Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thứ tư, dạy nghề đã tiếp cận được với nhu cầu của doanh nghiệp. Sinh viên sau

khi được đào tạo nghề tại trường, nhìn chung đã được làm việc phù hợp với nghề và

trình độ đào tạo. Qua khảo sát của Tổng cục Dạy nghề cho thấy khoảng 80- 85% người

học tại Trường Sư phạm kỹ thuật Vinh cho rằng việc làm hiện tại của họ tại doanh

nghiệp phù hợp với nghề và trình độ được đào tạo, đáp ứng được kỹ năng nghề nghiệp

cần thiết.

Thứ năm, sinh viên sau khi tốt nghiệp tại trường đã đảm nhiệm được hầu hết

những vị trí quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao,

cơng nghệ phức tạp, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của

các doanh nghiệp tuyển dụng. Việc dạy nghề được phát triển với các mơ hình dạy nghề

năng động, linh hoạt gắn đào tạo với sử dụng lao động theo hướng cầu của thị trường

lao động để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng

vùng, từng địa phương.

2.5.2. Những hạn chế

Thứ nhất, chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề còn bộc lộ một số mặt hạn chế.

Một mặt, chưa đáp ứng được tối đa nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động, chưa chú

ý đến yêu cầu của sản xuất và đặc biệt là nhu cầu đầu tư ngày càng tăng mạnh trong

Tỉnh trong giai đoạn thị trường rất cần lao động có kỹ năng, có trình độ chun mơn

kỹ thuật nhưng lực lượng này vẫn còn chưa đáp ứng được.

Thứ hai, cơ cấu đào tạo ngành nghề của trường nhiều chỗ chưa cân đối, không

hợp lý dẫn đến tình trạng nhiều học viên sau khi ra trường khơng tìm được việc làm vì

nhu cầu thị trường rất ít, khiến họ phải tiếp tục học theo ngành nghề khác, tốn nhiều

công sức và tiền của.

Thứ ba, một bộ phận người học, sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn khó

khăn trong tìm việc làm vì trình độ, kỹ năng nghề yếu, không phù hợp với yêu cầu

doanh nghiệp.

Thứ tư, người học được đào tạo sau khi ra trường vẫn còn nhiều người chưa tự

tìm được cơng việc phù hợp cho mình, phải cần đến các trung tâm tư vấn và giới thiệu

việc làm, thậm chí thất nghiệp. Tuy nhiên khi đi thực tế cơng việc thì những sản phẩm

đầu ra này vẫn chưa tự hoàn thành được cơng việc được giao mà vẫn cần có sự kèm

cặp, hướng dẫn, giúp đỡ của cơng nhân trình độ lành nghề hơn. Kỹ năng thực hành

chưa thuần thục, còn nhiều vụng về, chưa đáp ứng được tiến độ của dây chuyền sản

63



xuất...Bên cạnh đó, người lao động qua đào tạo nghề, kỹ năng thực hành và khả năng

thích ứng với sự thay đổi cơng nghệ của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.

Thứ năm, chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp có nhiều phần chưa

được kiểm định, đánh giá đúng mức. Sự kiểm tra, theo dõi thực trạng chất lượng và

hiệu quả đào tạo của Nhà trường nhiều khi chưa được thực hiện đầy đủ và khoa học.

Thứ sáu, cơ cấu ngành, nghề đào tạo vẫn chưa thật phù hợp với cơ cấu ngành,

nghề của thị trường lao động, chưa bổ sung thường xuyên các nghề đào tạo mới theo

yêu cầu của thị trường lao động, thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao cung cấp cho các

doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế trọng điểm và cho xuất

khẩu lao động.

Thứ bảy, mối quan hệ của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh và doanh

nghiệp còn lỏng lẻo bao hàm cả về trách nhiệm và quyền lợi, chưa khuyến khích được

trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nên trong một số giai đoạn, nhà

trường vẫn chủ yếu đào tạo theo khả năng cung ứng của trường chứ chưa thực sự đào

tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp.

2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Về phía người học

Yếu tố đầu vào rất quan trọng vì đó là khả năng nhận thức, học hỏi của sinh viên.

Tuy nhiên, do yếu tố tâm lý, không muốn học nghề, hơn nữa do điều kiện gia đình cho

nên đối tượng này phần lớn là những người có học lực yếu, trung bình, khá tham gia.

Yếu tố đầu vào xơ cứng đã ảnh hưởng ngay đến chất lượng học tập cũng như việc tiếp

thu kiến thức của học viên, kỹ năng thực tiễn, thái độ và tác phong nghề nghiệp, kỷ

luật lao động. Đồng thời, ý thức tự học và tự hoàn thiện của đa số học viên vẫn còn

yếu, chủ yếu là học thụ động và nhiều khi mang tính chất đối phó. Điều này ảnh hưởng

rất lớn đến chất lượng đầu ra của nhà trường.

Về phía nhà trường

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh còn chú trọng đào tạo những nghề

truyền thống hoặc đào tạo theo khả năng đã có mà chưa tập trung đào tạo theo yêu cầu

của thị trường lao động.

Nội dung chương trình một số ngành còn cứng nhắc, chưa cập nhật thường xuyên

những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại, những thay đổi của thị trường lao động.



64



Giáo trình còn nặng về lý thuyết, tài liệu học tập và nghiên cứu còn nghèo nàn, chưa

đa dạng.

Khung chương trình được phân bố nhiều khi không hợp lý, một số môn lẽ ra là

môn chuyên ngành nhưng lại được sắp xếp là mơn cơ sở của ngành học đó.

Thiếu đội ngũ giáo viên có trình độ, năng lực thực tiễn trong q trình thực hiện

cơng tác giảng dạy. Trong một số trường hợp, đội ngũ giảng viên mới ra trường đã

phải lên lớp giảng dạy, gây ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.

Phương pháp dạy học phần lớn là theo phương pháp truyền thống, chưa phát huy

được tính sáng tạo của người học, dễ gây nhàm chán trong đại bộ phận học viên. Một

số khoa, ngành cũng đã áp dụng phương pháp dạy học hiện đại nhưng con số này chưa

cao, lại không thường xuyên.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học

tập còn cũ kỹ, chưa có đủ những máy móc, thiết bị hiện đại. Mặc dù được xây dựng

khang trang về khuôn viên nhà trường nhưng thư viện, xưởng thực hành, phòng thí

nghiệm chưa được chú trọng đầu tư, chưa được nâng cấp thường xuyên, ảnh hưởng

trực tiếp đến việc học kỹ năng của sinh viên.

Nguồn tài chính hạn hẹp, chủ yếu là do ngân sách Nhà nước và Ngân sách địa

phương. Nguồn tài chính chi cho mở rộng quy mơ đào tạo do vậy khó lòng cùng lúc

nâng cao được chất lượng đào tạo.

Trong chiến lược phát triển của trường trong giai đoạn hiện nay, trường vẫn nặng

về mở rộng quy mô mà chưa thực sự chú ý đến chất lượng đào tạo. Nhà trường chưa

nỗ lực tạo lập mối quan hệ với các doanh nghiệp và các địa phương khác trong nước

để nâng cao chất lượng đào tạo, tìm kiếm đầu tư và tìm đầu ra cho sinh viên.

Về phía doanh nghiệp và xã hội

Các doanh nghiệp mặc dù có nhu cầu sử dụng lao động kỹ thuật là lớn nhưng vẫn

chưa thực sự chủ động, liên kết với các cơ sở đào tạo nghề để sử dụng các sản phẩm

đầu ra này mà họ chỉ quan tâm đến tuyển lao động khi họ cần. Mặc dù sử dụng sản

phẩm của đào tạo nghề nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa có nhận thức đúng đắn về

trách nhiệm trở lại đối với các cơ sở đào tạo, với đội ngũ lao động kỹ thuật. Rất ít

doanh nghiệp trong tỉnh hỗ trợ vốn cho đào tạo nghề của Trường.



65



Doanh nghiệp và nhà trường vẫn chưa có mối quan hệ mật thiết. Nếu tình trạng

này được cải thiện, hàng tháng doanh nghiệp có thể cử cán bộ xuống các cơ sở để

giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm cũng như hướng dẫn, giới thiệu cơng nghệ sản xuất

mới cho học viên thì hiệu quả đào tạo nghề sẽ tăng lên đáng kể.

Bên cạnh đó, nhận thức xã hội, phụ huynh học sinh và người học còn có cái nhìn

chưa đúng đắn về việc học nghề, vẫn coi học nghề là hướng đi cuối cùng và không

được đề cao trong quan điểm và suy nghĩ của mọi người. Do đó, cần xã hội hóa cơng

tác dạy nghề, nâng cao nhận thức và tun truyền để thay đổi quan điểm của người dân

về học nghề.

Về phía Nhà nước và địa phương

Nhà nước và Địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức đến chất lượng đào tạo

nghề tại địa phương. Bên cạnh đó, Nhà nước và địa phương cũng chưa có sự phối hợp

chặt chẽ nhằm kiểm tra, thanh tra, định hướng, đánh giá thường xuyên về chất lượng

đào tạo nghề cũng như nhu cầu đào tạo nghề, xu hướng dạy nghề tại các cơ sở đào tạo

nghề nói riêng và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh nói riêng nhằm giúp cho

nhà trường có định hướng tốt hơn trong q trình đạo tạo, nâng cao chất lượng đào tạo

đặc biệt là đào tạo chất lượng cao.



66



CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU

DOANH NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT VINH

3.1. Tình hình chung về đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp ở Nghệ An

những năm gần đây

Nghệ An là một tỉnh có diện tích tự nhiên 16.487,29 km2, dân số có 3.003.000

người. Trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 1.477.687 người, đa số là lao

động ở khu vực nông thôn với 1.335.743 người chiếm hơn 90% lực lượng lao động

của tỉnh (Số liệu tính đến 31/12/2017).

Trong q trình phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Nghệ An luôn xác định công tác

đào tạo nghề cho người lao động nói chung và đào tạo nghề cho người lao động ở

nơng thơn nói riêng là một trong những nội dung quan trọng, góp phần tích cực và sự

phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp

cơng nghiệp hố hiện đại hoá đất nước và địa phương.

Trong những năm qua, Nghệ An đã từng bước nỗ lực nâng cao chất lượng đào

tạo nghề và liên kết doanh nghiệp để giải quyết việc làm cho lao động sau đào tạo.

Tỉnh đã đào tạo nghề cho 404.562 người; trong đó đại học nghề 22.898 người,

cao đẳng nghề 41.413 người, sơ cấp và dạy nghề thường xuyên 340.251 người. Một số

nghề bước đầu đã đáp ứng được sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và nhu cầu sử

dụng của thị trường lao động trong và ngồi nước như: cơ khí, cơng nghiệp ô tô, quản

trị nhà hàng, kỹ thuật máy lạnh và điều hòa khơng khí, kỹ thuật chế biến món ăn…

Vấn đề giải quyết việc làm sau đào tạo nghề đạt nhiều kết quả khả quan, 20.610

sinh viên đại học nghề tốt nghiệp có việc làm ổn định, đạt tỷ lệ 90%; 35.430 người học

cao đẳng nghề có việc làm đạt 85,3%. Trong đó, lao động làm việc tại các doanh nghiệp

trong tỉnh 94.241 người; doanh nghiệp ngoại tỉnh 115.724 người; đi làm việc có thời hạn

ở nước ngồi 34.180 người; với thu nhập bình quân từ 4 – 12 triệu đồng/ tháng.

Đến nay, đã có hơn 200 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thường xuyên

liên kết tiếp nhận, tuyển dụng 244.145 lao động sau đào tạo nghề vào làm việc. Tỷ lệ

lao động qua đào tạo tăng từ 40% năm 2011 lên 57% năm 2016. Tuy nhiên, nhiều đơn

vị chưa nhận thức đầy đủ quyền và trách nhiệm trong hoạt động đào tạo nghề; số

lượng sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh nhiều (63 cơ sở) nhưng quy mơ còn nhỏ; thiếu

nguồn lực, nhất là nhà xưởng, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên.

67



Để đáp ứng yêu cầu về chất lượng đội ngũ lao động thời kỳ hội nhập, trong giai

đoạn 2017 – 2020 Nghệ An cần thực hiện tốt công tác điều tra khảo sát và dự báo nhu

cầu thị trường sử dụng lao động hằng năm và từng giai đoạn gắn với điều tra khảo sát

nhu cầu học nghề của người lao động, từ đó, phân luồng, định hướng học nghề cho

người học sau khi tốt nghiệp THCS và THPT gắn với giải quyết việc làm, đẩy mạnh

các hoạt động liên kết giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, các khu

kinh tế, khu cơng nghiệp trong q trình đào tạo và bố trí việc làm cho lao động sau

đào tạo.

Bên cạnh đó, Nghệ An phấn đấu từ nay đến năm 2020, toàn tỉnh tuyển sinh, đào

tạo được 292.500 người (năm 2017 là 74.800 người), nâng tỷ lệ lao động được đào tạo

nghề đạt trình độ cao đẳng và trung cấp từ 17,3%, năm 2016 lên 25% năm 2020...

Công tác đào tạo nghề đã được toàn tỉnh xác định là một trong những nội dung

chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, được các cấp, các ngành quan tâm,

chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và được sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.

Nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, doanh nghiệp và

các tầng lớp nhân dân về lĩnh vực lao động - việc làm, dạy nghề đã có nhiều chuyển

biến sâu sắc, phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng phần nào yêu cầu của sự

nghiệp, cơng nghiệp hóa - hiện đại hố q hương. Tồn tỉnh đã quán triệt và thực hiện

tốt hơn chủ trương phát triển kinh tế gắn liền với giải quyết việc làm, dạy nghề trước

yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội.

Tập trung nghiên cứu, tổng kết thực tiễn các phong trào, xây dựng phát triển các

mô hình, cách làm hiệu quả trong cơng tác đào tạo nghề, có nhiều cơ chế chính sách

thơng thống, khuyến khích thu hút các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp trong và

ngoài nước đến Nghệ An, đồng thời xúc tiến đẩy nhanh tiến độ dạy nghề và xuất khẩu

lao động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác đào tạo nghề.

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nơng nghiệp

nơng thơn, miền núi. Hiện nay tỉnh đã có 13 trường đào tạo nghề, 24 trung tâm dạy

nghề công lập và 9 cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập với cơ cấu ngành nghề đa dạng

phong phú phù hợp với yêu cầu của cơ chế thị trường. Tỉnh đã có chính sách khuyến

khích phát triển các cơ sở dạy nghề tư nhân, ngồi cơng lập, các doanh nghiệp và các

làng nghề, đa dạng hoá phương thức đạo tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất

trong từng khu vực kinh tế. Nhờ vậy, quy mô đào tạo tăng nhanh, năm 2010 là 14.532

68



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×