Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bệnh sâu răng được khởi đầu bằng sự hình thành mảng bám răng (Dental plaque). Hydratcacbon trong thức ăn được chuyển hóa thành Glucose sau đó được polymer hóa thành Dextran bởi enzim dextranaze và glucosyltransferase. Dextran có tính dính bám nên tạo điều

Bệnh sâu răng được khởi đầu bằng sự hình thành mảng bám răng (Dental plaque). Hydratcacbon trong thức ăn được chuyển hóa thành Glucose sau đó được polymer hóa thành Dextran bởi enzim dextranaze và glucosyltransferase. Dextran có tính dính bám nên tạo điều

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



Hiệp hội nha khoa Mỹ năm 2006, đã xếp việc đếm số lượng vi khuẩn

Streptococcus mutans trong nước bọt của bệnh nhân là một trong các tiêu chí

khi đánh giá yếu tố nguy cơ gây SR [8].

* Màng sinh học (Biofilm)

Màng sinh học là một quần thể các vi khuẩn sống trong những cấu trúc

có tổ chức ở giao diện giữa một mặt cứng và chất lỏng tồn tại trên bề mặt răng.

Marsh đưa ra quan niệm mới về mảng bám răng: mảng bám răng được

xem như là màng sinh học trong đó cộng đồng các vi khuẩn bám dính trên bề

mặt răng được bao phủ bởi một khuôn Polymer ngoại bào của ký chủ hay vi

khuẩn [12].

Khả năng gây SR của mảng bám phụ thuộc vào độ dính của chúng lên

răng, khả năng gây acid (các acid Lactic, Formic) từ đường C12 và C6, độ pH

của môi trường miệng [12], [13], [14]

ADA Mỹ năm 2006, cũng đã đưa việc kiểm tra mảng bám trên răng là

một trong các tiêu chí quan trọng khi đánh giá yếu tố nguy cơ gây SR.

1.2.3. Vai trò của Carbonhydrat

Các loại đường khác nhau có sự khác biệt nhỏ về khả năng gây acid,

trong đó Sucrose có vai trò đặc biệt quan trọng vì: là chất nền duy nhất để

tổng hợp các Glucan ngoại bào tan và không tan trong nước. Những Glucan

không tan trong nước làm tăng sự tích tụ của Streptococcus mutans trên bề

mặt láng của răng, làm thay đổi hệ sinh thái của mảng bám răng, làm tăng

nguy cơ SR do làm tăng độ xốp của mảng bám, tạo nên nhiều acid sát với bề

mặt răng hơn, thúc đẩy quá trình HK của răng[15].

1.2.4. Các yếu tố nội sinh của răng

* Cấu tạo tổ chức học của men răng

- Men răng có nguồn gốc ngoại bì, men răng là một tổ chức cứng

nhất cơ thể.



12



- Về mặt lý học: Men răng cứng, giòn, trong và cản tia X, với tỷ trọng

từ 2,3 - 3 so với ngà răng.

Mầu sắc của men răng tùy thuộc vào tỷ lệ thành phần các dạng tinh thể,

khoảng cách và sự sắp xếp của các tinh thể men.

+ Với men răng của răng mới mọc, thường có mầu trong và có ánh xanh,

do thành phần tinh thể có cac muối của kim loại FE, Mg, Al,...Khi MR trưởng

thành các muối này dần được thay thế làm cho MR mất ánh xanh và trắng hơn.

+ Với MR bị hủy khống hoặc SR giai đoạn sớm, men có mầu trắng

đục, do khi giảm pH <5,5 các tinh thể Cacbonat và Hidroxyapatit có sức đề

kháng kém hơn bị hòa tan trước, chỉ còn lại chủ yếu là tinh thể Fluorapatit (có

mầu trắng và phản quang mạnh do có Fluor) bền vững hơn chưa bị tan, nếu

sự hủy khoáng càng nhiều thì khoảng cách của các tinh thể càng tăng và làm

cho men có mầu trắng đục rõ hơn có thể quan sát được ngay cả khi bề mặt

răng ướt[2],[16].

Ngày nay đặc điểm này được ứng dụng trong chẩn đoán và theo dõi SR

sớm trên lâm sàng.

- Men răng phủ tồn bộ thân răng, dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày

nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng.

- Về mặt hóa học gồm:

+ Thành phần vơ cơ

Thành phần chính của khống chất MR bao gồm Canxi, Phốt phát và

các ion Hydroxy, 3 thành phần này tham gia cấu thành Hydroxyapatit (3

[(PO4)2Ca3] Ca (OH)2 ) là dạng tinh thể chính của MR.

Các thành phần khác như: F, Fe, Mg, Mn, Sn, Na, K, Cl,...tham gia cấu

tạo nên các dạng tinh thể khác của MR, tuy các dạng tinh thể khác này chỉ

chiếm một phần tỷ lệ nhỏ trong các tinh thể cấu thành MR nhưng chúng lại có

vai trò quan trọng ảnh hưởng tới tính chất hóa lý và sức đề kháng của MR



13



Có sự liên quan chặt chẽ theo tỷ lệ của Phospho va Fluor trong men và

ngà răng thông qua công thức F(ppm)= A F/P (F : lượng Fluor đo được, P :

lượng P đo được, A =696 đối với men, A= 540 đối với ngà răng). Nồng độ P

trong men là 17,4% và trong ngà là 13,5%, lượng Fluor thường ≤ 10%[17].

Nồng độ của Fluor trong mơ răng đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu

và đều có cùng một kết luận là nồng độ của Fluor trong mô răng thay đổi rất

nhiều từ người này sang người khác, nhưng có liên quan chặt chẽ với nồng độ

Fluor trong môi trường, đặc biệt là Fluor trong nước uống trong thời kỳ

khống hóa của răng[18].

Men răng bao gồm các hợp chất vô cơ dạng tinh thể chủ yếu là:

Hydroxyapatit (3 [(PO4)2Ca3] Ca (OH)2 ) chiếm 90 -95%, còn lại là các tinh

thể dạng muối Cacbonat của Mg và một lượng nhỏ Clorua, Fluorua và Sunfat

của Natri và Kali.

Tỷ lệ các thành phần hóa học của MR có sự thay đổi ở ngay trong từng

cá thể, từng răng và vị trí men răng. Sự thay đổi này phụ thuộc vào thành

phần hóa học ban đầu của MR, sự sắp xếp của các tinh thể, thời gian và môi

trường miệng[16].

+ Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó có protein chiếm một

phần quan trọng.

- Cấu trúc tổ chức học. Quan sát trên kính hiển vi thấy hai loại đường vân

+ Đường Retzius thấy trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song

nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh

giới men ngà ở phía trong.

+ Đường trụ men chạy suốt chiều dày MR, đôi khi có sự gấp khúc và

thay đổi hướng đi của trục men.

+ Trụ men có đường kính từ 3-6 µm khi cắt ngang trụ men ta thấy hướng đi

của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter – Schrege.



14



- Cấu trúc siêu vi của men

+ Thấy thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi và sắp xếp dọc theo trụ men,

có vùng lại hợp với trụ men một góc 40 độ, thành phần vơ cơ là các khối tinh

thể to nhỏ khơng đều dài 1µm rộng 0,04 - 1µm, các tinh thể trong trụ men sắp

xếp theo hình xương cá đơi khi theo hình lốc. Có ba dạng tinh thể chủ yếu của

trụ men là Hydroxyapatit, Fluorapatite, Carbonat chất giữa trụ men là các tinh

thể giả apatit (thay PO4 =Ca (CO3), Mg (CO3), CaF2,..).

+ Sự sắp xếp của các tinh thể MR có sự khác nhau tại các vị trí của men

trên răng:

Tại vùng men răng ở các bề mặt nhẵn, các tinh thể xếp chồng lên nhau

theo hình xương cá, sự sắp xếp này tạo ra nhiều khoảng trống giữa các trụ

men, đây là điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi chất của MR với môi trường

miệng khi MR mới mọc và chưa trưởng thành.

Tại vùng MR ở hố rãnh, các tinh thể sắp xếp chồng lên nhau theo hình

lốc xốy hay hình mái ngói, sự sắp xếp này tạo ra sự khít sát cao và dầy đặc

hơn của các tinh thể men (Hydroxyapatit). Điều này làm cho MR vùng này

cứng hơn so với men tại bề mặt nhẵn của răng ngay tại thời điểm khi men

răng mới mọc, tuy nhiên chính sự khít sát cao này cũng làm hạn chế sự trao

đổi chất của MR với môi trường miệng dẫn đến hạn chế sự trưởng thành của

MR sau khi mọc (Fluorapatit thay thế cho Hydroxyapatit rất thấp, làm giảm

tính đề kháng của MR khi men răng đã trưởng thành). Đây cũng chính là một

trong các lý do giải thích tại sao vùng hố rãnh có tỷ lệ SR cao hơn vùng mặt

nhẵn của răng, cũng như việc phòng SR cho vùng này bằng các biện pháp

cung cấp Fluor cho kết quả không cao.

1.2.5. Các yếu tố ngoại sinh

- Nước bọt có vai trò quan trọng bảo vệ răng thể hiện ở:

+ Dòng chảy và tốc độ lưu chuyển của nước bọt trong miệng là yếu tố



15



làm sạch tự nhiên, lấy đi các mảnh thức ăn thừa và vi khuẩn trên bề mặt răng.

+ Tạo lớp màng mỏng có tác dụng như một hàng rào bảo vệ răng khỏi

sự tấn công của acide.

+ Tăng cường khống hóa nhờ có sẵn các ion Canxi, Fluor, Phosphat.

+ Khả năng đệm, trung hòa acide.

+ Sự hiện diện của các yếu tố kháng khuẩn như IgA, Lyzozyme...

Ngày nay, dựa trên y học bằng chứng việc kiểm tra lưu lượng nước bọt

cũng đẫ được ADA đưa vào tiêu chí khi đánh giá nguy cơ SR cho bệnh

nhân[8], [19], [20].

- Chế độ ăn nhiều đường, nhất là ăn vặt thường xuyên giữa các bữa ăn

chính làm tăng nguy cơ SR.

- Các yếu tố di truyền, kinh tế xã hội, môi trường, sử dụng các thuốc

gây nghiện, chỉnh nha, phục hình khơng đúng quy cách..vv. Đã được chứng

minh và được xếp vào nhóm các yếu tố nguy cơ gây SR cần được cân nhắc

khi đánh giá và can thiệp kiểm sốt SR.

1.3. Một số vi khuẩn liên quan đến tình trạng sâu răng ở trẻ em

1.3.1. Các Loại vi khuẩn thường gặp

Các vi khuẩn tham gia chủ yếu vào quá trình này là Streptococcus

mutans, Actinomyces viscosus, S. sobrinus và một số chủng Lactobacillus

[7], [10], [11].

Hiệp hội nha khoa Mỹ năm 2006, đã xếp việc đếm số lượng vi khuẩn

Streptococcus mutans trong nước bọt của bệnh nhân là một trong các tiêu chí

khi đánh giá yếu tố nguy cơ gây SR [8].

1.3.2. Kỹ thuật xét nghiệm (ngắn gọn) của một số loại vi khuẩn thường gặp

1.3.3. Các phương pháp chẩn đoán vi sinh học trong miệng

Ba loại xét nghiệm chính:

- Phương pháp khơng ni cấy: có rất nhiều kỹ thuật, bao gồm:



16



+ Kỹ thuật sử dụng kính hiển vi (huỳnh quang, điện tử)

+ Sử dụng công nghệ sinh học (các kỹ thuật sinh học phân tử) để xác

định các gen đặc thù của các vi khuẩn nói riêng hoặc vi sinh vật nói chung.

-



Phương pháp ni cấy



-



Phương pháp miễn dịch:

+ Xác định vi khuẩn

+ Xác định kháng thể

Các phương pháp xét nghiệm vi sinh tìm căn nguyên gây bệnh trong

mảng bám dưới lợi rất đa dạng và phong phú. Việc lựa chọn phương pháp

hay kỹ thuật nào đặc biệt thích hợp và nhạy cảm nhất tuỳ theo từng bệnh

nhân và theo yêu cầu của bác sỹ lâm sàng. Nghiên cứu này sử dụng hai

phương ph¸p phổ biến trong chẩn đo¸n vi sinh häc bÖnh sâu răng hiện nay

là kỹ thuật Phản ứng chuối trùng hợp (PCR) và phương pháp nuôi cấy phân

lập vi khuẩn kỵ khí.

1.3.4. Kỹ thuật PCR

Kỹ thuật PCR là một kỹ thuật sinh học phân tử được áp dụng ngày càng

nhiều trong việc phát hiện sự có mặt của một số loài vi khuẩn chọn lọc trong

mẫu mảng bám dưới lợi. Dựa vào sự nhân lên của đoạn DNA đích đặc hiệu,

kỹ thuật này rất nhanh, đơn giản và có thể dương tính ngay cả khi trong mẫu

chỉ có một số lượng tế bào vi khuẩn rất nhỏ và khi vi khuẩn đã chết. Các kỹ

thuật real-time PCR hiện đại còn cho phép định lượng được các lồi vi khuẩn

trong mẫu mảng bám, xác định được tỷ lệ các vi khuẩn gây bệnh trong mẫu

bệnh phẩm. Tuy nhiên, các kỹ thuật này cũng có hạn chế là chi phí cao và khó

có thể thực hiện một số lượng lớn các mẫu mảng bám với một số lượng lớn

các loài vi khuẩn [17].

PCR cũng cho phép xác định sự có mặt của một hoặc một gen liên quan

đến sự kháng thuốc của vi sinh vật. Ngoài ra, sử dụng một số cặp mồi đặc



17



hiệu có khả năng khuếch đại một vùng gien đặc trưng của một loại vi sinh vật

nào đó như nấm, vi khuẩn, virus... người ta có thể xác định căn nguyên gây

bệnh trong một loại bệnh phẩm nào đó. Trong một số trường hợp, bằng việc

giải trình tự một đoạn nucleotide, sau đó so sánh trình tự này với các trình tự

sẵn có trên ngân hàng gien, người ta có thể biết rằng đoạn nucleotide đó là

của một vi sinh vật đã được nghiên cứu hoặc là một vi sinh vật gây bệnh mà

người ta chưa được biết [24].

1.3.5. Phương pháp nuôi cấy phân lập

Trong nhiều năm trước, kỹ thuật cơ bản được các nhà khoa học sử dụng

để nghiên cứu thành phần vi khuẩn của mảng bám dưới lợi là phương pháp

nuôi cấy vi khuẩn, đặc biệt là đối với vi khuẩn kỵ khí. Các vi khuẩn gây bệnh

có thể được phát hiện nhờ sử dụng môi trường chọn lọc hoặc không chọn lọc.

Đây là một phương pháp rất khó khăn, rất tốn thời gian, tốn tiền và chỉ có thể

thực hiện được trên một số mẫu mảng bám và ở một số labo vi sinh có

phương tiện và cán bộ có tay nghề cao. Do phần lớn các vi khuẩn gây bệnh

vùng quanh răng là các vi khuẩn kỵ khí mà các vi khuẩn này rất khó hoặc

thậm chí khơng thể ni cấy được. Tuy nhiên, nhờ có phương pháp này mà

các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra các lồi vi khuẩn có liên quan đến sự khởi

phát và tiến triển trong miệng cũng như một số lồi vi khuẩn có hại hay có lợi

cho cơ thể [25].

Ưu điểm chính của phương pháp này là phát hiện được đa số các loài vi

khuẩn trong mẫu bệnh phẩm. Tuy vậy, một số lồi khó mọc hay không thể

nuôi cấy được như xoắn khuẩn không thể phát hiện được nhờ phương pháp

này. Một số loài vi khuẩn đòi hỏi mơi trưởng đặc biệt để phát triển, nếu khơng

chúng sẽ mọc với số lượng rất ít khơng thể đánh giá được. Mặc dù có nhiều

nhược điểm nhưng nuôi cấy vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều trong

các nghiên cứu về vi sinh học trong miệng, đặc biệt là để xác định các vi



18



khuẩn trong những trường hợp lâm sàng bất thường hoặc trong trường hợp

cần thiết hỗ trợ thêm cho việc điều trị [26]. Trong q trình chẩn đốn thường

quy, phương pháp ni cấy vẫn là tiêu chuẩn vàng để đánh giá các phương

pháp sinh học phân tử khác. Đây là phương pháp duy nhất có thể cho phép

làm được kháng sinh đồ.

1.4. Tình Hình kinh tế, văn hóa xã hội của Tỉnh Hải Dương:

Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế

trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành

phố Hải Dương nằm cách thủ đơ Hà Nội 57 km về phía Tây, cách thành

phố Hải Phòng 45 km về phía Đơng. phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía

bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đơng bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đơng giáp

thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây giáp

tỉnh Hưng Yên.Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương hiện là

đô thị loại 2.

Năm 2016 Hải Dương có 2.463.890 người với mật độ dân số 1.488

người/km² Thành phần dân số: Nông thôn: 73%; Thành thị: 27%.

Tính đến năm 2017, tỉnh Hải Dương có 1 Thành phố trung tâm, 1 Thị xã

và 10 Huyện trực thuộc

Giáo dục và Y tế luôn được lãnh đạo thành phố rất quan tâm đặc biệt là

trẻ em. Hiện nay Tỉnh Hải Dương có Trường cấp 2, Trong đó học sinh lớp 6

( 12 tuổi) trong toàn tỉnh là 29.316 học sinh trong đó Thành phố Hải Dương

có 4.487 học sinh 12 tuổi.



19



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Là những học sinh 12 tuổi tại 2 trường THCS Lương Thế Vinh và

Trung học cơ sở Võ Thị Sáu tại Thành Phố Hải Dương.

- Tiêu chuẩn lựa chọn học sinh trong nghiên cứu :

+ Là những học sinh từ 12 tuổi

+ Có sự đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu của cả học sinh và phụ

huynh học sinh.

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Vắng mặt trong khi nghiên cứu

+ Khơng có sự đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu, của cả học sinh

và phụ huynh học sinh.

+ Trẻ đang bị các bệnh hơ hấp cấp và mạn tính.

- Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

+ Địa điểm: Trường THCS Lương thế Vinh, Xã Thạch khôi Thành phố

Hải Dương

Trường THCS Võ Thị Sáu , Phường Hải Tân, Thành Phố Hải Dương.

Trong nghiên cứu này chúng tôi muốn chọn ngẫu nhiên 2 Trường đại diện

cho ngoại thành và nội thành thành phố qua đó đánh giá được tình trạng sâu

răng của trẻ em thành phố Hải Dương, qua đó đánh giã xem thực trạng sâu

răng và yếu tố vi khuẩn ở đây giống hay khác nhau.

+ Thời gian nghiên cứu: Từ 2019- 2020



20



2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Là thiết kế nghiên cứu mơ tả cắt ngang có so sánh nhằm 2 mục tiêu (1)

thực trạng và yếu tố ảnh hưởng của sâu răng; (2) so sánh và xác định loại vi

khuẩn gây bệnh sâu răng giữa 2 nhóm học sinh sâu răng và không sâu răng.

2.2.2. Mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu được tính theo cơng thức sau [86]:

n = Z (21−α / 2)



pq

DE

d2



Trong đó:

n



: Cỡ mẫu



z(1- α/2) : Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95%

p



: Tỷ lệ ước lượng sâu răng vĩnh viễn giai đoạn sớm của học sinh



12 tuổi (p=50%) qua khám khảo sát sơ bộ năm 2008 (cần lấy số liệu mới hơn).

q



: Tỷ lệ ước lượng không sâu răng vĩnh viễn giai đoạn sớm của



học sinh 7-8 tuổi (q = 22%)



-



d



: Sai số tuyệt đối: 5%



DE



: Hệ số thiết kế =1,2



Tính cỡ mẫu, ước lượng khoảng 400 học sinh cho 2 trường



Chọn khoảng 100 học sinh trong nhóm sâu răng để xét nghiệm vi khuẩn (cả 2

trường)





Chọn mẫu:

2 trường THCS, chọn chủ đích. Lập danh sách học sinh 12 tuổi của



từng trường sau đó chọn học sinh tham gia nghiên cứu bằng kỹ thuật chọn

mẫu ngẫu nhiên đơn (sử dụng bảng số ngẫu nhiên và danh sách học sinh).



21



2.2.3. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

-



Kỹ thuật thu thập số liệu bao gồm: Phỏng vấn yếu tố nguy cơ, khám răng



-



miệng và xét nghiệm vi khuẩn

Kỹ thuật và quy trình chuyển bị trước khi tiến hành khám và can thiệp.

Liên hệ với Trường Trung học cơ sở …..Hải Dương để lên kế hoạch khám

và can thiệp.

+ Thu thập danh sách học sinh cấp tại tỉnh Hải Dương

+ Thu thập thông tin và thủ tục hành chính:

+ Lập danh sách theo: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, lớp, địa chỉ và

điện thoại liên lạc.

+ Phỏng vấn học sinh và lấy phiếu xác nhận đồng ý tham gia nghiên

cứu của học sinh và phụ huynh học sinh.

- Tập huấn và định chuẩn cho cán bộ nghiên cứu về cách thức khám phát

hiện sâu răng phỏng vấnvà ghi phiếu đánh giá.

2.2.4. Vật liệu và công cụ thu thập thông tin

* Bộ khay khám răng: khay quả đậu, gương, thám châm, gắp.



Hình 2.1. Bộ khay khám

* Bơng, cồn, găng tay, đèn chiếu sáng.

* Nồi hấp vô khuẩn

* Phiếu khám và phiếu thu thập thông tin.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bệnh sâu răng được khởi đầu bằng sự hình thành mảng bám răng (Dental plaque). Hydratcacbon trong thức ăn được chuyển hóa thành Glucose sau đó được polymer hóa thành Dextran bởi enzim dextranaze và glucosyltransferase. Dextran có tính dính bám nên tạo điều

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×