Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1 Phân chia các khoản vay theo đặc thù và thời hạn

Bảng 1.1 Phân chia các khoản vay theo đặc thù và thời hạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



mất vốn. Hiện nay, theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn cho phép là dưới 5%

4.3. Quản lý nợ xấu trong hoạt độngcho vaycủaNgân hàng thương mại

4.3.1.Khái niệm quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay

của Ngân hàng

thương mại

Hoạt động cho vay của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro và khả năng

phát sinh nợ xấu là một biểu hiện rõ nhất của rủi ro tín dụng. Nợ xấu phát sinh

sẽ gây hậu quả không nhỏ không chỉ đến hoạt động ngân hàng mà còn tác động

đến cả nền kinh tế. Vì thế, chấp nhận rủi ro để có những biện pháp ngăn ngừa rủi

ro và xử lý tổn thất là việc làm cần thiết và mang lại hiệu quả trong hoạt động tín

dụng ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng.

Xuất phát từ tầm quan trọng và hậu quả mà nợ xấu có thể mang lại, việc quản

lý nợ xấu luôn được các ngân hàng quan tâm và đề ra những yêu cầu cụ thể.

Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách về nợ xấu

nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.

4.3.2. Nội dung quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của

Ngân hàng

thương mại

Trong hoạt động của NHTM, xây dựng được một chính sách quản trị rủi ro

từ hoạt động cho vay và thực thi tốt chính sách đó có ý nghĩa quyết định. Quản

lý nợ xấu đòi hỏi các NHTM cần phải làm tốt từ việc nhận biết nợ xấu đến việc

áp dụng các giải pháp xử lý nợ xấu đã phát sinh một cách hiệu quả.

4.3.2.1. Xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu

Việc xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu có vai trò quan trọng trong quản lý nợ

xấu. Chỉ tiêu về nợ xấu không chỉ giúp định hướng mà còn có tác động trực tiếp

đến cơng tác xử lý nợ xấu phát sinh. Chỉ tiêu về nợ xấu thường được xây dựng

cho một thời kỳ hoặc một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) trên

cơ sở nền kinh tế vĩ mơ, quy mơ tín dụng, cơ cấu ngành và đặc điểm về nguồn

nhân lực của ngân hàng. Tùy điều kiện và mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu về nợ xấu có

thể được xây dựng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng.

Chỉ tiêu về nợ xấu cần đảm bảo các nội dung định lượng (tỷ lệ phần trăm

so với tổng dư nợ, doanh số nợ xấu phát sinh) và định tính (định hướng theo

ngành, theo thời gian, theo địa bàn…).

4.3.2.2. Xác định nợ xấu

Việc xác định nợ xấu cần được NHTM thực hiện định kỳ và đột xuất ngay

khi khách hàng hoặc khoản vay có những biểu hiện nhất định:

a - Dấu hiệu phi tài chính

✓ Hành vi của khách hàng

+ Tìm cách tránh gặp ngân hàng, miễn cưỡng hoặc chậm cung cấp thông

tin tài chính : Khi nhận thấy hoạt động kinh doanh đang gặp vấn đề, ban lãnh

đạo sẽ thường có xu hướng liên lạc với ngân hàng ít hơn so với khi đang làm ăn

tốt. Khách hàng có những biểu hiện này, Ngân hàng cần tìm hiểu nguyên nhân

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



10



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



đồng thời đánh giá toàn bộ các khoản vay hiện tại của khách hàng, cảnh báo về

khả năng dẫn đến nợ xấu.

+ Khách hàng tỏ ra không đáng tin : Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng,

việc khách hàng không giữ uy tín sẽ là một dấu hiệu rõ nét tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu.

✓ Khả năng quản lý

+ Bằng chứng phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ công ty, đặc biệt là trong

đội ngũ cán bộ quản lý : Việc xảy ra mâu thuẫn giữa những người điều hành có

thể ảnh hưởng khơng nhỏ đến tình hình kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn

thu để trả nợ, tiềm ẩn nợ xấu.

+ Nghỉ ốm dài hoặc bất ngờ của những nhân sự chủ chốt, mất các nhà quản

lý cấp cao : Sự thay đổi bất ngờ và bất thường của đội ngũ cán bộ quản lý là dấu

hiệu cảnh báo hoạt động kinh doanh có sự thay đổi theo chiều hướng bất lợi

hoặc có sự vi phạm pháp luật.

+ Tin đồn bất lợi về doanh nghiệp : Việc phát sinh tin đồn bất lợi, dù đúng hay

không đúng cũng sẽ có những ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như uy

tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nợ xấu.

+ Đầu tư vào lĩnh vực ngồi kinh nghiệm, chun mơn, thiếu nhận biết về

vị trí của cơng ty trên thị trường hoặc về vấn đề cạnh tranh : Trong thời kỳ hội

nhập kinh tế sâu rộng, việc kinh doanh mạo hiểm cũng như không nhận biết

được điểm mạnh, điểm yếu của mình sẽ khơng thể giúp doanh nghiệp phát triển

mở rộng hay ít nhất là giữ vững vị thế hiện có của mình.

✓ Hoạt động kinh doanh

+ Có hoạt động pháp lý chống lại khách hàng, bao gồm cả những khó khăn

với cơ quan thuế hoặc hải quan : Việc vi phạm những quy định của pháp luật,

ngay cả những lỗi đối với việc kê khai thuế, hải quan sẽ ảnh hưởng tới quyền

được hoạt động kinh doanh của khách hàng theo quy định của pháp luật, có thể

phải ngừng hoạt động đối với những vi phạm nghiêm trọng.

+ Các nhà cung cấp, nhà phân phối lớn thay đổi chính sách bán, mua hàng :

Việc thay đổi chính sách của các đối tác, đặc biệt là đối tác lớn sẽ ảnh hưởng

khơng nhỏ tới hoạt động kinh doanh nói chung, doanh thu, lợi nhuận của khách

hàng nói riêng.

+ Tình hình mơi trường vĩ mô : Ngân hàng cần nắm được những yếu tố vĩ

mơ, nằm ngồi tầm kiểm sốt của người vay và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ

của người vay như chi phí tăng nhưng lại khơng thể chuyển một phần sang cho

khách hàng, lãi suất cao hơn, vấn đề về ngành kinh doanh...để chủ động đánh

giá hoạt động kinh doanh của khách hàng có chịu tác động theo hướng bất lợi

hay khơng.

b - Dấu hiệu tài chính

✓ Kếtquả kinh doanh

+ Doanh thu tăng quá nhanh nhưng vốn lưu động khơng sẵn sàng đủ do

tăng cường chính sách bán chịu hoặc phải chịu sức ép cạnh tranh, chênh lệch lợi

nhuận biên thấp sẽ ảnh hưởng tới vốn duy trì hoạt động cũng như khả năng

thanh toán của khách hàng.

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



11



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn mức bình quân của ngành.

+ Các khoản thu nhập và chi phí bất thường tăng đột biến.

+ Xuất hiện lỗ ròng hoặc lưu chuyển tiền tệ âm : Một doanh nghiệp sẽ

khơng thể duy trì được lâu sự tồn tại của mình trong những điều kiện như vậy.

✓ Tài sản cố định

+ Giá trị còn lại tài sản cố định giảm mạnh : khách hàng thực hiện bán,

thanh lý tài sản nằm ngoài kế hoạch thay mới, dấu hiệu khách hàng có thể gặp

khó khăn, chuyển đổi tài sản cố định thành tài sản có tính lỏng cao hơn, thuận

tiện cho việc thu hẹp hoặc ngừng hoạt động.

+ Tốc độ đầu tư tài sản cố định tăng quá nhanh : việc đầu tư tài sản cố định

quá mức, nằm ngồi khả năng tài chính cũng như huy động vốn của khách hàng

sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như vốn lưu động phục vụ kinh

doanh của khách hàng.

+ Hoạt động của tài sản thấp bất thường : dấu hiệu cho thấy hoạt động sản

xuất kinh doanh có nguy cơ bị thu hẹp hoặc khách hàng có khó khăn về vốn lưu

động để duy trì hoạt động sản xuất.

✓ Cơ cấu tài chính và quản lý nợ vay

+ Cơ cấu nợ vay/vốn chủ sở hữu thay đổi đột biến theo chiều hướng tăng tỷ

trọng vốn vay.

+ Tốc độ tăng nợ vay không tương xứng với tốc độ tăng doanh thu.

+ Trì hỗn tăng vốn hoặc tài trợ dài hạn, hoặc tăng vốn nhưng với mức lãi

suất cao.

+ Thu nhập để lại có xu hướng giảm dần.

+ Khả năng trả lãi kém đi.

+ Yêu cầu ngân hàng thay đổi các điều khoản đảm bảo hoặc các cam kết trả nợ.

✓ Các khoản phải thu và phải trả

+ Vòng quay các khoản phải thu/phải trả thương mại chậm lại : Giá trị các

khoản phải thu cũng như thời gian các khoản phải thu đều quan trọng. Những

khoản phải thu bị chậm thanh tốn, q hạn hoặc khơng thể thu hồi sẽ ảnh

hưởng tới năng lực tài chính của khách hàng. Cùng với đó, các khoản phải trả

tăng đột biến cho thấy khách hàng đang gặp khó khăn, bắt đầu phải trì hỗn các

khoản phải trả và đây cũng chính là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy có vấn đề rắc

rối.

+ Các khoản phải thu, phải trả quá tập trung vào một số đối tác lớn.

+ Các khoảndự phòng phải thu khó đòi tăng nhanh.

✓ Hàng tồn kho

+ Hàng tồn kho quá nhiều : điều này có thể thấy doanh nghiệp đang vận

hành dưới mức năng lực bán hàng của mình hoặc doanh thu giảm.

+ Nguyên vật liệu mua bị trả lại nhiều

+ Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho tăng nhanh

Trên cơ sở những dấu hiệu và số liệu nêu trên, ngân hàng sẽ thực hiện đánh

giá khách hàng, khả năng hoàn trả nợ vay cho ngân hàng để xác định khoản nợ

đó là nợ xấu hay không. Việc xác định khoản vay là nợ xấu sẽ dựa trên mức độ

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



12



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



ảnh hưởng nghiêm trọng của các dấu hiệu về tài chính và phi tài chính đến khả

năng trả nợ của khách hàng, trên cơ sở thiết lập một bộ chỉ tiêu (bao gồm các

dấu hiệu tài chính và phi tài chính) quy đổi theo tỷ lệ nhất định tương ứng với

khả năng trả nợ của khách hàng. Thông thường, việc đánh giá khách hàng, khả

năng trả nợ cũng như xác định nợ xấu được các NHTM chuẩn hóa thành Hệ

thống xếp hạng tín dụng nội bộ.

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ bao gồm các chỉ tiêu về tài chính, phi

tài chính được lượng hóa theo thang điểm 100. Theo đó, việc phân loại khách

hàng sẽ được phân chia thành mười mức khác nhau, trên cơ sở đó NHTM sẽ

thực hiện xác định, phân loại các khoản vay của những khách hàng này theo

năm nhóm nợ tương ứng, cụ thể:

Bảng 1.2 Phân biệt khách hàng phân loại nợ

Tổng số điểm

Xếp hạng

Phân loại nợ

Từ

Đến

91

100

AAA

Khách hàng tiềm năng

81

90

AA

Đạt chuẩn

71

80

BBB

Đủ tiêu chuẩn

66

70

B

Cần chú ý

61

65

CCC

Cần chú ý

56

60

CC

Dưới tiêu chuẩn

51

55

C

Dưới tiêu chuẩn

46

50

D

Nghi ngờ

41

45

Nghi ngờ

0

40

Có khả năng mất vốn

Theo đó, các khách hàng được xếp loại từ BBB đến D thì các khoản vay

của các khách hàng này tương ứng sẽ được xác định là nợ xấu. Ngoài ra, những

khoản nợ đã được xử lý bằng quỹ dự phòng của Ngân hàng, đang được theo dõi

tại ngoại bảng cũng là các khoản nợ xấu.

4.3.2.3.Xử lý nợ xấu

Trên cơ sở chính sách nợ xấu, xác định được nợ xấu, việc xử lý nợ xấu cần

phải được lập kế hoạch và triển khai đảm bảo hiệu quả về mặt thời gian và chi phí.

*/ Đơn đốc thu hồi nợ

Các NHTM cần tiến hành phân tích, phân loại các khoản nợ xấu để từ đó

đề ra biện pháp đơn đốc, thu hồi, xử lý phù hợp với từng khoản vay. Cần quản lý

tài chính chặt chẽ với các khách hàng có nợ xấu, đặc biệt là các khách hàng lớn.

Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động thì cần tạo điều kiện để họ duy trì hoạt

động bình thường. Các biện pháp đôn đốc thu hồi chỉ nên thực hiện trong một

thời gian nhất định đồng thời cần vận dụng kết hợp với một số biện pháp khác.

*/ Tái cơ cấu các khoản nợ, tái cấu trúc doanh nghiệp

Biện pháp này được áp dụng đối với những khoản nợ có khả năng thu hồi.

Sau khi thương lượng với khách hàng về giải pháp thực thi cũng như yêu cầu

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



13



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



cam kết của khách hàng, Ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp sau :

+ Gia hạn nợ: là việc khách hàng được phép kéo dài thêm thời hạn trả nợ

cuối cùng. Đây là phương án giúp khách hàng giảm bớt được áp lực thanh toán

nợ trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó có thể phục hồi hoạt động kinh

doanh cũng như thu xếp vốn để trả nợ ngân hàng.

+ Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: là việc khách hàng được thay đổi thời gian trả

từng phần của khoản nợ hoặc thay đổi số tiền từng kỳ trả nợ đã thỏa thuận ban đầu

nhưng không làm thay đổi tổng số tiền phải trả và thời hạn trả hết nợ cuối cùng.

+ Cấp thêm vốn cho khách hàng: Ngân hàng chỉ xem xét cấp thêm vốn khi

khách hàng chứng minh được kế hoạch kinh doanh sẽ giúp khách hàng vượt qua

giai đoạn khó khăn và chắc chắn có hiệu quả. Việc áp dụng phương pháp này có

tính mạo hiểm vì thế cần được cân nhắc và kiểm sốt chặt chẽ.

+ Chứng khốn hóa các khoản nợ: Ngân hàng có thể chuyển các khoản nợ

xấu thành vốn cổ phần đối với các doanh nghiệp cổ phần hoặc trái phiếu. Ngân

hàng áp dụng biện pháp này khi các khách hàng gặp khó khăn nhưng được đánh

giá là có triển vọng phục hồi. Trong trường hợp khách hàng là cổ đông của Ngân

hàng thì Ngân hàng có thể tạo điều kiện để cổ đơng đó bán cổ phiếu cho bên thứ

ba để trả nợ Ngân hàng.

*/ Xử lý tài sản bảo đảm, yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Khi các khoản nợ xấu không thể cơ cấu, khách hàng trây ỳ khơng thanh tốn

hoặc khơng có khả năng thanh tốn nợ thì Ngân hàng sẽ tiến hành các biện

pháp xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo

lãnh.

+ Thanh lý tài sản bảo đảm tiền vay: Thông thường khi xét duyệt cho vay,

khách hàng cần có tài sản bảo đảm nhất định để đảm bảo cho nghĩa vụ nợ tại

ngân hàng. Khi khách hàng không trả nợ, ngân hàng sẽ xem xét áp dụng biện

pháp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản sau khi hoàn tất các thủ tục

pháp lý để bàn giao cho Ngân hàng, ngân hàng có thể sẽ tự bán cơng khai tài sản

; hoặc bán qua trung tâm bán đấu giá tài sản ; hoặc bán cho Công ty mua bán nợ

+ Quản lý, khai thác tài sản: Tùy theo trường hợp cụ thể, ngân hàng có thể

tiếp nhận tài sản, tiếp tục quản lý, khai thác tài sản để thu hồi nợ

+ Yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Trong trường hợp

việc đòi nợ từ phía người vay gặp khó khăn, ngân hàng có thể yêu cầu người bảo

lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh dưới hình thức thanh tốn nợ trực tiếp

hoặc xử lý tài sản bảo đảm của người bảolãnh.

*/ Bán các khoản nợ

Ngân hàng thường áp dụng biện pháp này khi không muốn mất thời gian

hoặc bản thân ngân hàng đã có mộttổ chức chun mơn hóa trong việc xử lý nợ

đó là Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản. Việc bán lại các khoản nợ xấu

(hay quyền đòi nợ) cho một tổ chức khác (có thể là một ngân hàng hoặcCông ty

quản lý nợ và khai thác tài sản) sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu được nợ xấu. Tuy

nhiên, khi áp dụng biện pháp này ngân hàng thường phải chấp nhận bán lại các

khoản nợ với giá trị thấp hơn quyền đòi nợ hiện tại, từ đó gây ra những tổn thất

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



14



Lớp 9LTTD-TC13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1 Phân chia các khoản vay theo đặc thù và thời hạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×