Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ3 3.7: Tỉ lệ trẻ được ăn/uống trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh (N=298)

Biểu đồ3 3.7: Tỉ lệ trẻ được ăn/uống trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh (N=298)

Tải bản đầy đủ - 0trang

46



Biểu đồ: 3.8. Lý do các bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn khác trước khi bú mẹ

lần đầu sau sinh (N=79)

Nhận xét:

Lý do mà bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn khác trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh

là để làm sạch miếng cho trẻ chiếm tỷ lệ cao nhất 51,7%, tiếp đến là bà mẹ thấy

mọi người xung quanh làm vậy nên cho trẻ ăn thức ăn khác trước khi cho bú lần

đầu chiếm tỷ lệ 34%. Bà mẹ nghĩ là cho trẻ ăn trước khi bú lần sau sinh là tốt

cho trẻ và vì thành viên trong gia đình cho trẻ ăn chiếm tỷ lệ bằng nhau 14,3%.

Theo kết quả phỏng vấn sâu vẫn có 4/11 cán bộ y tế cho rằng nên cho

trẻ sử dụng thực phẩm khác ngoài sữa mẹ trước khi cho bú lần đầu.

“Chúng tơi có hướng dẫn bà mẹ và người nhà cho trẻ bú sớm ngay sau

khi sinh, bú nhiều lần trong những ngày đầu tiên rất quan trọng và ảnh hưởng

đến khả năng tiết sữa của bà mẹ những ngày sau. Tuy nhiên, một số bà mẹ và

người nhà tin rằng sữa non rất ít khơng đủ nhu cầu của trẻ, đợi sữa già về mới

nhiều, nên họ bổ sung cho trẻ các thực phẩm khác ngoài sữa mẹ. Cán bộ y tế có

nhắc nhở, tuy nhiên vẫn có một số bà mẹ cho trẻ ăn thêm”. (Chị H, 42 tuổi, nữ hộ



47



sinh)

Bảng 3.16. Thao tác bế trẻ khi cho bú của bà mẹ (N=298)

Cho trẻ bú đúng cách



n



%



Đầu, thân, mông trên một đường thẳng



21



10,6



Bế trẻ áp sát vào người mẹ



103



50,5



Tay và cánh tay đỡ toàn thân trẻ



76



37,3



Miệng trẻ mở rộng ngậm sâu vào quầng



42



20,6



62



30,4



thâm của vú mẹ

Cả bốn phương án trên

Nhận xét:

Thực hành đúng tư thế khi cho trẻ bú của 298 bà mẹ chiếm 30,4%. Số

lượng bà mẹ chỉ thực hành được tư thế bế trẻ áp sát vào người và tư thế tay và

cánh tay đỡ toàn thân trẻ chiếm tỷ lệ cao tương ứng 50,5% và 37,3%.

Bảng 3.17. Tiếp cận quảng cáo sữa bột dành cho trẻ nhỏ (N=298)

Tiếp cận quảng cáo sữa



n



%



240



80,5



Hàng ngày



127



52,9



Vài lần một tuần

Khoảng 1 lần/ tuần



70

20



29,2

8,3



Ít hơn 1 lần/ tuần



23



9,6



Từng nhìn thấy biển quảng cáo, tranh quảng cáo



120



40,3



Từng xem quảng cáo sữa bột cho trẻ nhỏ trên tivi

Tần xuất xem



về sữa bột



48



Nhận xét:

Kết quả điều tra về sự tiếp cận của bà mẹ với quảng cáo sữa bột cho trẻ

nhỏ cho thấy, 80,5% bà mẹ từng xem quảng cáo sữa bột cho trẻ nhỏ trên ti vi

với các tần suất tương ứng theo tỷ lệ 52,9% bà mẹ xem hàng ngày, và tỷ lệ

xem khoảng 1 lần một tuần là thấp nhất 8,3%. Bà mẹ nhìn thấy biển quảng

cáo hay tranh quảng cáo về sữa bột chiếm tỷ lệ 40,3%.

Phỏng vấn sâu cán bộ y tế về các quảng cáo sữa bột cho trẻ nhỏ cho

thấy, toàn bộ nhân viên y tế đều cho biết lợi ích của sữa bột dành cho trẻ nhỏ

khi trẻ bước vào thời kỳ ăn dặm. Còn khi cho trẻ bú sớm 1 giờ sau sinh thì

khơng dùng bất kỳ loại thực phẩm nào kể cả sữa bột.

“Hiện nay, các hãng sữa nội địa cũng như sữa có xuất xứ từ nước

ngồi đều được quảng cáo rất nhiều qua phương tiện truyền thơng, đài,

báo…, do đó, các bà mẹ và người thân sẽ có nhiều cơ hội được tiếp cận với

các sản phẩm sữa bột dành cho trẻ nhỏ. Mặc dù, nhiều bà mẹ biết được lợi

ích cho trẻ bú ngay sau 1 giờ đầu sau sinh, nhưng họ vẫn tin là sữa bột có giá

trị dinh dưỡng tốt hơn cho trẻ nên họ thuường cho trẻ ăn sữa bột trước khi

cho bú sớm.” (Chị K, 32 tuổi, điều dưỡng)



49



3.4. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng bú mẹ sớm

Bảng 3.18. Liên quan giữa đặc điểm chung của bà mẹ với thực hành cho

trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Cho trẻ bú trong

Các yếu tố

Tuổi mẹ

>18 tuổi

 18 tuổi

Trình độ học vấn

Từ THPT trở lên

Từ THPT trở



1 giờ đầu



Khơng

183 (95,8)

8 (4,2)



93 (86,9)

14 (13,1)



153 (80,1)



52 (46,8)



38 (19,9)



55 (51,4)



54 (28,3)



38 (35,5)



Công nhân



41 (21,5)



35 (32,7)



Kinh doanh



34 (17,8)



11 (10,3)



Cán bộ công chức



47 (24,6)



18 (16,8)



Khác



15 (7,9)



5 (4,7)



143 (74,9)

48 (25,1)



14 (13,1)

93 (86,9)



xuống

Nghề nghiệp

Nông dân



Dân tộc

Kinh

Dân tộc khác



p



p < 0,05



p < 0,001



OR

95% CI

3,4

(1,4 – 8,5)

4,3

2,5 – 7,2



2,1

(0,7 – 6,3)

2,6

p > 0,05



(0,6 – 7,8)

0,9

(0,3 – 3,3)

1,2

(0,4 – 3,6)



p < 0,001



19,8

(10,3 – 37,9)



Nhận xét:

Kết quả bảng 3.22 cho thấy, có liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi

của bà mẹ, trình độ học vấn và dân tộc với thực hành cho con bú trong vòng 1

giờ đầu sau sinh.



50



Tỷ lệ bà mẹ lớn hơn 18 tuổi cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh cao gấp

3,4 lần so với bà mẹ dưới 18 tuổi với OR = 3,4 (95% CI: 1,4 – 8,5, p < 0,05).

Trình độ học vấn có ảnh hưởng đáng kể đến thực hành cho con bú

trong một giờ đầu của bà mẹ. Bà mẹ có trình độ học vấn trên PTTH có thực

hành cho con bú sớm sau sinh cao gấp 4,3 lần so vơi bà mẹ có trình độ học

vấn dưới PTTH với OR = 4,3 (95%CI: 2,5 – 7,2, p< 0.001).

Bà mẹ là người dân tộc kinh thực hành cho con bú sớm 1 giờ đầu sau

sinh cao gấp 19,8 lần so với bà mẹ là người dân tộc khác với OR = 19,8 (95%

CI: 10,3 – 37,9, p<0,001).

Mối liên quan giữa nghề nghiệp của bà mẹ và thực hành cho con bú

sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.



51



Bảng 3.19. Liên quan giữa thông tin của trẻ và thực hành bú mẹ trong

vòng một giờ đầu sau sinh (N=298)

OR



Cho trẻ bú trong 1 giờ đầu

Các yếu tố







Con thứ

Thứ 2 trở lên

120 (62,8)

Thứ nhất

71 (37,2)

Cân nặng trẻ (gram)

≥ 2500

180 (94,2)

< 2500

11 (5,8)

Tuổi thai

≥ 39 tuần

45 (23,6)

< 39 tuần

146 (76,4)



Không



p



50 (46,7)

57 (53,3)



p < 0,001



93 (86,9)

14 (13,1)



p < 0,05



28 (26,2)

79 (73,5)



p > 0,05



95%CI



1,9

(1,2 – 3,1)

2,5

(1,1 – 5,6)

0,9

(0,5 – 1,5)



Nhận xét:

Các yếu tố về đặc điểm của trẻ như: thứ tự sinh con và cân nặng của trẻ

khi sinh có liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành cho trẻ bú trong một

giờ đầu sau sinh của bà mẹ. Bà mẹ sinh con thứ hai thực hành cho con bú sớm

sau sinh cao gấp 1,93 lần bà mẹ sinh con thứ nhất với OR = 1,9 (1,19 – 3,1) với

p < 0,001. Tương tự, bà mẹ có trẻ sinh ra có cân nặng = trên 2500 gram có thực

hành cho con bú sớm sau sinh cao gấp 2,5 lần so với bà mẹ có trẻ sinh ra có

cân nặng nhỏ hơn 2500 gram với OR = 2,5 (1,1 – 5,6) với p < 0,05. Tuổi thai

khơng có liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm 1 giờ sau sinh với p > 0,05.



52



Bảng 3.20. Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về sữa non với thực hành

cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh(N=298)

Kiến thức về



Cho trẻ bú trong 1 giờ đầu



sữa non







Khơng





Khơng



142 (74,3)

49 (25,7)



74 (69,2)

33 (30,8)



OR



p



(95%CI)



p > 0,05



1,3

(0,8 – 2,2)



Nhận xét:

Điều tra liên quan giữa kiến thức về sữa non của bà mẹ với thực hành

cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh có mối liên quan nhưng

khơng có ý nghĩa thống với p > 0,05.

Bảng 3.21. Liên quan giữa thực hành sử dụng thực phẩm cho trẻ ăn trước

khi bú sau sinh với thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh

(N=298)

Thực hành sử

dụng thực phẩm



Cho trẻ bú trong 1 giờ đầu



cho trẻ ăn trước

khi bú sau sinh

Khơng









Khơng



153 (80,1)

38 (19,9)



55 (51,4))

52 (48,6)



p



p < 0,001



OR

(95%CI)

3,8

(2,3 – 6,4)



Nhận xét:

Điều tra mối liên quan giữa thực hành sử dụng thực phẩm cho trẻ ăn

trước khi bú sau sinh với thực hành cho trẻ bú sớm 1 giờ sau sinh cho thấy, bà

mẹ không sử dụng bất kỳ loại thực phẩm nào trước khi cho trẻ bú sau sinh có

thực hành cho con bú sớm sau sinh cao gấp 3,8 lần so với nhóm còn lại, với

OR = 3,8 (95% CI: 2,3 – 6,4; p < 0,001).



53



Bảng 3.22. Liên quan giữa hình thức sinh con với thực hành cho trẻ bú

trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Hình thức sinh

Thường

Mổ



Bú mẹ trong 1 giờ đầu



Khơng

124 (64,9)

67 (35,1)



46 (43,0)

61 (57,0)



OR

p

p < 0,001



(95% CI)

2,5

(1,5 – 4,0)



Nhận xét:

Qua điều tra cho thấy có mối liên quan về hình thức sinh và thực hành

cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, bà mẹ sinh thuường có tỷ lệ

cho con bú sớm sau sinh cao hơn gấp 2,45 lần so với bà mẹ sinh mổ, với

OR = 2,5, (95% CI: 1,15 – 4,0, < 0,001)

Bảng 3.23 Liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin nuôi dưỡng trẻ với

thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Hình thức



Bú mẹ trong 1 giờ đầu



truyền thơng

Cán bộ y tế, các







Khơng



phương tiện



161 (84,3)



67 (62,6)



truyền thơng

Khác (gia đinh,

bạn bè, …)



p



(95% CI)

3,2



p < 0,001

30 (15,7)



OR



(1,8 – 5,6)



40 (37,4)



Nhận xét:

Những bà mẹ nhận được nguồn thông tin truyền thông về ni con bằng

sữa mẹ thì có thực hành cho con bú sớm sau sinh gấp 3,2 lần so với nhóm

chưa từng tiếp cận nguồn thơng tin này. Với OR = 3,2 (95% CI: 1,8 – 5,6). Sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.



54



Chương 4

BÀN LUẬN



Nuôi con bằng sữa mẹ cần được hiểu như một vấn đề sức khoẻ cộng

đồng, cần có một chiến lược thúc đẩy mạnh mẽ. Bên cạnh đó mỗi bà mẹ khi

sinh con đều phải có hiểu biết đúng, thực hành tốt về ni con bằng sữa mẹ.

Đây chính là biện pháp nhằm tăng cường sức khoẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng

và bệnh tật ở trẻ. Ni con hồn tồn bằng sữa mẹ có nghĩa là chỉ cho con bú

sữa mẹ mà không cho ăn bất kỳ một loại thức ăn, nước uống nào khác, ngay

kể cả nước đun sôi để nguội. Vì sữa mẹ trong 6 tháng đầu đáp ứng đủ nhu cầu

nước và các chất dinh dưỡng để cho trẻ phát triển tốt. Bên cạnh đó, ni con

hồn toàn bằng sữa mẹ là một trong những biện pháp tránh thai an tồn và

hiệu quả. Khơng những thế, đây còn là một giải pháp tiết kiện được về kinh tế

và thời gian.

Trẻ sau khi sinh được bú trong vòng 1 giờ đầu là yếu tố rất quan trọng,

quyết định sự thành công của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Trẻ được bú sớm

trong vòng 1 giờ đầu sau sinh sẽ giảm được rủi ro mắc các bệnh mãn tính ở

tuổi trưởng thành như: đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch. Trẻ bú mẹ sẽ

phát triển hài hoà cả về thể chất lẫn tinh thần, phòng tránh được thừa cân béo

phì. Hiện nay, theo điều tra tồn quốc của dự án A&T 20,2% trẻ được bú sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, và 50,5% trẻ được bú mẹ sớm trong 1 giờ

đầu sau khi sinh [74]. Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới, có đồng bào dân

tộc sinh sống, nên việc nuôi dưỡng trẻ dưới 2 tuổi của các bà mẹ còn hạn chế.

Nghiên cứu này giúp chúng ta có một cái nhìn tồn cảnh về thực trạng chăm

sóc trẻ tại đây.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ3 3.7: Tỉ lệ trẻ được ăn/uống trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh (N=298)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×