Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thứ ba, về phía doanh nghiệp, doanh nghiệp cần lập kế hoạch cụ thể và lâu dài về phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo bằng tham vấn các công tác xây dựng, đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo thông qua việc c

Thứ ba, về phía doanh nghiệp, doanh nghiệp cần lập kế hoạch cụ thể và lâu dài về phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo bằng tham vấn các công tác xây dựng, đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo thông qua việc c

Tải bản đầy đủ - 0trang

thông tin chi tiết về nhu cầu kỹ năng cụ thể theo ngành nghề và sự thay đổi năng động

trong nhu cầu kỹ năng khiến cho nhà trường gặp khó khăn trong việc nắm được nhu

cầu về kỹ năng của các ngành khác nhau. Vì vậy, nếu được cung cấp những thông tin

này một cách đầy đủ và hệ thống thì sẽ giúp cho sinh viên và giảng viên có những định

hướng tốt hơn trong quá trình hướng nghiệp và đào tạo. Chính vì vậy, việc thành lập

ban tư vấn quan hệ từng ngành có sự tham gia của 3 nhà đó là nhà nước, nhà doanh

nghiệp và nhà trường là rất cần thiết và hữu ích, nhằm tạo nền tảng đầu tiên cho quá

trình định hướng nghề nghiệp, đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp của nhà trường.

Nhiệm vụ của ban tư vấn quan hệ từng ngành nhằm cung cấp thông tin về cơ hội

việc làm một cách đầy đủ và chính xác tới các sinh viên giúp sinh viên tiếp cận nhanh

hơn với thị trường việc làm và định hướng con đường sự nghiệp. Để đạt được điều

này, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh nên thành lập ban tư vấn với đầy đủ nhân

lực, kết nối với các doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin về vị trí cần tuyển dụng với

sự mơ tả chính xác hơn về các kỹ năng và kiến thức cần thiết. Bên cạnh đó, nhà nước

cần bắt đầu xây dựng các chính sách để thúc đẩy giảng viên thực hiện tư vấn nghề

nghiệp một cách năng động cho sinh viên. Chính phủ nên phân tích những trở ngại mà

doanh nghiệp, nhà trường và sinh viên hiện đang gặp phải nhằm xây dựng các cách

thức để nhân rộng các chương trình thực tập hiệu quả. Đồng thời, nhà nước nên nâng

cao nhận thức của doanh nghiệp về trách nhiệm cùng gánh vác với nhà trường để đào

tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.

Công tác điều tra, khảo sát, đánh giá thị trường lao động phải được giao cho ban

tư vấn quan hệ từng ngành chịu trách nhiệm thi hành, cùng với chính quyền Nhà nước

tham gia vào quá trình đào tạo nghề cho người lao động, thường xuyên nghiên cứu để

đảm bảo tính kịp thời cũng như nắm bắt được tình hình biến động của thị trường lao

động khơng chỉ trong nước mà còn ngồi nước.

Bên cạnh đó, ban tư vấn quan hệ từng ngành nên khuyến khích giảng viên tiến

hành tư vấn nghề nghiệp cho từng sinh viên, thuyết phục giảng viên rằng kết quả tuyển

dụng là một chỉ số quan trọng nhất để đo lường tính hiệu quả của các chương trình đào

tạo. Hiện tại, nhiều giảng viên khơng cho rằng hỗ trợ sinh viên có được cơng việc phù

hợp là trách nhiệm của họ. Ngồi ra, giảng viên có thể ngại ngần trong việc tư vấn

nghề nghiệp vì họ khơng có đầy đủ thơng tin về cơng việc để tiến hành tư vấn nghề

nghiệp. Chính vì vậy, ban tư vấn hỗ trợ liên ngành cần hỗ trợ các giảng viên trong việc

81



có được các thơng tin cần thiết bằng cách tiến hành các cuộc khảo sát về tình hình có

việc làm của các sinh viên tốt nghiệp, thu thập và tổng hợp các thông tin tuyển dụng

hiện tại và trao cho họ cơ hội tìm hiểu về xu hướng kinh doanh, xu hướng công nghệ

thông qua các chuyến tham quan doanh nghiệp và chia sẻ thông tin cho giảng viên…

3.5. Một số kiến nghị

3.5.1. Đối với Bộ Lao động Thương Binh Xã hội

Thứ nhất, về liên kết doanh nghiệp

Luật Dạy nghề quy định việc liên kết, liên doanh hoạt động dạy nghề với doanh

nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài là một trong

những nhiệm vụ của các cơ sở dạy nghề mà chưa có những yêu cầu cụ thể nên các cơ

sở dạy nghề rất khó thực hiện liên kết doanh nghiệp. Do vậy, cần bổ sung quy định về

liên doanh, liên kết doanh nghiệp này.

Bên cạnh đó, Cơ quan quản lý nhà nước nên cung cấp nhiều cơ hội hơn nữa để

tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp có thể thảo luận về các chương

trình đào tạo phù hợp. Một hành động mà cơ quan quản lý nhà nước có thể thực hiện là

đề xuất xây dựng một cơ chế chính thức dưới hình thức một ủy ban, một ban hay một

diễn đàn mà đại diện từ hai phía doanh nghiệp và cơ sở đào tạo có thể thảo luận về nhu

cầu kỹ năng hiện tại và tương lai.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trình Chính phủ có cơ chế chính sách

khuyển khích doanh nghiệp mạnh dạn hơn nữa chính sách “đặt hàng đào tạo” (tồn bộ

chi phí cho đào tạo sẽ được Nhà nước cấp theo kết quả đầu ra).

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp trong dạy nghề

Hiện nay, các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong Luật Dạy

nghề còn chung chung, thiếu chế tài gắn kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp

khiến hiệu quả dạy nghề không cao. Do vậy, phải quy định cụ thể trách nhiệm của

doanh nghiệp khi tham gia hoạt động dạy nghề (xây dựng chương trình, phối hợp với

cơ sở dạy nghề trong tổ chức đào tạo; kiểm định, đánh giá kĩ năng nghề; đào tạo, bồi

dưỡng nâng cao kĩ năng nghề cho người lao động tại doanh nghiệp,…). Nếu không

tham gia được, doanh nghiệp phải đóng góp khoản kinh phí dạy nghề tương ứng theo

quy định. Đồng thời có chính sách bắt buộc đóng góp chi phí tuyển dụng lao động qua

đào tạo khi doanh nghiệp không tự đào tạo được mà phải tuyển dụng từ các trường,

hoặc có quy định bắt buộc các doanh nghiệp phải đóng góp cho quỹ đào tạo quốc gia.

82



Bên cạnh những vấn đề trên, thực tế triển khai hoạt động dạy nghề cho thấy còn

những bất cập trong việc kiểm định chất lượng dạy nghề (chưa có kiểm định chương

trình dạy nghề, khơng có tổ chức kiểm định độc lập,…) cũng như đánh giá, cấp chứng

chỉ kĩ năng nghề quốc gia, hợp tác quốc tế về dạy nghề, xã hội hóa dạy nghề, tự chủ

trong dạy nghề (còn qui định chung chung, thiếu những hướng dẫn cụ thể),… rất cần

được nghiên cứu, xem xét, sửa đổi, bổ sung vào Luật Dạy nghề trong thời gian tới.

Thứ ba, về giảng viên dạy nghề

Luật Dạy nghề cần cụ thể hơn về trình độ kỹ năng nghề đối với giảng viên dạy

nghề như: 1) giảng viên dạy nghề trình độ Sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp Cao

đẳng nghề trở lên (hoặc là nghệ nhân hay đạt giải kỹ năng nghề của giảng viên dạy

nghề dạy nghề theo quy định); 2) giảng viên dạy nghề dạy lí thuyết trình độ Cao đẳng

nghề phải tốt nghiệp Đại học ngành Sư phạm kĩ thuật hoặc đại học chuyên ngành;

giảng viên dạy nghề dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp Cao đẳng nghề

hoặc là nghệ nhân hoặc là người đạt chuẩn kĩ năng nghề của giảng viên dạy nghề dạy

nghề theo qui định; GV dạy cả lí thuyết và thực hành đồng thời phải có trình độ của

giáo viên dạy thực hành; 3) giảng viên dạy nghề dạy lí thuyết trình độ Cao đẳng nghề

phải có bằng tốt nghiệp Đại học ngành sư phạm kĩ thuật hoặc Đại học chuyên ngành

trở lên; giảng viên dạy nghề dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp Cao đẳng

nghề hoặc là nghệ nhân hoặc là người đạt chuẩn kĩ năng nghề của giáo viên dạy nghề

theo qui định, giảng viên dạy nghề dạy cả lý thuyết và thực hành đồng thời phải có

trình độ của giảng viên dạy nghề dạy lý thuyết và có cả trình độ của giảng viên dạy

nghề dạy thực hành.

Thứ tư, về chương trình dạy nghề

Luật Dạy nghề quy định Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở

Trung ương tổ chức xây dựng và ban hành chương trình khung Đại học nghề, Cao

đẳng nghề. Trên cơ sở đó, các chương trình khung dạy nghề đều đã quy định chi tiết

đến từng bài học, mang tính bắt buộc (khoảng 70%) và các cơ sở dạy nghề chỉ thay đổi

phần tự chọn (khoảng 30%), khiến các cơ sở dạy nghề rất khó cập nhật, khó thay đổi

chương trình cho phù hợp với thực tiễn. Do vậy, để tạo điều kiện cho các cơ sở dạy

nghề chủ động trong việc cập nhật, sửa đổi, bổ sung chương trình theo sự phát triển

của khoa học cơng nghệ, cơ quan quản lý chỉ quy định chuẩn đầu ra (khơng ban hành



83



chương trình khung), các cơ sở dạy nghề sẽ căn cứ vào đó để xây dựng chương trình

chi tiết đáp ứng chuẩn đầu ra theo quy định.

3.5.2. Đối với tỉnh Nghệ An

Tỉnh Nghệ An cần phát huy vai trò cầu nối giữa nhà trường, người lao động và

doanh nghiệp nhằm tư vấn, giới thiệu việc làm trong và ngoài nước cho người lao

động, đẩy mạnh việc kiểm tra, giám sát các huyện, thành phố, thị xã thu thập, lưu trữ,

tổng hợp thông tin nhu cầu lao động.

Để công tác đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề ngày càng chất lượng, hiệu

quả, thì chính quyền địa phương cần quan tâm đến công tác giải quyết việc làm, ổn

định đời sống người lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Sở LĐTB&XH Nghệ An cần thiết phải tổ chức đoàn khảo sát nắm bắt nhu cầu

tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu về kỹ năng nghề nghiệp…ở các

tỉnh có nhu cầu tuyển dụng, từ đó tư vấn cho các cơ sở đào tạo nói chung và trường

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh nói riêng kế hoạch đào tạo, giới thiệu, giải quyết việc

làm cho lao động của tỉnh gắn đào tạo với sử dụng lao động đặc biệt là lao động kỹ

thuật đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp tuyển dụng.

Bên cạnh đó, định kỳ hàng năm, tổ chức các hội thảo, hội nghị cho các trường và

doanh nghiệp trao đổi nhu cầu đào tạo đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.

Đồng thời, Tỉnh Nghệ An cần xây dựng cơ chế riêng để các doanh nghiệp tham

gia vào công tác đào tạo của các trường nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực tế

cho sinh viên các trường đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.



84



KẾT LUẬN

Xã hội hóa dạy nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp đã đem lại những kết quả

bước đầu nhưng bên cạnh đó còn tồn tại rất nhiều khó khăn, bất cập. Mạng lưới cơ sở

dạy nghề nói chung và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, quy mô và chất lượng

đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, yêu cầu đa dạng của xã hội,

nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp. Một bộ phận người học, sinh viên tốt nghiệp

ra trường vẫn khó khăn trong tìm việc làm vì trình độ, kỹ năng nghề yếu, không phù

hợp với yêu cầu doanh nghiệp tuyển dụng. Nội dung, chương trình nặng nề dàn trải, cơ

sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập chưa

đáp ứng yêu cầu, chưa có đủ những máy móc, thiết bị hiện đại. Điều đó phần nào hạn

chế chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo.

Luận văn đã trình bày một số vấn đề, đi sâu nghiên cứu những căn cứ lý luận và

thực tiễn về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, hình thức đào tạo đáp ứng

nhu cầu doanh nghiệp, nội dung đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, đánh giá

thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Vinh. Từ đó, chỉ rõ điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn

chế đó và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu

doanh nghiệp.

Từ đó, có thể giúp doanh nghiệp và người lao động rút ngắn thời gian tìm kiếm

thông tin về nhu cầu lao động và việc làm, người lao động tìm được việc làm phù hợp

với khả năng, doanh nghiệp tìm được lao động có trình độ, tay nghề phù hợp với yêu

cầu công việc, nhà trường đảm bảo hoạt động đào tạo, giảm được tỷ lệ thất nghiệp,

tránh được sự lãng phí nguồn lực của quốc gia…

Đổng thời, người lao động có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm hơn, doanh nghiệp

cũng dễ dàng tuyển dụng được lao động đáp ứng được yêu cầu của công việc góp phần

đưa thơng tin thị trường lao động đến người lao động và doanh nghiệp tuyển dụng.



85



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng thế giới (2012), Báo cáo khảo sát việc làm

của sinh viên tốt nghiệp năm 2010 - 2011, Hà Nội.

2. GS.TS Nguyễn Thành Độ PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền (2011), Giáo trình Quản

trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, trang 489.

3. Nguyễn Minh Hiển, Nguyễn Hoàng Lan (2014), Liên kết trường đại học - doanh

nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp tháo gỡ rào cản, Tạp chí Tài chính và

Phát triển, số 202.

4. Nguyễn Hồng Lan (2014), Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về

chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ chuyên

ngành Quản lý công nghiệp, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

5. Nguyễn Đình Luận (2015), Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong

đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng

và khuyến nghị, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 22.

6. Trần Thị Phương Nam, Mai Thị Thu (2013), Một số dự báo về cung - cầu nhân lực trình

độ cao đẳng, đại học giai đoạn 2015 - 2020, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 90.

7. Phùng Xn Nhạ (2009), Mơ hình đào tạo gắn với nhu cầu đào tạo ở Việt Nam hiện nay,

Tạp chí Khoa học, số 25.

8. Đinh Nguyệt (2016), Đào tạo nghề cho lao động gắn với thị trường, Báo Nghệ An, số

40, tháng 6/2016.

9. Trần Văn Tài và Trần Văn Tùng (2009), Liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp

trong hoạt động đào tạo ở Việt Nam hiện nay, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội.

10. Đinh Nguyệt (2016), Đào tạo nghề cho lao động gắn với thị trường, Báo Nghệ An, số

40, tháng 6/2016.

11. Tổng cục Thống kê (2012), Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2011,

Hà nội.

12. Tổng cục Thống kê (2014), Hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia, Hà Nội.



86



Tài liệu tiếng Anh

13. Ahmadreza Shekarchizadeh, Amran Rasli, Huam Hon-Tat, 2011, “SERVQUAL

in Malaysian universities: perspectives of international Students”, Business

Process Management Journal, Vol.17, Iss.

14. World Bank, VietNam: “Higher Education and skills for growth”, Washington DC,

2008.

15. World Bank, putting Higher Education to work, skill and research for growth in East

Asia, Regional Report, Washington DC, 2012.

16. WFF, The Global Competitiveness Report 2013 – 2014, 2013.



87



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thứ ba, về phía doanh nghiệp, doanh nghiệp cần lập kế hoạch cụ thể và lâu dài về phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo bằng tham vấn các công tác xây dựng, đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo thông qua việc c

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×