Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết qủa bảng 3.8 cho thấy, số lượng bà mẹ cho biết thời gian cai sữa trẻ trong khoảng thời gian từ 18 – 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 71,1% và thời gian cai sữa hơn 24 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,4%.

Kết qủa bảng 3.8 cho thấy, số lượng bà mẹ cho biết thời gian cai sữa trẻ trong khoảng thời gian từ 18 – 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 71,1% và thời gian cai sữa hơn 24 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,4%.

Tải bản đầy đủ - 0trang

40



Biều đồ 3.6. Kiến thức về cách duy trì và tăng nguồn sữa mẹ của bà mẹ

(N=298)

Nhận xét:

Kết quả điều tra cho thấy, kiến thức của bà mẹ về cách duy trì và tăng

nguồn sữa mẹ của bà mẹ: bà mẹ biết chế độ ăn đảm bảo đủ cả về chất và lượng

chiếm tỷ lệ cao 64,4%, tiếp đó tinh thần của bà mẹ phải thoải mái và ngủ đủ giấc

chiếm tỷ lệ 42,5%. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về việc duy trì và tăng nguồn

sữa là 10,5% và 13,3% là tỷ lệ bà mẹ khơng có kiến thức về câu hỏi này.

Bảng 3.10. Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ

của các bà mẹ (N=298)

Nguồn thông tin về NCBSM

Phương tiện truyền thông: báo, đài, tivi, …

Cán bộ y tế

Người thân

Kinh nghiệm bản thân

Bạn bè



n

128

105

46

34

25



%

44,9

36,8

16,1

11,9

8,8



Nhận xét:

Kết quả điều tra nguồn thông tin cung cấp kiến thức về nuôi con bằng



41



sữa mẹ chủ yếu từ cán bộ y tế và các phương tiện truyền thông như: báo, đài,

ti vi… chiếm đa số với tỷ lệ 36,8% và 44,9%. Nguồn thông tin từ bạn bè

chiếm tỷ lệ thấp nhất 8,8%.

3.3. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ sớm của các bà mẹ sau sinh

Bảng 3.11. Tỉ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm 1 giờ đầu sau sinh (N=298)

Thời gian cho bú lần đầu

Trong vòng 1 giờ đầu sau sinh

Sau 1 giờ đầu

Tổng

Nhận xét:



n

191

107



%

64,1

35,9



298



100



Điều tra thực hành cho trẻ bú sớm, tỷ lệ bà mẹ cho con bú trong 1 giờ

đầu sau sinh (64,1%) cao hơn so với tỷ lệ bà mẹ cho con bú sau 1 giờ đầu sau

sinh (35,9%).

Khi được phỏng vấn sâu về công tác hỗ trợ bà mẹ cho con bú sớm sau

sinh tại Khoa, nhóm cán bộ y tế được phỏng vấn sâu cho biết, tất cả các bà mẹ

sau khi sinh đều được nhân viên y tế hỗ trợ da tiếp da, và cho con bú sớm sau

sinh ngay lập tức. Tuy nhiên trong một số trường hợp như bà mẹ đẻ mổ, trẻ đẻ

non thì cơng tác này không được tiến hành ngay. Trong trường hợp mẹ sinh

mổ, da tiếp da có thể gây đau và khó chịu cho bà mẹ. Còn cụ thể khi trẻ sinh

non thì trẻ cần được hỗ trợ các chăm sóc khác về y tế.

“Ngay sau khi bà mẹ sinh, chúng tôi ln cố gắng tạo mọi điều kiện

thực hiện q trình da tiếp da giúp cho trẻ có phản xạ tự nhiên tìm vú mẹ để

bú đồng thời cũng tác động tốt đến quá trình tạo sữa của mẹ. Tuy nhiên trong

trường hợp mẹ sinh mổ thì việc da tiếp da và cho bú sớm sau sinh gặp nhiều

khó khăn. Nếu trẻ sinh non cũng thế, bé cần nhận được các chăm sóc khác về

y tế nhiều hơn là da tiếp da và bú sớm sau sinh. Mọi người ở đây ai cũng làm

thế cả” (Chị C, 35 tuổi, nữ hộ sinh).

Bảng 3.12. Lý do bà mẹ cho trẻ bú sớm 1 giờ đầu sau sinh (N = 191)

Lý do trẻ bú sớm 1giờ đầu sau sinh

Trẻ được trả về với mẹ ngay

Để sữa về nhanh hơn



N

76

64



%

37,4

31,5



42



Tốt cho trẻ

Tại trẻ khóc

Tổng



47

39

191



23,2

19,2

100



Nhận xét:

Trong số 191 bà mẹ cho bú trong 1 giờ đầu sau sinh, tỷ lệ trẻ được trả

ngay về với mẹ giúp bà mẹ thực hành cho com bú sớm 1 giờ đầu sau sinh

chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 37,4%. Tiếp đến là để kích thích sữa về nhanh hơn

thì bà mẹ cho com bú sớm chiếm tỷ lệ 31,5%. Lý do trẻ quấy khóc nên bà mẹ

mới cho bú sớm chiếm tỷ lệ thất nhất 19,2%.

Khi trẻ vừa được sinh ra, bà mẹ được hỗ trợ cho bú sớm sau sinh. Tuy

nhiên theo kết quả phỏng vấn sâu của chúng tôi, 9/11 cán bộ y tế được phỏng

vấn đồng ý rằng, cơng tác tư vấn về lợi ích của da tiếp da và cho bú sớm sau

sinh còn nhiều hạn chế. Đặc biệt trong trường hợp bà mẹ có trình độ học vấn

thấp hoặc dân tộc thiểu số thì bà mẹ chỉ thực hành cho con bú sớm sau sinh

do có sự yêu cầu từ nhân viên y tế.

“Chúng tơi có hỗ trợ bà mẹ cho con bú sớm sau sinh, tuy nhiên giải

thích thì chúng tơi khơng có thời gian nhiều, vì sau khi sinh còn nhiều chăm

sóc khác phải giải thích cho bà mẹ, và việc tư vấn thì mất khá nhiều thời

gian. Tơi nghĩ bà mẹ nên biết đến việc này trước khi sinh thì tốt hơn”. (Chị D,

35 tuổi, nữ hộ sinh).



43



Bảng 3.13. Lý do cho trẻ bú muộn trên 1 giờ sau sinh của các bà mẹ

(N=107)

Lý do bú muộn trên 1 giờ sau sinh

n

%

Mẹ mệt khơng cho con bú được

88

44,4

Mẹ chưa có sữa

64

32,2

Trẻ ngủ và không chịu bú

45

23,2

Mẹ mổ phải nằm riêng

36

18,2

Con phải nằm riêng vì lý do sơ sinh

13

6,6

Nhận xét:

Điều tra 107 bà mẹ không cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh cho thấy

lý do mà bà mẹ không thực hiện cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh

được là do mẹ mệt chiếm tỷ lệ cao nhất 44,4%, tiếp đến là lý do mẹ chưa có

sữa chiếm tỷ lệ 32,2%, tỷ lệ con phải nằm riêng vì lý do sơ sinh nên khơng

được bú sớm trong 1 giờ đầu chiếm tỷ lệ thấp nhất 6,6%.

Mặc dù được hỗ trợ cho con bú sớm sau sinh, tuy nhiên một số trường

hợp bà mẹ vẫn không cho con bú sớm, hoặc từ chôi phối hợp. Khi phỏng vấn

sâu cán bộ y tế về lý do mà bà mẹ không cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau

sinh. Các cán bộ y tế làm việc tại khoa giải thích rằng trong một số trường

hợp khơng nên cho trẻ bú như mẹ nhiễm HIV (7/11 cán bộ y tế), mẹ sinh mổ,

con bị suy hô hấp (4/11 cán bộ y tế). Các trường hợp còn lại là do phần lớn bà

mẹ đều có tư tưởng rằng khi vừa sinh xong thì sữa chưa kịp về để cho trẻ bú,

đồng thời vừa trải qua cuộc sinh nở sức khoẻ của bà mẹ cũng yếu hơn vì thế

người nhà đã cho trẻ uống lót dạ một số thức uống khác ngồi sữa mẹ. Trên

thực tế được ghi nhận, một số bà mẹ không cố gắng cho con bú sớm sau sinh,

hoặc khơng duy trì cho trẻ bú nhiều lần trong ngày đầu tiên sau sinh. Bà mẹ

sau khi được hỗ trợ từ nhân viên y tế cho trẻ bú sớm sau sinh thì bắt đầu cho

trẻ uống sữa cơng thức hoặc các thực phẩm thay thế để đợi sữa về.

“Trong số những bà mẹ cho con bú ngay sau sinh thì vẫn có bà mẹ

khơng cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh là do bà mẹ bị nhiễm HIV

hoặc trẻ bị suy hô hấp không thể cho trẻ bú được. Tuy nhiên, nguyên nhân

chính là do bà mẹ có kiến thức nên cho trẻ bú sớm nhưng vẫn khơng thực

hiện vì thấy người thân hay những người xung quanh mình khơng làm nên

cũng khơng làm hoặc người nhà không cho làm hoặc do kinh nghiệm của bản

thân họ. Phần lớn họ đều tin rằng sữa mẹ chưa về, phải đợi vài ngày nữa sữa

mới về đủ cho trẻ bú” (Chị B, 35 tuổi, bác sĩ).



44



Bảng 3.14. Tình trạng vắt bỏ sữa non của các bà mẹ sau khi sinh

Chỉ số

Vắt bỏ sữa non



Lý do





Khơng

Tổng

Vì nghĩ rằng sữa đó khơng tốt

Vì sợ sữa sống, sữa cũ, sữa lạnh

Vì mẹ, người thân bảo thế



n

36

262

298

23

35

32



%

12,1

87,9

100

27,1

41,2

37,6



Nhận xét:

Tỷ lệ bà mẹ không vắt bỏ sữa non (87,9%) cao gấp 7,3 lần bà mẹ vắt bỏ

sữa non sau khi sinh (12,1%). Trong số đó, lý do mà bà mẹ đưa ra là do sợ sữa

sống, sữa cũ, sữa lạnh chiếm 41,2%.

Tìm hiểu về kiến thức của nhóm cán bộ y tế về việc có nên vắt bỏ sữa

non, 11/11 cán bộ y tế có kiến thức đúng về sữa non và đồng ý rằng sữa non

rất quý cho giai đoạn đầu đời của trẻ, không nên vắt bỏ. Họ cho rằng trẻ được

bú sữa non là bữa bú đầu tiên rất quan trọng và sữa non tiết trong vài ngày

đầu sau sinh.

“Việc trẻ không được bú sữa non sẽ làm giảm khả năng miễn dịch của

trẻ mới sinh nói chung và trẻ sinh mổ nói riêng. Sữa mẹ đặc biệt là sữa non

có chứa nhiều chất kháng thể và dinh dưỡng tốt cho trẻ. Vì vậy, sau khi sinh

chúng tơi cố gắng hướng dẫn để bà mẹ cho con bú ngay những giọt sữa non

đầu tiên. Mặc dù vậy, một số bà mẹ có kiến thức đúng về sữa non nhưng lại

do ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như người thân, các quan niệm cổ

hủ... đã vắt bỏ nguồn sữa quý này” (Chị D, 38 tuổi, nữ hộ sinh)



45



Biểu đồ3 3.7: Tỉ lệ trẻ được ăn/uống trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh

(N=298)

Nhận xét:

Tỷ lệ bà mẹ thực hành không cho con ăn bất kỳ thức ăn gì kể cả uống

nước trước khi cho con bú lần đầu sau sinh chiếm tỷ lệ 69,8%. Tuy nhiên, vẫn

có 30,2% bà mẹ cho ăn/uống trước khi trẻ bú lần đầu sau sinh.

Bảng 3.15. Thực phẩm cho trẻ ăn/uống trước khi bú mẹ lần đầu (N=90)

Thực phẩm uống/ăn trước khi bú mẹ

Nước đường/cam thảo

Mật ong



n

25

10



%

27,8

11,1



Nước lọc

Sữa công thức



4

51

90



4,4

56,7

100



Tổng

Nhận xét:



Trong số 90 bà mẹ cho con ăn/uống trước khi bú lần đầu sau sinh, loại

thực phẩm bà mẹ cho trẻ ăn chiếm tỷ lệ cao nhất là sữa công thức 56,7%, tiếp

đến bà mẹ cho trẻ uống nước đường/cam thảo trước khi bú làn đầu chiếm

27,8% và thấp nhất là tỷ lệ bà mẹ cho trẻ uống nước lọc là 4,4%.



46



Biểu đồ: 3.8. Lý do các bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn khác trước khi bú mẹ

lần đầu sau sinh (N=79)

Nhận xét:

Lý do mà bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn khác trước khi bú mẹ lần đầu sau sinh

là để làm sạch miếng cho trẻ chiếm tỷ lệ cao nhất 51,7%, tiếp đến là bà mẹ thấy

mọi người xung quanh làm vậy nên cho trẻ ăn thức ăn khác trước khi cho bú lần

đầu chiếm tỷ lệ 34%. Bà mẹ nghĩ là cho trẻ ăn trước khi bú lần sau sinh là tốt

cho trẻ và vì thành viên trong gia đình cho trẻ ăn chiếm tỷ lệ bằng nhau 14,3%.

Theo kết quả phỏng vấn sâu vẫn có 4/11 cán bộ y tế cho rằng nên cho

trẻ sử dụng thực phẩm khác ngoài sữa mẹ trước khi cho bú lần đầu.

“Chúng tơi có hướng dẫn bà mẹ và người nhà cho trẻ bú sớm ngay sau

khi sinh, bú nhiều lần trong những ngày đầu tiên rất quan trọng và ảnh hưởng

đến khả năng tiết sữa của bà mẹ những ngày sau. Tuy nhiên, một số bà mẹ và

người nhà tin rằng sữa non rất ít không đủ nhu cầu của trẻ, đợi sữa già về mới

nhiều, nên họ bổ sung cho trẻ các thực phẩm khác ngồi sữa mẹ. Cán bộ y tế có

nhắc nhở, tuy nhiên vẫn có một số bà mẹ cho trẻ ăn thêm”. (Chị H, 42 tuổi, nữ hộ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết qủa bảng 3.8 cho thấy, số lượng bà mẹ cho biết thời gian cai sữa trẻ trong khoảng thời gian từ 18 – 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 71,1% và thời gian cai sữa hơn 24 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,4%.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×