Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong những năm gần đây, NCBSM được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực dinh dưỡng trẻ em. Đã có nhiều hội nghị trong nước và quốc tế giành riêng cho vấn đề này vì tính thực tế và tính ưu việt của nó. Tổ chức Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) đã coi NCBSM

Trong những năm gần đây, NCBSM được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực dinh dưỡng trẻ em. Đã có nhiều hội nghị trong nước và quốc tế giành riêng cho vấn đề này vì tính thực tế và tính ưu việt của nó. Tổ chức Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) đã coi NCBSM

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



thấy rằng có một sự khác nhau có ý nghĩa giữa những trẻ được bú mẹ hoàn

toàn với trẻ ăn nhân tạo [12].Trẻ bú sữa mẹ thường phát triển trí tuệ thơng

minh hơn trẻ ăn sữa bò [7].

Ni con bằng sữa mẹ làm giảm tỷ lệ bệnh tật cho trẻ

Tổ chức UNICEF ước tính rằng hàng năm có khoảng 1 triệu trẻ em trên

tồn thế giới chết vì các lý do gián tiếp hay trực tiếp có liên quan đến không

hoặc thiếu nuôi dưỡng bằng sữa mẹ [13].

NCBSM là biện pháp ni dưỡng tự nhiên, tuyệt đối an tồn và hiệu

quả. Chandra (1979) thấy rằng trẻ được bú mẹ không những giảm tỉ lệ nhiễm

trùng mà còn giảm tỉ lệ dị ứng ở trẻ nhỏ [14]. Sữa mẹ có tác dụng chống dị

ứng. Trẻ bú mẹ ít bị dị ứng, ezema như ǎn sữa bò [7].

Ở Châu Mỹ La tinh hàng năm có khoảng 500 nghìn trẻ em dưới 5 tuổi

chết do ỉa chảy, mà hầu hết xảy ra ở trẻ em dưới 1 tuổi. Người ta nhận thấy

rằng nguy cơ trẻ chết do ỉa chảy ở trẻ em ăn nhân tạo cao hơn gấp 14 lần so

với trẻ được bú mẹ [15],[16]. Những nghiên cứu khác do Victora và cộng sự

(1977), (1987), Brend & cs (1988) cũng chỉ ra rằng hầu hết những trường hợp

bệnh nhiễm khuẩn cấp ở trẻ em có một sự liên quan lớn đối với trẻ được nuôi

bằng nhân tạo [17], [18], [19].

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Trọng An, Đào Ngọc Diễn (1983)

ở các trẻ nội ngoại thành cũng chỉ rõ tỉ lệ suy dinh dưỡng và mắc bệnh tiêu

chảy, nhiễm trùng hô hấp ở trẻ dưới 12 tháng cao hơn một cách có ý nghĩa ở

nhóm trẻ khơng được bú mẹ so với nhóm trẻ được bú mẹ [20].

Theo tài liệu của WHO, những trẻ từ 0 đến 2 tháng tuổi mà khơng

được bú mẹ thì tỷ lệ bị ỉa chảy cao hơn 2 lần và nguy cơ trẻ chết do những

ảnh hưởng của nó tăng gấp 25 lần so với những đứa trẻ được bú mẹ. Hơn thế

nữa những đứa trẻ không được bú mẹ nguy cơ chết do viêm phổi gấp 4 lần

so với những đứa trẻ được bú mẹ hoàn toàn (Zoya & cs, 1991) [21]. Cho con



8



bú hoàn tồn từ 4-6 tháng và tiếp tục cho bú ít nhất 2 năm làm giảm bệnh tật

và đặc biệt ỉa chảy và những bệnh nhiễm trùng khác. NCBSM làm giảm

những trường hợp chết do ỉa chảy 32%, nhiễm khuẩn hô hấp 22%, và những

nhiễm trùng khác là 17% (Monterio,1990) [22].

Ngoài bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp và suy dinh dưỡng, Ducan và

cộng sự (1993) nghiên cứu trên 1220 trẻ nhỏ chỉ ra rằng số trẻ bị viêm tai giữa

ở trẻ bú mẹ hoàn toàn từ 4-6 tháng chỉ bằng ½ trẻ không được bú mẹ và bằng

40% số trẻ được bú mẹ và cho ăn < 4 tháng [23].

Viện hàn lâm nhi khoa Hoa Kỳ năm 1997 đã công nhận những lợi ích

đối với trẻ được ni bằng sữa mẹ. Nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu

và các nước phát triển khác trên dân số ở tầng lớp trung lưu cho thấy việc

NCBSM giúp giảm tần suất và hoặc mức độ trầm trọng của bệnh tiêu chảy,

viêm đường hô hấp dưới, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não

do vi khuẩn, nhiễm trùng niệu và viêm ruột hoại tử. Một số nghiên cứu cho

thấy NCBSM có thể có tác dụng bảo vệ đối với hội chứng đột tử ở trẻ em,

bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulin, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng, các

bệnh dị ứng và các bệnh lý mãn tính khác của đường tiêu hóa [24].

Theo thống kê của UNICEF cho thấy suy dinh dưỡng protein – năng

lượng xuất hiện nhiều nhất ở lứa tuổi từ 4 đến 18 tháng tuổi trong đó ở lứa

tuổi dưới 12 tháng có ngun nhân chủ yếu là khơng được bú sữa mẹ hoặc

cho trẻ ăn bổ sung quá sớm [25].

1.3.1.2. Đối với mẹ

Bên cạnh những lợi ích của sữa mẹ đối với trẻ thì việc cho con bú cũng

mang lại rất nhiều lợi ích và thuận tiện cho người mẹ. NCBSM gíúp cho bà

mẹ chóng co hồi tử cung, tránh băng huyết sau đẻ. Khi trẻ bú sẽ kích thích

hypothalamus sản xuất ra một hormone khác đó là oxytocin có tác dụng co

các tế bào cơ ở xung quanh tuyến sữa gây nên phản xạ tiết sữa. Oxytocin



9



cũng có tác dụng trên cơ tử cung, do đó nếu trẻ bú mẹ ngay lập tức sau đẻ,

oxytocin sẽ được sản xuất và tác dụng lên tế bào cơ tử cung giúp cho việc

cầm máu nhanh sau đẻ [26], [27].

Cho con bú đòi hỏi một sự tiêu hao năng lượng từ 200 đến

500Kcal/ngày, tương đương với đạp xe đạp trong vòng 1 giờ. Điều này giúp

bà mẹ giảm cân nhanh hơn sau sinh [24].

NCBSM làm chậm có thai và có kinh trở lại sau sinh. Lượng sắt mà bà

mẹ dùng để tạo sữa ít hơn so với lượng sắt mất đi do hành kinh. Điều này

cũng giúp hạn chế thiếu máu do thiếu sắt [24].

NCBSM có thể làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng và ung thư vú ở

phụ nữ tiền mãn kinh [24].

Mặc dù cơ thể bà mẹ cần nhiều calcium cho việc tạo sữa, nhưng người

ta nhận thấy rằng sau khi cai bú, mật độ xương trở về như trước khi có thai,

thậm chí còn cao hơn. Vài nghiên cứu gần đây cho thấy các bà mẹ khơng cho

con bú có nguy cơ gãy xương chậu sau mãn kinh cao hơn so với các bà mẹ

NCBSM [24].

1.3.1.3. Gắn bó tình cảm mẹ con

Cho con bú giúp tạo ra sự kết nối tình cảm giữa mẹ và bé. Chỉ người mẹ

mới có thể làm cơng việc cho con bú và đây thực sự là một mối liên kết thiêng

liêng mà khơng ai có thể chia sẻ được.

Rất tiện lợi và linh động, không cần phải chuẩn bị hay phải chờ đợi.

NCBSM giúp mẹ và con có nhiều thời gian gần gũi tự nhiên đó là yếu tố

tâm lý quan trọng giúp cho sự phát triển hài hoà của đứa trẻ cả về trí tuệ, nhân

cách và tình cảm, giúp cho bà mẹ giảm căng thẳng và đặc biệt giảm tỉ lệ bệnh

trầm cảm sau sinh [24].

1.3.1.4. Hiệu quả kinh tế của NCBSM

Nuôi con bằng sữa mẹ giúp mẹ tiết kiệm hơn nhiều so với việc cho bé

ăn bằng sữa cơng thức, vì chi phí thức ăn bổ sung cần thiết cho người mẹ



10



không đáng kể so với chi phí khi mua sữa cơng thức cho bé. Điều này giúp

mẹ tiết kiệm một khoản tiền để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hằng ngày của

gia đình tốt hơn.

Sữa mẹ ln có sẵn và ở nhiệt độ thích hợp, cho trẻ ăn ngay dù mùa

đông hay mùa hè. Cho con bú sữa mẹ sẽ thuận lợi vì khơng phụ thuộc vào giờ

giấc, không cần phải đun nấu, dụng cụ pha chế. Khi người mẹ ǎn uống đầy

đủ, tinh thần thoải mái thì sẽ đủ sữa cho con bú.

Như vậy, NCBSM gắn liền với sự ra đời và trường tồn của nhân loại.

Tạo hóa sinh ra con người và ban tặng nguồn sữa mẹ quý giá cho trẻ nhỏ. Sữa

mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất đảm bảo sự sống còn và phát triển tối ưu cho

trẻ nhỏ mà khơng có một loại thức ăn gì có thể thay thế được.

1.3.2. Tầm quan trọng của cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh

Cho trẻ bú sớm sau sinh là biện pháp rất quan trọng vì trong giờ đầu

tiên của cuộc đời trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo nhanh nhẹn nhất và dễ thực

hiện hành vi bú mẹ nhất. Khi thời điểm này qua đi, trẻ trở nên buồn ngủ hơn

vì bắt đầu hồi phục sau q trình thở. Trong giờ đầu tiên đó, quan trọng là để

trẻ gần mẹ, tránh tách mẹ và con để trẻ có cơ hội được bú sớm. Khơng cho trẻ

bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh là một trong những dấu hiệu dự báo

mạnh mẽ nhất việc trẻ sẽ bị thôi bú sớm sau 2 tháng [28].

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng

định rằng cho trẻ bú sớm trong vòng vài giờ đầu sau sinh và bú mẹ hồn tồn

trong vòng 6 tháng đầu có thể cứu sống được trên 1 triệu trẻ em hàng năm, là

một can thiệp có hiệu quả nhất trong tất cả các can thiệp cứu sống trẻ em [29].

Nuôi con bằng sữa mẹ sớm làm cho sữa mẹ xuống sớm, bởi vì động tác

mút vú của trẻ sẽ kích thích tuyến n giải phóng prolactin, nó sẽ kích thích

các tế bào tuyến sữa sản xuất ra sữa. Như vậy trẻ càng bú nhiều thì càng có

nhiều prolactin và sữa sẽ được tiết ra nhiều. Như vậy cách đơn giản nhất, kinh



11



điển nhất và tự nhiên nhất để tăng lượng sữa của bà mẹ là cho con bú thường

xuyên nhiều lần. Một đứa trẻ đói thường bú nhiều hơn là những đứa trẻ đã no,

nếu cho trẻ ăn những thức ăn khác trước khi bú, nó có thể làm cản trở sự tiết

sữa (Lawrence, 1980, Cameron & Hofvander, 1983. Helsing & King, 1985),

[30], [31], [8]. Nghiên cứu cho thấy, sữa mẹ được bắt đầu tiết ra sớm hơn ở

những người mẹ cho con bú sớm, cho bú nhiều lần. Sữa mẹ được bắt đầu tiết

ra sớm một cách rõ ràng ở những bà mẹ bắt đầu cho con bú trong vòng một

giờ đầu sau khi đẻ hơn các bà mẹ chờ cho sữa xuống tự nhiên

1.4. Cách nuôi con bằng sữa mẹ

1.4.1. Cho trẻ bú sữa mẹ sớm

Thời gian bắt đầu cho trẻ bú theo khuyến cáo của WHO cũng như chiến

lược hợp tác của WHO và UNICEF về sự sống còn của trẻ đã khuyến nghị mẹ

nên cho con bú sữa mẹ trong vòng giờ đầu sau đẻ giúp trẻ tận dụng được sữa

non là loại sữa tốt, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với

cơ thể non nớt của trẻ, bú càng sớm càng tốt và không cần cho trẻ mới đẻ ăn

bất kỳ thức ăn gì trước khi bú mẹ lần đầu.

1.4.2. Số lần cho bú: Trẻ bú càng nhiều thì sữa mẹ càng được bài tiết nhiều. Số

lần cho bú tùy thuộc vào nhu cầu của trẻ, cho trẻ bú bất cứ khi nào trẻ muốn, ít

nhất 8 lần trong ngày, bú cả ngày và đêm [32]. Mỗi bữa bú cho trẻ bú kiệt một

bên rồi mới chuyển sang vú bên kia để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo [7].

1.4.3. Cho bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi: Nghiên cứu của Almroth & cs

(1990) cho thấy rằng những đứa trẻ khỏe mạnh mà được bú mẹ đầy đủ thì nó

hồn tồn thỏa mãn nhu cầu về năng lượng, đủ các dịch lỏng thậm chí trong

những ngày nóng và khơ. Do vậy, khơng cần cung cấp nước cho những đứa

trẻ bú mẹ hoàn toàn ở cả những nơi điều kiện nóng và khơ cằn [33]. Khi trẻ bị

bệnh, ngay cả khi trẻ bị tiêu chảy vẫn tiếp tục cho bú. Khi trẻ bị đẻ non, yếu

ớt không mút được vú mẹ, hay trong trường hợp bị mắc một số bệnh không

bú được cần vắt sữa cho trẻ ăn bằng thìa [34].



12



1.4.4. Thời điểm cai sữa

Thời gian cho trẻ bú kéo dài trung bình 18 – 24 tháng hoặc lâu hơn nếu

có thể [32], [34], khơng nên cai sữa cho trẻ trước 12 tháng, khi cai sữa nên cai

từ từ để dần dần thay thế sữa mẹ và quen dần với thức ăn thay thế. Không cai

sữa khi trẻ bị ốm, bị tiêu chảy vì thức ăn thay thế hoàn toàn sữa mẹ dễ làm

cho trẻ rối loạn tiêu hóa gây hậu quả trẻ bị SDD. Khi cai sữa chú ý chế độ ăn

của trẻ phải đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ với cách chế

biến thích hợp [34].

1.4.5. Cách cho trẻ bú: Khi cho trẻ bú, người mẹ ở tư thế thoải mái, có thể

nằm hoặc ngồi cho bú, để tồn thân trẻ sát vào người mẹ, miệng trẻ ngậm sâu

vào quầng đen bao quanh núm vú để động tác mút được tốt hơn. Thời gian

cho bú tuỳ theo đứa trẻ. Cho trẻ bú đến khi trẻ no, tự rời vú mẹ. Sau khi bú

xong một bên, nếu trẻ chưa đủ no thì chuyển sang vú bên kia [7].

Trẻ cần bú hết cả sữa đầu và sữa cuối [32].

Đối với bà mẹ mổ đẻ, trong những ngày đầu hậu phẫu có thể cho trẻ bú

ở tư thế nằm. Bà mẹ nằm nghiêng một bên, có thể dùng nhiều gối lót sau lưng

cho đỡ mỏi. Nhờ một người phụ ẵm bé cho nằm hướng mặt và thân bé về phía

bà mẹ, trong lúc tay của bà mẹ giữ chặt lấy mơng bé. Nên lót thêm một gối

dầy phía trước bụng để tránh bé quấy đạp vào vết mổ ổ bụng [24].

1.5. Tình hình ni con bằng sữa mẹ, bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau

sinh trên Thế giới và Việt Nam

1.5.1. Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trên Thế giới

Trong những năm gần đây các số liệu từ nhiều cuộc điều tra cho thấy

xu hướng NCBSM có dấu hiệu hồi phục: 98% trẻ ở Châu Phi, 96% trẻ ở Châu

Á và 90% trẻ ở Nam Mĩ đã được nuôi bằng sữa mẹ. Ngay tại Việt Nam con số

này cũng xấp xỉ 90% [35].

Ở Đông Nam Á, sữa mẹ vẫn là cách nuôi chính của các bà mẹ nhưng

có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thành thị về khoảng thời gian trẻ được



13



bú mẹ. Ở Bangkok theo điều tra năm 1987, thời gian cho con bú trung bình là

4 tháng trong khi ở nông thôn là 14 tháng [35].

Tỉ lệ trẻ em được nuôi bằng sữa mẹ và thời gian kéo dài việc NCBSM

khác nhau tùy các nước ở trên thế giới. Ở nông thôn Malaysia, tỉ lệ NCBSM

giảm một cách nhanh chóng từ 80% (1950-1969) xuống 69% (1989-1990). Ở

Trung Quốc từ 63% xuống 22% và ở Ấn Độ từ 70 – 40%. Tại Bắc Kinh

(Trung Quốc) khoảng 80% trẻ được bú mẹ trong những năm 1950, nhưng tỉ lệ

này giảm còn 13,8% ở thành phố năm 1984 và sau đó tỉ lệ trẻ được bú mẹ duy

trì khoảng 13-14% trong những năm 1987-1990. Chua (1989) nghiên cứu ở

Singapore thấy tỉ lệ trẻ được bú mẹ là 85-90% ở những bà mẹ giàu và 90% ở

những bà mẹ nghèo trong những năm 1950-1960, sau đó giảm xuống còn

60% và 36% [36]. Thời gian cho con bú cũng giảm ở Philippin từ năm 1973

đặc biệt ở thành phố trong các nhóm có điều kiện kinh tế và trình độ văn hóa

cao (Williamson 1990) [37].

Theo MICS 2006 chỉ có 16,9% hay cứ 6 bà mẹ mới có 1 người ni

con hồn tồn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời; 58% số bà mẹ cho trẻ bú

ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh. Tỉ lệ trẻ tiếp tục được bú mẹ cho tới khi 2

tuổi theo khuyến cáo vẫn dừng ở mức 22,9% [38].

Ở Châu Phi tỉ lệ trẻ được bú mẹ đến 12 tháng dao động khoảng 55-85%

tùy từng vùng. Nhìn chung tỉ lệ cho con bú ở các vùng nông thơn và các bà

mẹ thuộc nhóm kinh tế thấp cao hơn vùng thành thị. Trong số 23 nước ở Châu

Phi cho ăn bổ sung thường bắt đầu sớm 2-4 tháng [35].

Ở Châu Âu đã có xu hướng tăng cường NCBSM tỷ lệ các bà mẹ

NCBSM ở các nước Bungari, Đức, Hungari, và Thụy Sỹ dao động quanh

90%, tỷ lệ ở các nước Tây Âu thấp hơn dao động từ 35-67% [35].

1.5.2. Tình hình ni con bằng sữa mẹ Việt Nam

Ở Việt Nam từ đầu những năm 1980 đã có những nghiên cứu về tập

quán và thực hành nuôi con được tiến hành bởi nhiều tác giả và trong nhiều



14



vùng trên cả nước. Bú mẹ được khuyến khích và chấp nhận rộng rãi ở Việt

Nam, ước tính có tới 98% trẻ nhỏ được bú mẹ. Tỉ lệ này khác nhau theo từng

vùng địa lý, dân tộc, trình độ văn hóa của bà mẹ, nơi đẻ nhưng khơng đáng

kể, nơi ít nhất cũng có 90% trẻ được bú mẹ [39].

Đào Ngọc Diễn và cộng sự năm 1983 đã nghiên cứu trên 500 trẻ dưới 5

tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội, kết quả cho thấy hầu hết trẻ

được bú mẹ sau 2-3 ngày. Tỉ lệ trẻ được bú mẹ trong vòng 24h chỉ đạt 15,8%

ở nội thành và 35,5% ở cả 2 nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ. Từ 68% đến 97%

trẻ được ăn thêm trong vòng 4 tháng đầu. Thời gian cai sữa trung bình là 12

tháng, trong đó 13,4% trẻ được cai sữa trước 12 tháng [20].

Năm 1996 theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang về thực

hành nuôi con của bà mẹ nội và ngoại thành Hà Nội thấy tỉ lệ trẻ được bú sớm

trong nửa giờ đầu sau sinh là 30%, tỉ lệ trẻ bú mẹ trong 6 tháng đầu là 40%,

thời gian cho con bú trung bình là 14 tháng, tỉ lệ trẻ 12 tháng được tiếp tục bú

mẹ là 60%, tỉ lệ trẻ được ăn bổ sung trong 4 tháng đầu là 60,1% [40].

Kết quả nghiên cứu tập tính ni con dưới 24 tháng tuổi của các bà mẹ

tại phường Láng Hạ - Đống Đa Hà Nội năm 2000 của Lê Thị Kim Chung cho

thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong ½ giờ đầu mới chỉ được 40%, tỉ lệ trẻ

được bú mẹ trong 4 tháng đầu là 62,7% [41].

Theo điều tra dân số và sức khỏe 2002, hiện chỉ có 30,8% trẻ dưới 2

tháng tuổi được ni hồn toàn bằng sữa mẹ, và 8% số trẻ ở tháng thứ 4 – 5

được bú mẹ hoàn toàn.

Báo cáo “Tiến bộ cho trẻ em của UNICEF” mới đây cho biết: Năm

2005 ở nước ta chỉ có 12,4% bà mẹ ni con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6

tháng đầu, ngay cả trong 4 tháng đầu cũng chỉ có khoảng 30% [42].

Nghiên cứu gần đây của Dương Thị Cương cà cộng sự năm 2008, Tỉ lệ bà

mẹ có kiến thức đúng NCBSM là 17,91%, không đúng là 82,09%; thái độ đúng



15



là 99,29%, không đúng là 0,71%; thực hành đúng là 26,43%, không đúng là

73,57%.[43], Tôn Thị Anh Tú và cộng sự năm 2011, chỉ có 48.04% bà mẹ có

kiến thức đúng về Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [44], Trần thị Phúc

Nguyệt và cộng sự năm 2012 về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ

vùng ven biển có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Hải Minh, huyện Hải Hậu, tỉnh

Nam Định cho thấy tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi là 63,0%. có

60,5% bà mẹ cho con bú sớm 1 giờ đầu sau sinh, 18% bà mẹ vắt bỏ sữa non,

41,7% bà mẹ cho rằng sữa non khơng có chất dinh dưỡng [45].

1.5.3. Tình hình cho trẻ bú sớm 1 giờ đầu sau sinh

Mặc dù lợi ích của việc cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh đã

được chứng minh nhưng tỉ lệ trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh

rất khác nhau ở các nước trên thế giới. Ví dụ Ở Châu Á, hơn 80% số trẻ sơ

sinh không được bú sữa mẹ trong vòng 24 giờ đầu sau đẻ [46]. Ở Phần Lan

77%, Na Uy 71%, Thụy Sỹ 67%, Ba Lan 65%, Anh 46%, Ấn Độ 16%,

Indonesia 8% [46].

Tại Việt Nam tỉ lệ cho bú sớm sau sinh khác nhau giữa các nghiên cứu,

giữa các vùng, miền, khu vực, dân tộc. Nghiên cứu trong những năm gần đây

của Trương Thị Hoàng Lan năm 2003 tỉ lệ cho bú sớm trong nửa giờ đầu sau

sinh là 28,7% [39]. Ở miền trung tỉ lệ cho bú sớm sau sinh chỉ có 39%, trong

khi đó ở miền Bắc là 68% [47]. Mai Đức Thắng năm 2005 là 46,8% [48] và

các nghiên cứu của Lê Thị Hương ở huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa tháng 6

năm 2007 là 70,0% [49], huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị tháng 11 năm 2007

là 88,0% [50], ở huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái tháng 10 năm 2008 là 66,0%

[51], ở Viện dinh dưỡng năm 2009 tỷ lệ trẻ bú sớm trong vòng 1h sau khi sinh

là 49,3%, trong đó có 34,3% trẻ được bú mẹ trong vòng nửa giờ đầu sau khi

sinh, tại Viện Nhi Đồng I thành phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2010 là

42,29% [52], ở 2 bệnh viện Hà Nội năm 2011 chỉ có 38,1% trẻ được bú sữa



16



mẹ sớm trong 1 giờ đầu sau sinh [53], ở Phổ Yên, Thái Nguyên năm 2013 chỉ

có 44,4% bà mẹ cho con bú ngay trong vòng 1/2 giờ sau sinh và vẫn còn

15,2% bà mẹ cho con bú sau 24h [3]. Ở xã Khánh Hà, Thường Tín, Hà Nội

năm 2013 chỉ có 42,3% các bà mẹ cho con bú sớm trong vòng một giờ đầu

sau sinh [54], tại thị trấn Rạng Đông, Nghĩa Hưng, Nam Định năm 2014 có

quá 1 nửa số bà mẹ được điều tra nghiên cứu cho con bú sau 1 giờ đầu sau

sinh [54]. Tại Quảng Ngãi năm 2015, tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm là 33,2%

[55], nhưng tại Lương Sơn, Hòa Bình năm 2016 thì tỷ lệ thực hành cho con

bú sớm của các bà mẹ lại tương đối cao chiếm 79,9% [56].

1.6. Những yếu tố ảnh hưởng tới việc nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ bú

sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh

1.6.1. Trình độ văn hóa của bà mẹ

Nhiều nghiên cứu được tiến hành về các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ

NCBSM. Ezzatk và cs (1989) đã nghiên cứu trên 2994 trẻ em dưới 3 tuổi ở

Kuwait thấy rằng trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thông dụng ở những bà mẹ mù chữ

(72,4%) hơn những bà mẹ có trình độ văn hóa cao (56,9%). Ở Newdelli đã thấy

rằng tỉ lệ NCBSM ở các bà mẹ mù chữ và các bà mẹ có điều kiện kinh tế thấp

cao hơn, trẻ ở những gia đình nghèo nhất thì được bú mẹ sớm sau khi đẻ hơn trẻ

của những gia đình giàu nhất (Kuman & cs, 1989) [27]. Về thời gian kéo dài thời

gian cho con bú cũng vậy 9,9 tháng ở các bà mẹ mù chữ và 4,2 tháng ở những bà

mẹ có trình độ đại học. Các bà mẹ có trình độ càng cao thì thời gian cho con bú

càng ngắn, và thời gian cho ăn bổ sung càng sớm [57].

Theo các nghiên cứu ở Banglades hầu hết các bà mẹ cho rằng sữa non

không phải là sữa thật sự, chỉ có 2 trong 43 bà mẹ là nói nó có chất dinh

dưỡng, khơng một bà mẹ nào biết về tác dụng chống nhiễm trùng của nó. Bởi

vì màu vàng đặc sánh, cho nên sữa non ln được coi là sữa khơng tốt, bẩn và

có thể gây nên cho trẻ bị ỉa chảy, nên họ chỉ cho trẻ bắt đầu bú vào ngày thứ 2

hoặc thứ 3 (Dixon,1992., Najma, 1993) [58], [59].



17



Ngược lại, Sjolin và cs (1995) nghiên cứu trên 200 bà mẹ ở Nigeria

thấy rằng các bà mẹ sống trong điều kiện tốt và có trình độ cao thì thời gian

cho con bú kéo dài hơn [60]. Một nghiên cứu tại Việt Nam tiến hành bởi

Swenson và cộng sự (1993) cho thấy rằng thời gian cho con bú ở các bà mẹ

trình độ văn hóa cao và trong các bà mẹ sống ở các tỉnh khác nhau có khác

nhau nhưng khơng có sự khác nhau có ý nghĩa về thời gian cho con bú kéo

dài [61].

Cũng như vậy tại Việt nam đầu những năm 80 khi mới triển khai

chương trình NCBSM và cho trẻ bú sớm thì tỉ lệ số trẻ được bú mẹ trong

vòng một giờ đầu sau sinh là rất thấp, tỉ lệ bà mẹ hiểu biết về sữa non, tác

dụng của sữa non cũng rất ít. Ngược lại hiện nay khi những chương trình

truyền thơng về sữa non, những khuyến cáo nên cho trẻ bú sớm sau sinh đã

nâng cao tầm hiểu biết của bà mẹ và tỉ lệ cho trẻ bú sớm sau sinh đã tăng lên

rõ rệt. Như vậy, kiến thức và thái độ của bà mẹ đóng một vai trò rất quan

trọng trong tình trạng dinh dưỡng và sự phát triển của trẻ em qua việc cho ăn,

việc chăm sóc trẻ.

1.6.2. Ảnh hưởng của tình trạng kinh tế, trình độ văn hóa xã hội tới

việc ni con.

Điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới việc

NCBSM và cho trẻ bú sớm trong một giờ đầu sau sinh. Một nghiên cứu ở

Trung Quốc cho thấy tình trạng giảm NCBSM một cách đáng báo động: từ

năm 1975-1985 tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ đến 6 tháng ở thành thị từ 43%

xuống 34% trong khi ở nông thôn giảm từ 62% xuống 60% [62].

Hiện nay, ở nhiều nước đã ghi nhận được các bằng chứng về sự thay

đổi các chuẩn mực và giá trị trong cách nuôi con để đáp ứng với điều kiện

kinh tế xã hội trong tiến trình đơ thị hóa. UNICEF 1981 đã chỉ rõ khuynh

hướng thay thế sữa mẹ bằng thức ăn nhân tạo cho trẻ rất sớm sau đẻ đã xuất



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong những năm gần đây, NCBSM được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực dinh dưỡng trẻ em. Đã có nhiều hội nghị trong nước và quốc tế giành riêng cho vấn đề này vì tính thực tế và tính ưu việt của nó. Tổ chức Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) đã coi NCBSM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×