Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.23 Liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin nuôi dưỡng trẻ với thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Bảng 3.23 Liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin nuôi dưỡng trẻ với thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Tải bản đầy đủ - 0trang

54



Chương 4

BÀN LUẬN



Nuôi con bằng sữa mẹ cần được hiểu như một vấn đề sức khoẻ cộng

đồng, cần có một chiến lược thúc đẩy mạnh mẽ. Bên cạnh đó mỗi bà mẹ khi

sinh con đều phải có hiểu biết đúng, thực hành tốt về ni con bằng sữa mẹ.

Đây chính là biện pháp nhằm tăng cường sức khoẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng

và bệnh tật ở trẻ. Nuôi con hồn tồn bằng sữa mẹ có nghĩa là chỉ cho con bú

sữa mẹ mà không cho ăn bất kỳ một loại thức ăn, nước uống nào khác, ngay

kể cả nước đun sơi để nguội. Vì sữa mẹ trong 6 tháng đầu đáp ứng đủ nhu cầu

nước và các chất dinh dưỡng để cho trẻ phát triển tốt. Bên cạnh đó, ni con

hồn tồn bằng sữa mẹ là một trong những biện pháp tránh thai an tồn và

hiệu quả. Khơng những thế, đây còn là một giải pháp tiết kiện được về kinh tế

và thời gian.

Trẻ sau khi sinh được bú trong vòng 1 giờ đầu là yếu tố rất quan trọng,

quyết định sự thành công của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Trẻ được bú sớm

trong vòng 1 giờ đầu sau sinh sẽ giảm được rủi ro mắc các bệnh mãn tính ở

tuổi trưởng thành như: đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch. Trẻ bú mẹ sẽ

phát triển hài hồ cả về thể chất lẫn tinh thần, phòng tránh được thừa cân béo

phì. Hiện nay, theo điều tra tồn quốc của dự án A&T 20,2% trẻ được bú sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, và 50,5% trẻ được bú mẹ sớm trong 1 giờ

đầu sau khi sinh [74]. Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới, có đồng bào dân

tộc sinh sống, nên việc nuôi dưỡng trẻ dưới 2 tuổi của các bà mẹ còn hạn chế.

Nghiên cứu này giúp chúng ta có một cái nhìn tồn cảnh về thực trạng chăm

sóc trẻ tại đây.



55



4.1. Thơng tin chung của đối tượng nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các bà mẹ tham gia

nghiên cứu chủ yếu là có tuổi nằm trong nhóm 25 – 34 tuổi. Tỷ lệ này cũng

tương tự với nghiên cứu của Phan Thị Ánh Tuyết tại bệnh viện khoa sản Bệnh

viện Trường Đại học Y dược Huế năm 2013 [75]. Như vậy, các bà mẹ mang

thai nằm trong độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ cao là hợp lý. Hơn 50% bà mẹ là

người dân tộc kinh, các bà mẹ còn lại là người dân tộc Tày và Nùng. 2/3 bà

mẹ có trình độ học vấn trên trung học phổ thơng. Bà mẹ có nghề nghiệp là

nơng dân và cơng nhân chiếm đa số.

Kết quả khảo sát 298 trẻ của đối tượng nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ trẻ

được sinh thường chiếm tỷ lệ 57,1%. Cân nặng sơ sinh của trẻ ở nhóm 2500 –

3500 gram chiếm hơn ¾ so với các nhóm còn lại. Chủ yếu các trẻ được sinh

là con thứ nhất và con thứ hai.

4.2. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ trong thời gian nằm

viện sau sinh tại khoa Phụ sản - Bệnh viện ĐKTT tỉnh Lạng Sơn

4.2.1. Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ

Kiến thức về lợi ích của sữa mẹ: sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ

trong những năm đầu đời, đồng thời nó cũng có ý nghĩa quan trọng sống còn

cho sự phát triển toàn diện của trẻ trong những năm sau này. Vì vậy, các bác

mẹ chuẩn bị sinh con hay đã sinh con đều phải có kiến thức đúng về ni con

bằng sữa mẹ nói riêng và chăm sóc trẻ nhỏ nói chung, đặc biệt là giai đoạn

1000 ngày vàng sau sinh chính là “cửa sổ cơ hội” để có thể can thiệp hiệu quả

nhất trong nuôi dưỡng trẻ nhỏ. Giai đoạn này được chia thành 3 thời điểm

quan trọng đó là 280 ngày bà mẹ mang thai, trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi và trẻ từ 6

– 24 tháng tuổi. Với mục đích là để có kế hoạch cụ thể tiến hành can thiệp và

truyền thông mang lại kết quả cao nhất trong việc chăm sóc và ni dưỡng trẻ



56



nhỏ. Kết qủa điều tra của chúng tôi cho thấy, trong số 298 bà mẹ được phỏng

vấn thì đa số các bà mẹ chỉ biết một trong các lợi ích của sữa mẹ, chỉ có

10,7% bà mẹ có kiến thức đúng về lợi ích của sữa mẹ. Tỷ lệ này thấp hơn so

với nghiên cứu của Phan Thị Ánh Tuyết (16,7%) [75].

Kiến thức về sữa non, sữa trưởng thành: khi hỏi các bà mẹ về kiến thức

hai loại sữa non và sữa trưởng thành tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng không

cao tương ứng là 11,1% và 13,4%. Những kiến thức về sữa mẹ trong đó có

sữa non và sữa trưởng thành là những yếu tố góp phần giúp bà mẹ hiểu rõ hơn

được lợi ích của việc ni con bằng sữa mẹ từ đó bà mẹ sẽ thực hành tốt hơn

khi nuôi dưỡng trẻ nhỏ. Đặc biệt là, kiến thức này sẽ có ảnh hưởng đến thực

hành của bà mẹ cho con bú sớm 1 giờ sau khi sinh và cho trẻ bú hoàn toàn

trong 6 tháng đầu.

Kiến thức về ni con bằng sữa mẹ hồn tồn: Bú mẹ hoàn toàn là trẻ

chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra. Ngồi ra khơng ăn bất

kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn trừ các dạng giọt, siro có chứa vitamin,

chất khoáng bổ sung hay thuốc. Đánh giá kiến thức của bà mẹ về bú mẹ hoàn

toàn ở bảng 3.6 cho thấy, có 33,2% bà mẹ hiểu đúng về khái niệm bú mẹ hoàn

toàn. Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu tác giả Mai Thị Tâm tại bệnh viện

nhi Trung ương (69%) [76] Sự khác biệt này có thể là do vùng miền nghiên

cứu khác nhau. Vì địa bàn nghiên cứu của chúng tôi là tỉnh miền núi biên giới

phía Bắc, ngồi người Kinh thì còn có các dân tộc khác như Tày, Nùng.

Kiến thức về thời gian ni con bằng sữa mẹ: chiến lược tồn cầu về

thời gian nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của UNICEF và WHO đã đưa ra

bằng chứng khoa học về tính ưu việt của thực hành ni con hồn tồn bằng

sữa mẹ và khuyến nghị trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu

của cuộc đời. Khi được hỏi về thời gian cho trẻ bú hồn tồn có 31,8% bà mẹ



57



trong nghiên cứu có kiến thức đúng. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của

Nguyễn Anh Vũ (12,2%) [77], nhưng lại thấp hơn so với nghiên cứu của Tôn

Thị Anh Tú tại bệnh viện Nhi đồng I (48,04%) [44]. Nguyên nhân chính phải

chăng do bà mẹ nghĩ mình khơng đủ sữa ni con, hoặc sợ con bị đói hoặc

một số bà mẹ phải đi làm sớm nên khơng thể cho con bú hồn tồn trong thời

gian dài như vậy. Điều này cũng được thấy trong nghiên cứu của Bùi Thị

Thanh Hoa khi cho kết quả là 30% bà mẹ nghĩ là mình khơng đủ sữa và có

đến 20% nghĩ rằng cho trẻ ăn thêm sẽ tốt hơn [78]. Vì vậy, cần truyền thơng

giáo dục sâu và rộng khắp hơn nữa giúp các bà mẹ có đầy đủ kiên thức về

chăm sóc và ni dưỡng trẻ. Đây cũng là thách thức lớn với chương trình sữa

mẹ và triển khai các hoạt động can thiệp dinh dưỡng vào cộng đồng. Theo

khuyến cáo của WHO và Viện Dinh dưỡng Trung Ương, bà mẹ nên cho con

bú tốt nhất đến 24 tháng và tối thiểu là 18 tháng. Do vậy, song song với việc

cho trẻ ăn bổ sung thì mẹ nên tiếp tục cho con bú để đảm bảo trẻ vẫn được

cung cấp chất dinh dưỡng từ sữa mẹ. Kết điều tra của chúng tôi là 71,7% bà

mẹ cho rằng sẽ cai sữa con trong khoảng thời gian từ 18 đến 24 tháng. Kết

quả này cao hơn so với nghiên cứu về thời gian cai sữa của trẻ em tại bệnh

viện Nhi đồng I của Tôn Thị Anh Tú (57,7%) [44].

Kiến thức về chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ cho con bú: một trong

những yếu tố giúp bà mẹ có thể thực hành tốt ni con bằng sữa mẹ đó chính

là chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi và cách thức duy trì và kích thích để

tăng nguồn sữa mẹ. Khi điều tra 298 bà mẹ cho thấy có 44,3% bà mẹ cho biết

trong giai đoạn ni con bú phải có chế độ riêng về ăn uống, lao động và nghỉ

ngơi. 10.5% bà mẹ hiểu được đúng về cách thức duy trì và kích thích tăng

nguồn sữa mẹ. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Phan Thị Anh

Tuyết.Tuy vậy, đây là một vùng miền núi, tỷ lệ bà mẹ dân tộc chiếm số lượng

lớn, phong tục sau sinh của người dân tộc đối với bà mẹ cũng có nhiều điểm



58



khác biệt so với bà mẹ dân tộc Kinh như là: kiêng tắm, kiêng ăn (đặc biệt ở

vùng sâu vùng xa chế độ ăn của bà mẹ ni con bú rất nghèo dinh dưỡng).Vì

vậy, bà mẹ trong giai đoạn nuôi con bằng sữa mẹ cần được quan tâm hơn nữa

về chế độ làm việc nghỉ ngơi, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng để đảm bảo

nguồn sữa mẹ có đủ chất và lượng khi cho trẻ bú. Để thực hiện tốt được việc

này ngồi chính bản thân bà mẹ cần có sự hỗ trợ từ những người thân trong

gia đình đặc biệt là người chồng. Bên cạnh đó, cần có các chính sách hỗ trợ

của xã hội giúp đỡ cho bà mẹ và gia đình có thể hiểu và thực hiện tốt được

q trình ni dưỡng trẻ nhỏ.

Nguồn thông tin truyền thông về nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ: gia

đình, bạn bè/hàng xóm, cán bộ y tế, truyền thông đại chúng là những nguồn

thông tin chính cung cấp về ni dưỡng trẻ nhỏ cho bà mẹ. Kết quả điều tra

của chúng tôi thu được là đa số bà mẹ nhận được nguồn thông tin chủ yếu là

từ truyền thông đại chúng và cán bộ y tế với tỷ lệ tương ứng 44,9% và 36,8%.

Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Dự án A &T (68,8% bà mẹ nhận

nguồn thông tin từ cán bộ y tế) và nghiên cứu của Đoàn Thị Ánh Tuyết và Lê

Thị Hương năm 2011 (83,2% nguồn thông tin được cung cấp từ cán bộ y tế

thôn/xã) [79]. Những kết quả này nhấn mạnh vai trò quan trọng của cán bộ y

tế trong việc cung cấp thông tin đúng về nuôi dưỡng trẻ cho bà mẹ. Để duy trì

được bền vững những kiến thức ni dưỡng trẻ trong cộng đồng vẫn cần được

quan tâm và giúp đỡ đặc biệt là chính quuyền địa phương và các cơ quan chức

năng có liên quan.

4.2.2. Thực hành cho con bú sớm sau sinh của bà mẹ

Theo khuyến cáo của WHO/UNICEF mẹ nên cho con bú trong vòng 1

giờ đầu sau sinh, bú càng sớm càng tốt. Bởi vì, những giọt sữa đầu tiên rất tốt

cho trẻ, nó có hàm lượng dinh dưỡng và kháng thể cao. Bên cạnh đó, động tác



59



mút vú của trẻ sẽ làm cho các xung động cảm giác từ tuyến vú truyền lên não,

kích thích tuyến yên giải phóng ra Prolactin. Prolactin vào máu rồi đến vú

kích thích các tế bào tiết sữa sản xuất sữa. Vì vậy, cho trẻ bú càng nhiều vú

càng sản xuất ra nhiều sữa. Mặt khác, trẻ bú sẽ kích thích tuyến yên sản xuất

ra một loại hormon khác là Oxytocin có tác dụng gây co bóp các tế bào xung

quanh nang sữa và giúp cho sữa chảy xuống ống dẫn sữa nhanh hơn.

Oxytocin được sản xuất nhanh hơn Prolactin, làm sữa chảy ngay ra khi trẻ bú.

Hơn nữa, Oxytocin còn có tác dụng quan trọng là làm co hồi tử cung giúp bà

mẹ giảm chảy máu sau sinh.

Thực hành cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh của bà mẹ:

kết quả nghiên cứu cho thấy: 64,1% bà mẹ cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu

sau sinh. Song song là phỏng vấn sâu cán bộ y tế cũng cho thấy 100% cán

bộ y tế đều cố gắng tạo mọi điệu kiện thuận lợi để bà mẹ thực hành cho trẻ

bú sớm 1 giờ sau sinh. “Chúng tôi luôn cố gắng tạo mọi điều kiện thoải mái

nhất để bà mẹ có thể da kề da và cho trẻ bú sớm sau sinh, (PVS chị B, 35

tuổi, Bác sỹ). Tỷ lệ nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu

như: Nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ tai huyện Tiên Lữ Hưng Yên 2011 tỷ

lệ bà mẹ thưc hành cho con bú trong vòng một giờ đầu 57,6% [77]. Nghiên

cứu của Vũ Thị Nhung tại huyện Hoài Đức, Hà Nội tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú

sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 29,4% [80]. Nghiên cứu của tác giả

Đàm Thị Thơ tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ trẻ được bú

sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh cũng thấp chiếm 46,9% [81]. Tương tự

với nghiên cứu của dự án A&T 50,5% bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1

giờ đầu sau sinh, trong số này thì tỷ lệ thấp nhất là ở Đà Nẵng 27,9%. Sở dĩ

cải thiện được tình hình cho trẻ bú sớm sau sinh là do nhiều ngun nhân,

trong số đó phải kể đến vai trò của cuộc vận động nuôi con bằng sữa mẹ đã

và đang được nhiều ngành tham gia. Mặc dù tỷ lệ cho trẻ bú sớm trong



60



nghiên cứu của chúng tôi chưa phải là rất cao, nhưng chúng tơi cũng đã tìm

hiểu được những trở ngại khiến bà mẹ cảm thấy khó khăn trong việc cho trẻ

bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Những bà mẹ thực hành tốt việc cho

trẻ bú sớm cho biết lý do mà bà mẹ có thể thực hành tốt là do được hỗ trợ từ

cán bộ y tế (37,4%) nên trẻ được trả về với mẹ ngay ngay sau khi cuộc sinh

nở kết thúc. Kết quả này cho thấy, sự cần thiết phải tăng cường hơn nữa các

kiến thức, hỗ trợ thực hành cho nhân viên Y tế, nhằm làm tăng cường tỷ lệ

cho con bú sớm sau sinh của bà mẹ.

Lý do bà mẹ không cho trẻ bú sớm sau sinh: bên cạnh sự hỗ trợ của cán

bộ y tế thì bà mẹ biết được là cho trẻ bú càng sớm thì sữa sẽ càng về nhanh hơn

(31,5%). Trong 298 đối tượng nghiên cứu vẫn còn có 35,9% trẻ khơng được

bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Lý do tại sao bà mẹ lại không thực

hành được là do sau cuộc sinh nở bà mẹ rất mệt và không chủ động tìm con để

cho trẻ bú ngay (44,4%) và một số bà mẹ có hiểu biết chưa đúng nên nghĩ là

mình chưa có sữa để sẵn sàng cho con bú (32,2%). Nhìn chung, vẫn còn một số

bộ phận nhỏ các bà mẹ có kiến thức và thực hành chưa đúng trong ni con

bằng sữa mẹ. Vì vậy, cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khở cho các bà

mẹ trước khi bà mẹ mang thai hoặc trước khi bà mẹ sinh nở, có như vậy kiến

thức và thực hành đúng của bà mẹ mới được cải thiện.

Thực trạng vắt bỏ sửa non của bà mẹ: sữa non được biết đến là một

thức ăn đầu đời rất quan trọng đối với trẻ. Ngoài việc sữa non giàu kháng

thể, giàu protein kháng khuẩn, nhiều tế bào bạch cầu, giúp trẻ phòng chống

nhiễm khuẩn, dị ứng và có khả năng miễn dịch nhiều bệnh mà trẻ có thể mắc

sau đẻ, thì sữa còn có nhiều tác dụng khác như làm xổ nhẹ đào thải phân su,

thải bilirubin ra khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da của trẻ. Khơng những

thế sữa non còn là yếu tố tăng trưởng biểu bì giúp cho ruột phát triển hồn

thiện chức năng phòng tránh dịuwngs và khơng dung nạp thức ăn khác. Khi



61



điều tra về kiến thức của bà mẹ ở nghiên cứu này cho thấy chỉ có 11,1% bà

hiểu đúng khái niệm sữa non, và có hơn ¼ bà mẹ trong nghiên cứu khơng

biết sữa non. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thực hành cho con bú sớm

của các bà mẹ. Thực tế cho thấy, khi các bà mẹ khơng có kiến thức đúng về

sữa non nên bà mẹ có thể vắt bỏ loại sữa này đi. Kết quả điều tra cho thấy có

12,1% bà mẹ vắt bỏ sữa non. Khi phỏng vấn sâu cán bộ y tế cho biết mặc dù

bà mẹ có kiến thức về sữa non nhưng vẫn vắt bỏ do ảnh hưởng bởi các điều

kiện ngoại cảnh như: người thân, các quan niệm cổ hủ…. Điều tra trực tiếp

bà mẹ chúng tôi thu được kết quả lý do chủ yếu là bà mẹ sợ sữa mới tiết ra là

sữa sống, lạnh nên vắt bỏ không cho trẻ bú (41,2%) và một số bà mẹ do mẹ

hoặc người thân trong gia đinh bảo không nên cho trẻ bú sữa non chiếm

37,6%. Tỷ lệ vắt bỏ sữa non thấp hơn so với nghiên cứu của Đàm Thị Thơ

(37,5%), nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ (19%) và có 31,3% bà mẹ cho biết

lý do vắt bỏ sữa non là nghĩ không tốt cho trẻ, lý do bà mẹ làm theo hướng

dẫn của người thân chiếm 22,4% [77] , nhưng cao hơn so với nghiên cứu của

Trần Thị Thắm tại Yên Bái (11,1%) [82] và cao hơn nhiều so với nghiên cứu

của Đoàn Thị Ánh Tuyết (3,5%). Điều này chứng tỏ mặc dù kiến thức của bà

mẹ về sữa non đã được bổ sung và nâng cao nhưng vẫn chưa hiểu sâu, do

đó cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục, truyền thông về dinh dưỡng

cho các bà mẹ chuẩn bị sinh con cùng với những người có ảnh hưởng trực

tiếp đến thực hành của bà mẹ trong q trình ni dưỡng trẻ nhỏ như mẹ

đẻ, mẹ chồng, chồng, chị, em …

Thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh: khi điều tra

về kiến thức của bà mẹ cho trẻ bú hồn tồn thì có 33,2% bà mẹ có kiến thức

đúng là cho trẻ bú mẹ hoàn toàn mà không cho ăn, uống thêm bất cứ thức ăn,

đồ uống nào khác kể cả nước trắng. Thực tế, khi bà mẹ thực hành cho trẻ bú

sớm sau sinh bằng sữa mẹ có 30,2% bà mẹ cho trẻ ăn uống thực phẩm ngoài



62



sữa mẹ trước khi cho trẻ bú lần đầu sau sinh. Cho thấy hai kết quả mà chúng

tơi tìm thấy là khá tương đồng nhau giữa kiến thức về thực hành. Điều tra cán

bộ y tế cho biết một số bà mẹ cho rằng sữa non ít khơng đủ nhu cầu cho trẻ,

thời gian đợi sữa lâu trẻ sẽ bị đói nên họ cho trẻ ăn thực phẩm ngồi sữa. “Bà

mẹ sợ trẻ đói, sữa mẹ chưa về khơng có cho trẻ ăn, vì vậy đẻ xong là nhiều

gia đình vội vàng cho trẻ ăn thêm các thực phẩm bổ sung để đợi sữa mẹ về,

PVS nữ hộ sinh E, 40 tuổi).

Thực phẩm cho trẻ ăn/uống trước khi bú mẹ: những thực phẩm mà bà

mẹ hoặc người thân lựa chọn cho trẻ ăn trước khi bú lần đầu chủ yếu là sữa

cơng thức chiếm tỷ lệ 56,7%. Ngồi ra, một số bà mẹ lựa chọn cho trẻ uống

nước đường/cam thảo chiếm tỷ lệ 27,8% . So sánh tỷ lệ này với các nghiên

cứu cho thấy: tỷ lệ nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của

tác giả Đàm Thị Thơ – tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn trước khi bú lần đầu sau khi sinh

là 33,4%, sữa bột là thực phẩm các bà mẹ lựa chọn nhiều nhất cho trẻ ăn trước

khi bú mẹ chiếm 90,5% [81] Nghiên cứu của tác giả Mai Thị Tâm tỷ lệ này là

43,8% và sữa công thức cũng là thực phẩm được bà mẹ ưu tiên lựa chọn cho

trẻ ăn trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh có tỷ lệ 83,7% [76] Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Luận với 27,7%

bà mẹ cho trẻ ăn hoặc uống thực phẩm khác ngoài sữa mẹ trước khi cho trẻ bú

lần đầu sau sinh [83] và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Quân cho tỷ lệ

26,9% bà mẹ cho con ăn uống thực phẩm khác ngoài sữa mẹ trước khi cho

trẻ bú lần đầu sau sinh [84]. Như vậy, mặc dù ở các vùng miền khác nhau, các

bà mẹ vẫn có tập quán gần giống nhau trong việc cho trẻ dùng thực phẩm

trước lần bú đầu tiên. Điều này có thể do ảnh hưởng của việc quảng cáo sữa

công thức tràn lan trên các thông tin đại chúng, gây ra sự ngộ nhận cho bà mẹ

cũng như nhiều người tiêu dùng.



63



Khi được hỏi lý do tại sao bà mẹ lại cho trẻ dùng các thực phẩm khác

ngoài sữa mẹ trước khi cho trẻ bú lần đầu, đa số bà mẹ đưa ra lý do là làm

như vậy trẻ sẽ sạch miệng (51,7%) và vì người xung quanh làm vậy nên

các bà mẹ làm theo (34,0%). Theo khuyến nghị của WHO không cần phải

cho trẻ sơ sinh ăn một thức ăn nào khác trước khi bú mẹ lần đầu vì các thức

ăn này có thể gây nhiễm khuẩn cho trẻ, làm cho trẻ bú kém, bỏ bú, ảnh

hưởng đến cả việc tiết sữa của mẹ sau này.

Tiếp cận quảng cáo về sữa bột cho trẻ: các bà mẹ khi được hỏi về mức

độ tiếp cận quảng cáo hoặc sự kiện khuyến khích dùng sữa bột cho trẻ nhỏ.

Hơn ¾ bà mẹ từng xem quảng cáo về sữa bột cho trẻ nhỏ trên ti vi với 52,9%

nhìn thấy hàng ngày, 29,2% vài lần trong tuần. Ngồi ra, còn có khoảng 1/3

bà mẹ từng nhìn thấy biển, tranh quảng cáo về sữa bột dành cho trẻ nhỏ. Tỷ lệ

bà mẹ tiếp cận quảng cáo sữa bột cho trẻ trên ti vi thấp hơn so với nghiên cứu

của dự án A&T (82,1%), nhưng tỷ lệ nhìn thấy biển, tranh quảng cáo sữa bột

cho trẻ nhỏ thì cao hơn (31,9%). Ti vi là kênh truyền thơng quan trọng về ni

dưỡng trẻ nhỏ. Do vậy, ngồi việc tiếp tục phát triển như một chiến lược

truyền thông thay đổi hành vi, thì kênh truyền thơng qua ti vi nên được bổ

sung với truyền thông thay đổi hành vi qua các kênh truyền thông khác như

bác sỹ, y tá, y tế thôn bản và các cộng tác viên dinh dưỡng.

4.3. Một số yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sữa mẹ sớm trong

thời gian nằm viện sau sinh của các bà mẹ tại khoa Phụ sản - Bệnh viện

ĐKTT tỉnh Lạng Sơn

Tìm hiểu mối liên quan giữa tuổi của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm

trong vòng 1 giờ đầu sau sinh cho thấy những bà mẹ lớn hơn 18 tuổi cho con

bú trong 1 giờ đầu sau sinh cao gấp 3,4 lần so với bà mẹ dưới 18 tuổi với

OR = 3,4. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Điều này có thể



64



giải thích được rằng, những bà mẹ nằm trong độ tuổi sinh đẻ trên 18 tuổi là

thời điểm người phụ nữa phát triển toàn diện về thể chất, hiểu biết tốt hơn, bà

mẹ cũng có điều kiện về nghề nghiệp, kinh tế gia đình thuận lợi cho việc

chăm sóc sức khoẻ khi mang thai cũng như là chăm sóc em bé khi ra đời để

trẻ có thể phát triển một cách tồn diện.

Trình độ học vấn của bà mẹ biểu hiện khả năng nhận thức khoa học, hiểu

biết và thực hành dinh dưỡng. Các bà mẹ được giáo dục sẽ có điều kiện tiếp

xúc với các phương tiện truyền thông, với các dịch vụ y tế cũng như lối sống

đô thị. Điều này giúp họ nhận thức được các kiến thức liên quan đến việc chăm

sóc trẻ. Tìm hiểu sự liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ và thực hành

cho con bú sớm một giờ sau sinh cho thấy có sự liên quan có ý nghĩa thống kê

(p < 0,05) giữa trình độ học vấn của bà mẹ với thực hành của bà mẹ cho con

bú sớm. Nghiên cứu của tác giả Mai Đức Thắng đã tìm thấy sự liên quan giữa

trình độ học vấn của bà mẹ với thời gian cho trẻ bú lần đầu sau sinh nhưng sự

khác biệt này không có ý nghĩa thống kê [44]. Trình độ học vấn liên quan mạnh

mẽ vối sự bắt đầu và thời gian cho con bú sữa mẹ. Những bà mẹ có trình độ

học vấn cao thì sẽ thực hành tốt ni con bằng sữa mẹ đặc biệt là cho con bú

sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Chính vì vậy, để cải thiện kiến thức thực

hành ni trẻ nhỏ, nhóm bà mẹ có trình độ học vấn thấp cần được tư vấn và

truyền thông kỹ lưỡng. Các bà mẹ này cần được ưu tiên, nghiên cứu các hình

thức truyền thơng phù hợp để làm tăng kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ

trong đó có thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh, cải thiện tình trạng dinh dưỡng

của trẻ như: lựa chọn tranh ảnh to, ít chữ, tăng cường làm mẫu, làm mơ hình,

trình diễn, tăng tần suất thực hiện các hoạt động và tạo điều kiện cho bà mẹ có

trình độ học vấn thấp được làm thử và trình diễn.

Nghề nghiệp của mẹ thuường xuyên ảnh hưởng đến dinh dưỡng của

con cũng như việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, bởi lẽ nó ảnh hưởng rất



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.23 Liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin nuôi dưỡng trẻ với thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×