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×