Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO CHO VAY TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO CHO VAY TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



trừ qua NHNN hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu v..v... bằng các biện pháp

kỹ thuật như:thư, điện tín, hệ thống máy tính điện tử v..v...

1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế.

1.2.1 Đối với sản xuất lưu thông hàng hố.

NHTM là trung gian tài chính thúc đẩy sản xuất và lưu thơng hàng hố phát

triển.Nó khơng chỉ đáp ứng đầy đủ vốn cho các doanh nghiệp mà còn thơng qua

các dịch vụ thanh tốn, tư vấn hỗ trợ kinh doanh của doanh nghiệp.Bên cạnh đó nó

còn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc lưu thơng hàng hố nhằm đáp ứng nhu cầu

đầu tư, tiêu dùng cho toàn xã hội một cách nhanh chóng và hiệu quả.

1.2.2. Đối với điều hồ lưu thơng tiền tệ.

NHTM là nơi chủ yếu nhất và tốt nhất để lĩnh tiền vào lưu thơng.Bằng con

đường tín dụng NHTM đã đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế,thúc đẩy sản

xuất tạo thêm hàng hoá, của cải vật chất cho xã hội làm cơ sở ổn định tiền tệ.

Hoạt động tín dụng góp phần thúc đẩy nhanh việc thanh toán qua ngân hàng làm

giảm luợng tiền mặt trong lưu thông làm tăng hiệu quả việc áp dụng các chính

sách tiền tệ làm tăng hoặc giảm luợng tiền cung ứng trong lưu thông.Nếu

NHTW tăng lãi suất tái cấp vốn thì các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay khi đó

nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp giảm xuống và lượng tiền cung ứng trong lưu

thông sẽ giảm.Ngược lại với lãi suất tái cấp vốn giảm sẽ làm cho lượng tiền

cung ứng sẽ tăng lên.

1.3. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

1.3.1. Khái niệm và tính chất khách quan của rủi ro.

Cụm từ “rủi ro” được nhiều nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác

nhau, nhưng khái quát lại ta có thể hiểu rủi ro là xuất hiện một biến cố không

mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ thể rủi ro có thể xảy ra trong mọi

hoạt động, mọi lĩnh vực mà không phụ thuộc vào ý muốn con người.

Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn gắn liền với rủi

ro.Rủi ro tác động trực tiếp tới kết quả doanh lợi, nguy cơ phá sản của các ngân

hàng.Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và

từ đó tìm kiếm nhiều phương pháp chống đỡ các rủi ro là đòi hỏi của sự tồn tại

và phát triển của ngân hàng.Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một tất yếu,

mà các nhà quản lý ngân hàng chỉ có thể có chính sách giảm bớt chứ khơng thể

gạt bỏ được chúng.

1.3.2. Các loại rủi ro của NHTM.

- Rủi ro tín dụng:là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do

khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.

- Rủi ro lãi suất:là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu

khi lãi suất thị trường có sự biến đổi.

- Rủi ro hối đoái:là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây tổn

thất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

- Rủi ro thanh khoản:Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng

thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức.Khi gặp phải trường hợp này các

ngân hàng phải bán các tài sản có tính lỏng thấp với giá rẻ hay vay từ NHTW.

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



2



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



- Rủi ro tồn đọng vốn: Rủi ro tồn đọng vốn xảy ra khi vốn bị đọng lớn

không cho vay và đầu tư được làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút.

- Rủi ro khác: Các loại rủi ro khác là rủi ro công nghệ,rủi ro quốc gia gắn

liền với các hoạt động đầu tư cũng như khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm

lẫn trong thanh toán, hoả hoạn...

2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

2.1. Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM

2.1.1. Khái niệm về rủi ro cho vay

Rủi ro cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu

do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và

lãi. Khi ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay cụ thể thì trong hoạt động đó

ln hàm chứa rủi ro tiềm ẩn, rủi ro này nó sẽ làm giảm khoản thu nhập của

ngân hàng. Do đó trong hoạt động quản lý tồn bộ ngân hàng ln xác định một

tỷ lệ tổn thất dự kiến nhằm hạn chế mức tối thiểu các thiệt hại về tài sản do các

rủi ro cho vay gây ra.

2.1.2. Các hình thức rủi ro cho vay

Theo khái niệm về rủi ro tín dụng thì rủi ro tín dụng được chia thành các

hình thức sau:

- Không thu được lãi đúng hạn: Lúc này ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào

khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp

- Không thu được vốn đúng hạn

Khi khơng thu được vốn đúng hạn thì tình hình sử dụng vốn bị ảnh hưởng

và ảnh hưởng tới tính thanh khoản của tài sản. Hình thức này gây rủi ro lớn

trong nhiệm vụ đảm bảo thanh khoản và tình hình sinh lời của tài sản.

- Không thu đủ lãi

Khi ngân hàng khơng thu được đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng.

Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã gặp khó khăn khơng hiệu quả

trong việc sử dụng vốn. Lúc này ngân hàng cần có những biện pháp hỗ trợ

khách hàng như giảm lãi, tư vấn cho khách hàng hoặc có thể cung cấp thêm

những khoản tín dụng cần thiết cho khách hàng nếu dự án đang đầu tư là khả thi.

- Không thu đủ vốn cho vay

Khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay tại thời điểm này, ngân hàng sẽ

chuyển khoản nợ vào mục nợ khơng có khả năng thu hồi hoặc phải xố nợ. Trên

đây là bốn hình thức rủi ro cho vay có thể xảy ra đối với các ngân hàng. Qua

nghiên cứu để nhận biết và các biện pháp xử lý rủi ro một cách có hiệu quả nhất.

2.1.3. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro trong cho vay

- Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn

thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Chỉ tiêu này ảnh hưởng đáng kể tới tính

thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng, ảnh hưởng tới chi phí gia tăng

làm giảm thu nhập của ngân hàng.

- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ

Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã qua một kỳ gia hạn nợ.

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



3



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



Những khoản nợ này ngân hàng phải có những biện pháp thích hợp để thu

lại tiền vay sao cho hợp lý nhất. Bởi vì các khoản nợ này hi vọng thu lại tiền vay

là khó, lúc này khả năng chi trả của khách hàng hạn hẹp. Loại nợ này chứa đựng

rủi ro cao và thường mang lại tổn thất cho ngân hàng.

2.1.4. Ảnh hưởng của rủi ro cho vay đối với ngân hàng

- Rủi ro cho vay làm giảm doanh thu của ngân hàng

Những khoản cho vay gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt

tài sản khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm doanh thu của ngân

hàng. Còn trong trường hựop ngân hàng thu được lãi treo hay nợ q hạn thì

cũng ảnh hưởng tới tính thanh tốn và rủi ro thanh khoản của ngân hàng do đó

ảnh hưởng tới doanh thu của ngân hàng.

- Rủi ro cho vay làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng

Rủi ro cho vay nó đã ảnh hưởng tới việc hồn trả tiền gửi của ngân hàng gặp

nhiều khó khăn. Các khoản đầu tư, cho vay thu hồi chậm hoặc không thu hồi được

trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả vốn huy động một cách đều đặn cả vốn, lãi đúng

kỳ hạn. Chính vì thế nó đã làm hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng.

- Rủi ro cho vay làm giảm uy tín của ngân hàng

Rủi ro cho vay làm giảm uy tín của ngân hàng và khả năng kinh doanh của

ngân hàng. Ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả.

Điều này tác động mạnh tới uy tín của ngân hàng làm cho lòng tin của khách hàng

vào ngân hàng bị giảm. Nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lượng khách hàng tới ngân

hàng để gửi tiền cũng như sử dụng các dịch vụ của ngân hàng do đó quy mơ hoạt

động của ngân hàng bị ảnh hưởng và gây ra những tổn thất về tài chính.

Mặt khác nếu ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro trong cho vay thì khả năng

phá sản của các ngân hàng đó là rất cao. Bởi vì khi mà ngân hàng gặp nhiều rủi

ro trong kinh doanh thì khả năng thanh tốn hay tính thanh khoản của ngân hàng

là không cao. Mà khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây tâm lý bất ổn

cho người gửi tiền về khả năng chi trả của nn dẫn tới họ rút tiền hàng loạt thì

khả năng chi trả của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn nó có thể sẽ bị phá sản.

Hậu quả phá sản của một ngân hàng khơng chỉ mình bản thân ngân hàng đó

gánh chịu mà nó còn tác động tới những ngân hàng có quan hệ với ngân hàng

này. Điều này gây ra sự phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của

các ngân hàng ảnh hưởng tới tồn bộ nền kinh tế. Chính vì những hậu quả khó

lường khi mà rủi ro tín dụng gây ra như các cuộc khủng hoảng tài chính năm

1997. Nó đã làm nền kinh tế các nước khu vực châu Á lâm vào khủng hoảng

nặng nề. Vì vậy mỗi ngân hàng phải luôn quan tâm tới rủi ro trong cho vay cũng

như rủi ro tín dụng để đảm bảo cho q trình hoạt động kinh doanh của ngân

hàng thực sự là đòn bảy cho nền kinh tế phát triển.

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro cho vay

2.2.1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng

- Trong quá trình cho vay, cán bộ ngân hàng làm sai quy tắc tín dụng, hoặc trình

độ yếu kém không đủ khả năng thẩm định những dự án phức tạp, trình độ chun

mơn còn hạn chế chưa bắt kịp với những thay đổi của thị trường, chính những yếu

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



4



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



điểm này đã tạo ra khe hở cho khách hàng chiếm đoạt vốn của ngân hàng.

- Bên cạnh đó yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Các ngân

hàng đã quên nhiệm vụ đảm bảo an tồn mà chạy theo chính sách lợi nhuận. Bỏ

qua các quy tắc phòng ngừa rủi ro, làm sai lệch các nguyên tắc co vay, trong

thẩm định dự án. Đây là chính sách mạo hiểm trong kinh doanh nó sẽ mang lại

tổn thất lớn nếu xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

- Công tác đào tạo cán bộ ngân hàng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu

cầu nhiệm vụ kinh doanh trong thời kỳ mới, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn

chế cả nghiệp vụ và hiểu biết nắm bắt những thay đổi của thị trường.

- Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các đảm bảo tín

dụng, người bay khơng đáp ứng đủ các điều kiện về tài sản thế chấp, cầm cố,

bảo lãnh nhưng NHTM vẫn cho vay. Bên cạnh đó có một số cán bộ tín dụng

biến chất đã thơng đồng với khách hàng nâng giá trị tài sản nhằm nhằm mục

đích vay được nhiều tiền. Tuy tài sản thế chấp là tiêu chuẩn thứ yếu nhưng chính

nó là nguồn đảm bảo thu nợ thứ hai khi khách hàng không có khả năng trả nợ

bằng nguồn thu thứ nhất. Chính vì vậy việc định giá tài sản đảm bảo cũng là một

yếu tố tác động tới rủi ro ngân hàng.

2.2.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng

Nguyên nhân dẫn tới rủi ro cho vay của NHTM từ phía khách hàng có thể

chia làm hai trường hợp sau:

- Nguyên nhân do khách quan mang lại

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranh gay

gắt và để tồn tại thì các doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình trong những quan hệ

phức tạp của xã hội. Tuy nhiên, rủi ro vẫn luôn là điều không thể tránh khỏi như

trên đã nêu: nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng là từ các doanh nghiệp thơng

qua hoạt động tín dụng; chính vì vậy hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng

rất lớn tới hoạt động của ngân hàng và rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp

nó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới rủi ro tín dụng của ngân hàng. Rủi ro của doanh

nghiệp xảy ra như:

+ Doanh nghiệp bị rủi ro khách quan: thiên tai hoả hoạn, động đất… Đây

là trường hợp bất khả kháng khó mà lường trước được.

+ Bản thân doanh nghiệp bị lừa đảo hoặc bị ảnh hưởng từ phía khách hàng

của doanh nghiệp.

Ngồi các trường hợp nêu trên còn có rủi ro xuất phát từ chính sự yếu kém

của bản thân doanh nghiệp. Sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường luôn đặt

doanh nghiệp trong tình trạng phải có sự nỗ lực cao độ vì bất kì một sự sai sót

nào trong phương thức quản lý kinh tế cũng như quản lý tài chính đều dẫn đến

thua lỗ, phá sản doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp

- Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh

+ Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực

kinh doanh của ngân hàng cũng như của doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có

hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ được cho ngân hàng. Ngược lại khi nền

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



5



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



kinh tế rơi vào suy thoái, mất ổn định đã làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều

khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, sức mua bị giảm sút,

hàng hố bị ứ đọng điều này ảnh hưởng tới các khoản nợ của các ngân hàng.

Ngồi ra, các chính sách kinh tế vĩ mơ nó tác động tới hoạt động của ngân

hàng. Chính phủ sẽ ưu tiên hơn về luật pháp, điều kiện kinh doanh trong lĩnh

vực chính phủ khuyến khích đầu tư phát triển và ngược lại. Do những chính

sách kinh tế của chính phủ nó đã làm giảm bớt khách hàng đến với ngân hàng từ

các lĩnh vực mà nhà nước khơng khuyến khích phát triển.

+ Mơi trường chính trị, xã hội

Mơi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư

phát triển. Đây cũng là điều kiện để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp. Ngược

lại nếu mơi trường chính trị, xã hội khơng ổn định thì các doanh nghiệp khơng

thể yên tâm mà phát triển và luôn đặt trong rủi ro có thể ập tới bất kì lúc nào đối

với doanh nghiệp cũng như ngân hàng.

+ Môi trường pháp lý: Nếu như một đất nước xây dựng được một hành

lang pháp lý thơng thống và có hiệu lực sẽ thu htú được đông đảo các nhà đầu

tư vào đầu tư phát triển đây là điều tất yếu của nền kinh tế thị trường. Và ngược

lại nếu hành lang pháp lý lỏng lẻo tạo ra nhiều khe hở, gây nên tình trạng mánh

khoé, lừa đảo và gây thiệt hại lẫn nhau từ đó nó ảnh hưởng tới khả năng thanh

tốn cho ngân hàng, thậm chí trực tiếp lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng.

Như vậy trong nền kinh tế thị trường, do những biến động của thị trường, những

nguyên nhân khác nhau của nền kinh tế tác động tới hoạt động của doanh nghiệp

và chính bản thân ngân hàng làm nảy sinh các biến cố trong quan hệ tín dụng

làm cho các quan hệ tín dụng vận động theo những chiều hướng xấu, khơng có

lợi cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là điều không thể

tránh khỏi hay nói cách khác: Rủi ro xảy ra là điều tất yếu khách quan trong hoạt

động kinh doanh tín dụng của ngân hàng thương mại, rủi ro thường xuyên đưa

ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn cả về tài chính lẫn các dịch vụ mà ngân hàng

cung cấp. Vì vậy cần phải phòng tránh rủi ro. Loại bỏ rủi ro là điều khơng thể có

nhưng phòng ngừa và hạn chế nó thì các nhà kinh doanh Ngân hàng hồn tồn

có thể làm được. Việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro giúp cho Ngân hàng

Thương mại hoàn toàn được vốn, tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh và tăng

thu nhập, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao được uy

tín của Ngân hàng đối với khách hàng, nhờ đó Ngân hàng có thể mở rộng kinh

doanh và phát huy được vai trò của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế.

3. Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

3.1. Khái niệm và đặc điểm, tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhìn chung, ở các nước khác nhau và các nền kinh tế khác nhau thì khái

niệm và tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa là khác nhau. Một số nước

chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là số lao động nhỏ (dưới 250 người); có nước lại

căn cứ vào mức doanh thu hàng năm; một số khác đặt ra các tiêu chí khác nhau

cho các ngành khác nhau…



Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



6



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



Ở Việt nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc

lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí khơng q

10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm khơng q 300 người.

Là một nước đang phát triển, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam có

tầm quan trọng khơng thể bị xem nhẹ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhỏ

và vừa có một số đặc điểm sau:

· Có số lượng lớn nhất

· Có đóng góp vào GDP lớn nhất

· Tạo cơng ăn việc làm cho người dân nhiều nhất

Theo thống kê từ Tổng cục thống kê Việt nam, có 86. 5 % doanh nghiệp

ngoài quốc doanh là doanh nghiệp nhỏ và vừa, 90% số lượng lao động làm việc

tại các các doanh nghiệp nhỏ và vừa, 99, 6 % lượng vốn đăng kí là của các

doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này có nghĩa là tuy nguồn lực khiêm tốn (vốn

đăng kí khơng q 10 tỷ đồng và lượng lao động không quá 300 người) nhưng

với số lượng áp đảo nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang chiếm giữ được

lượng lao động và của cải lớn của xã hội.

- Ưu điểm, nhược điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

+Ưu điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

 DNNVV tự do cạnh tranh bình đẳng hơn so với các doanh nghiệp lớn

 DNNVV làm cân bằng giữa các vùng, miền trong nước

 DNNVV khai thác được tiềm lực trong nước

 DNNVV có thể sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu

 DNNVV năng động, nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường.

 DNNVV dễ dàng tạo lập, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp

+ Nhược điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

 Hạn chế về khả năng tài chính

 Khả năng tiếp cận thị trường kém

 Thiếu thơng tin, trình độ quản lý doanh nghiệp chưa cao

 Tính liên kết hợp tác kinh doanh của các DNNVV còn kém

Để có được sự thành cơng của các DNNVV phải kể đến vai trò của các tổ

chức tài chính - tín dụng, các Ngân hàng Thương mại trong đó có Ngân hàng

Cơng thương đã tích cực đầu tư và hỗ trợ kịp thời cho sự phát triển của các

doanh nghiệp.

3.2. Nguồn vốn và đặc điểm vốn vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.2.1. Nhu cầu và khả năng tiếp cận các nguồn vốn

Do vốn ưu đãi phát triển DNNVV từ các nguồn tài trợ của nước ngồi còn

hạn chế, năng lực của DNNVV chưa đáp ứng các điều kiện để có thể huy động

từ thị trường chứng khốn. Chính vì vậy, để mở rộng sản xuất và phát triển hoạt

động kinh doanh, DNNVV chủ yếu tiếp cận nguồn vốn tín dụng Ngân hàng.

Nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này cũng không phải dễ dàng. Theo điều tra về

thực trạng DNNVV của Cục phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bộ Kế hoạch



Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



7



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



và Đầu tư chỉ có 32,28% các DNNVV có khả năng tiếp cận được nguồn vốn

Ngân hàng, còn lại các DNNVV rất khó hoặc khơng thể tiếp cận được.

Điều đó cho thấy việc mở rộng cho vay đối với các DNNVV hiện nay là

cơ hội đối với các NHTM nói chung và NHCT nói riêng; phù hợp với xu thế

phát triển của nền kinh tế, phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và Nhà

nước giúp cho các Ngân hàng chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý, tăng trưởng tín

dụng, đa dạng hố các danh mục đầu tư cho vay, phân tán rủi ro và nâng cao vị

thế cạnh tranh.

3.2.2. Khả năng vay vốn tại các NHTM

Như đã phân tích ở trên, ngồi việc sử dụng vốn chủ sở hữu, lựa chọn tối ưu

cho các DNNVV là vay vốn tại các NHTM. Tuy nhiên, việc có được vốn vay từ

nguồn này cũng không đơn giản. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính các DNNVV.

Mặc dù nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn nhưng các doanh nghiệp này lại

không đáp ứng hoặc đáp ứng không đủ các điều kiện tối thiểu mà ngân hàng đề

ra như có kết quả hoạt động kinh doanh tăng trưởng liên tục trong năm năm liền;

xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho năm tới; có tài sản đảm bảo…

Trình độ xây dựng hồ sơ xin vay có vai trò quan trọng trong q trình vay

vốn tại NHTM, trong khi đó, chủ các DNNVV thường khơng có bằng cấp, trong

khi đó lại khơng chú trọng đến hoạt động kế tốn hay hạch toán kinh doanh, do

vậy để xây dựng được một kế hoạch sản xuất kinh doanh tốt là điều khó thực

hiện. Bên cạnh đó, tài sản đảm bảo (nguồn thu nợ thứ hai khi các doanh nghiệp

này không thể trả nợ được cho ngân hàng) lại không đủ để doanh nghiệp có thể

vay được tồn bộ khoản vốn cần thiết

Hơn nữa, tuy tổng nhu cầu vốn của các DNNVV là khá lớn nhưng lượng

vốn mà mỗi doanh nghiệp đơn lẻ cần lại tương đối nhỏ. Đặc điểm này khiến các

NHTM thường ít ưu tiên cho vay với đối tượng này do rủi ro lớn mà chi phí lại cao.

4. Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại

4.1. Khái niệm nợ xấu:

Yếu tố rủi ro trong kinh doanh là yếu tố ngẫu nhiên khó đốn biết trước,

mơi trường sản xuất kinh doanh tự nó phải chịu sự tác động của rất nhiều yếu

tố ngẫu nhiên như thiên tai, chiến tranh, lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng

kinh tế….ảnh hưởng đến thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Ngân hàng

là một ngành kinh doanh nhiều rủi ro. Ngân hàng nào không chấp nhận rủi ro

thì khơng có lợi nhuận. Do đó, rủi ro tín dụng mà cụ thể là những khoản nợ xấu

là một phần tất yếu trong hoạt hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khơng có

gì là bất bình thường cả. Khi gặp rủi ro trong kinh doanh người vay tiền khơng

thể hồn trả vốn vay cho ngân hàng đúng hạn và thế là phát sinh nợ quá hạn

đối với ngân hàng. Như vậy, Nợ xấu là khoản nợ mà quá thời hạn thanh toán

một số ngày nhất định mà người đi vay khơng có khả năng thực hiện ngay

nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng cho vay. Nó là kết quả của mối

quan hệ tín dụng khơng hồn hảo. Truớc hết, nợ xấu vi phạm đặc trưng cơ bản

của tín dụng là tính thời hạn, và tính hồn trả đầy đủ, sau nữa, nó gây nên sự

mất lòng tin của người cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng. Tuy

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



8



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, là vấn đề mà tất cả các

NHTM trên thế giới phải đối mặt, nhưng, nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt động

ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng khơng có vốn để thanh tốn cho người

gửi tiền khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng. Do

đó vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu là một

công tác hết sức quan trọng tại các NHTM.

4.2. Các tiêu chí xác định nợ xấu ngân hàng

Việc xác định nợ xấu ngân hàng trước hết phải thông qua việc phân loại

nợ. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF và ngân hàng thế giới WB, thì khoản vay nợ

được chia làm 5 nhóm.

Bảng 1.1 Phân chia các khoản vay theo đặc thù và thời hạn

Khoản vay

Đặc thù và thời hạn

1. Nợ đủ tiêu - Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ

chuẩn

- Tài sản được đảm bảo bằng tiền hoặc tương đương

- Quá hạn dưới 90 ngày

2. Nợ cần chú ý - Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hƣởng đến khả năng

trả nợ

- Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn

- Q hạn dưới 90 ngày

3. Nợ dưới tiêu - Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả

chuẩn

năng trả nợ

- Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại

- Quá hạn từ 90 đến 180 ngày

4. Nợ đáng ngờ - Không chắc chắn thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều

kiện hiện tại

- Có khả năng thất thốt

- Q hạn từ 180 đến 360 ngày

5. Nợ có khả - Các khoản vay khơng thu hồi được

năng mất vốn

- Ln có khả năng thu hồi lại một phần

- Quá hạn hơn 360 ngày

Bản chất của cách phân chia này là dựa vào hai yếu tố định tính và định

lượng. Trên cơ sở phân loại của IMF và WB, các nước đã tiến hành phân loại nợ

của các NHTM theo 5 nhóm. Trong đó, “nợ xấu” (non-Performance loan - NPL)

là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu

× 100%

Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ

xấu. Chính vì vậy, tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín

dụng của ngân hàng. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của

ngân hàng lúc này khơng còn ở mức độ rủi ro thơng thường nữa mà là nguy cơ

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



9



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



mất vốn. Hiện nay, theo thơng lệ quốc tế, tỷ lệ an tồn cho phép là dưới 5%

4.3. Quản lý nợ xấu trong hoạt độngcho vaycủaNgân hàng thương mại

4.3.1.Khái niệm quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay

của Ngân hàng

thương mại

Hoạt động cho vay của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro và khả năng

phát sinh nợ xấu là một biểu hiện rõ nhất của rủi ro tín dụng. Nợ xấu phát sinh

sẽ gây hậu quả không nhỏ không chỉ đến hoạt động ngân hàng mà còn tác động

đến cả nền kinh tế. Vì thế, chấp nhận rủi ro để có những biện pháp ngăn ngừa rủi

ro và xử lý tổn thất là việc làm cần thiết và mang lại hiệu quả trong hoạt động tín

dụng ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng.

Xuất phát từ tầm quan trọng và hậu quả mà nợ xấu có thể mang lại, việc quản

lý nợ xấu luôn được các ngân hàng quan tâm và đề ra những yêu cầu cụ thể.

Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách về nợ xấu

nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.

4.3.2. Nội dung quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của

Ngân hàng

thương mại

Trong hoạt động của NHTM, xây dựng được một chính sách quản trị rủi ro

từ hoạt động cho vay và thực thi tốt chính sách đó có ý nghĩa quyết định. Quản

lý nợ xấu đòi hỏi các NHTM cần phải làm tốt từ việc nhận biết nợ xấu đến việc

áp dụng các giải pháp xử lý nợ xấu đã phát sinh một cách hiệu quả.

4.3.2.1. Xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu

Việc xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu có vai trò quan trọng trong quản lý nợ

xấu. Chỉ tiêu về nợ xấu không chỉ giúp định hướng mà còn có tác động trực tiếp

đến cơng tác xử lý nợ xấu phát sinh. Chỉ tiêu về nợ xấu thường được xây dựng

cho một thời kỳ hoặc một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) trên

cơ sở nền kinh tế vĩ mơ, quy mơ tín dụng, cơ cấu ngành và đặc điểm về nguồn

nhân lực của ngân hàng. Tùy điều kiện và mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu về nợ xấu có

thể được xây dựng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng.

Chỉ tiêu về nợ xấu cần đảm bảo các nội dung định lượng (tỷ lệ phần trăm

so với tổng dư nợ, doanh số nợ xấu phát sinh) và định tính (định hướng theo

ngành, theo thời gian, theo địa bàn…).

4.3.2.2. Xác định nợ xấu

Việc xác định nợ xấu cần được NHTM thực hiện định kỳ và đột xuất ngay

khi khách hàng hoặc khoản vay có những biểu hiện nhất định:

a - Dấu hiệu phi tài chính

✓ Hành vi của khách hàng

+ Tìm cách tránh gặp ngân hàng, miễn cưỡng hoặc chậm cung cấp thơng

tin tài chính : Khi nhận thấy hoạt động kinh doanh đang gặp vấn đề, ban lãnh

đạo sẽ thường có xu hướng liên lạc với ngân hàng ít hơn so với khi đang làm ăn

tốt. Khách hàng có những biểu hiện này, Ngân hàng cần tìm hiểu nguyên nhân

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



10



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Cơng Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



đồng thời đánh giá toàn bộ các khoản vay hiện tại của khách hàng, cảnh báo về

khả năng dẫn đến nợ xấu.

+ Khách hàng tỏ ra không đáng tin : Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng,

việc khách hàng không giữ uy tín sẽ là một dấu hiệu rõ nét tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu.

✓ Khả năng quản lý

+ Bằng chứng phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ công ty, đặc biệt là trong

đội ngũ cán bộ quản lý : Việc xảy ra mâu thuẫn giữa những người điều hành có

thể ảnh hưởng khơng nhỏ đến tình hình kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn

thu để trả nợ, tiềm ẩn nợ xấu.

+ Nghỉ ốm dài hoặc bất ngờ của những nhân sự chủ chốt, mất các nhà quản

lý cấp cao : Sự thay đổi bất ngờ và bất thường của đội ngũ cán bộ quản lý là dấu

hiệu cảnh báo hoạt động kinh doanh có sự thay đổi theo chiều hướng bất lợi

hoặc có sự vi phạm pháp luật.

+ Tin đồn bất lợi về doanh nghiệp : Việc phát sinh tin đồn bất lợi, dù đúng hay

không đúng cũng sẽ có những ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như uy

tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nợ xấu.

+ Đầu tư vào lĩnh vực ngồi kinh nghiệm, chun mơn, thiếu nhận biết về

vị trí của cơng ty trên thị trường hoặc về vấn đề cạnh tranh : Trong thời kỳ hội

nhập kinh tế sâu rộng, việc kinh doanh mạo hiểm cũng như khơng nhận biết

được điểm mạnh, điểm yếu của mình sẽ khơng thể giúp doanh nghiệp phát triển

mở rộng hay ít nhất là giữ vững vị thế hiện có của mình.

✓ Hoạt động kinh doanh

+ Có hoạt động pháp lý chống lại khách hàng, bao gồm cả những khó khăn

với cơ quan thuế hoặc hải quan : Việc vi phạm những quy định của pháp luật,

ngay cả những lỗi đối với việc kê khai thuế, hải quan sẽ ảnh hưởng tới quyền

được hoạt động kinh doanh của khách hàng theo quy định của pháp luật, có thể

phải ngừng hoạt động đối với những vi phạm nghiêm trọng.

+ Các nhà cung cấp, nhà phân phối lớn thay đổi chính sách bán, mua hàng :

Việc thay đổi chính sách của các đối tác, đặc biệt là đối tác lớn sẽ ảnh hưởng

không nhỏ tới hoạt động kinh doanh nói chung, doanh thu, lợi nhuận của khách

hàng nói riêng.

+ Tình hình mơi trường vĩ mô : Ngân hàng cần nắm được những yếu tố vĩ

mơ, nằm ngồi tầm kiểm sốt của người vay và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ

của người vay như chi phí tăng nhưng lại khơng thể chuyển một phần sang cho

khách hàng, lãi suất cao hơn, vấn đề về ngành kinh doanh...để chủ động đánh

giá hoạt động kinh doanh của khách hàng có chịu tác động theo hướng bất lợi

hay khơng.

b - Dấu hiệu tài chính

✓ Kếtquả kinh doanh

+ Doanh thu tăng quá nhanh nhưng vốn lưu động không sẵn sàng đủ do

tăng cường chính sách bán chịu hoặc phải chịu sức ép cạnh tranh, chênh lệch lợi

nhuận biên thấp sẽ ảnh hưởng tới vốn duy trì hoạt động cũng như khả năng

thanh toán của khách hàng.

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



11



Lớp 9LTTD-TC13



ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội



Khoa Tài chính



+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn mức bình quân của ngành.

+ Các khoản thu nhập và chi phí bất thường tăng đột biến.

+ Xuất hiện lỗ ròng hoặc lưu chuyển tiền tệ âm : Một doanh nghiệp sẽ

khơng thể duy trì được lâu sự tồn tại của mình trong những điều kiện như vậy.

✓ Tài sản cố định

+ Giá trị còn lại tài sản cố định giảm mạnh : khách hàng thực hiện bán,

thanh lý tài sản nằm ngoài kế hoạch thay mới, dấu hiệu khách hàng có thể gặp

khó khăn, chuyển đổi tài sản cố định thành tài sản có tính lỏng cao hơn, thuận

tiện cho việc thu hẹp hoặc ngừng hoạt động.

+ Tốc độ đầu tư tài sản cố định tăng quá nhanh : việc đầu tư tài sản cố định

quá mức, nằm ngoài khả năng tài chính cũng như huy động vốn của khách hàng

sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như vốn lưu động phục vụ kinh

doanh của khách hàng.

+ Hoạt động của tài sản thấp bất thường : dấu hiệu cho thấy hoạt động sản

xuất kinh doanh có nguy cơ bị thu hẹp hoặc khách hàng có khó khăn về vốn lưu

động để duy trì hoạt động sản xuất.

✓ Cơ cấu tài chính và quản lý nợ vay

+ Cơ cấu nợ vay/vốn chủ sở hữu thay đổi đột biến theo chiều hướng tăng tỷ

trọng vốn vay.

+ Tốc độ tăng nợ vay không tương xứng với tốc độ tăng doanh thu.

+ Trì hỗn tăng vốn hoặc tài trợ dài hạn, hoặc tăng vốn nhưng với mức lãi

suất cao.

+ Thu nhập để lại có xu hướng giảm dần.

+ Khả năng trả lãi kém đi.

+ Yêu cầu ngân hàng thay đổi các điều khoản đảm bảo hoặc các cam kết trả nợ.

✓ Các khoản phải thu và phải trả

+ Vòng quay các khoản phải thu/phải trả thương mại chậm lại : Giá trị các

khoản phải thu cũng như thời gian các khoản phải thu đều quan trọng. Những

khoản phải thu bị chậm thanh tốn, q hạn hoặc khơng thể thu hồi sẽ ảnh

hưởng tới năng lực tài chính của khách hàng. Cùng với đó, các khoản phải trả

tăng đột biến cho thấy khách hàng đang gặp khó khăn, bắt đầu phải trì hỗn các

khoản phải trả và đây cũng chính là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy có vấn đề rắc

rối.

+ Các khoản phải thu, phải trả quá tập trung vào một số đối tác lớn.

+ Các khoảndự phòng phải thu khó đòi tăng nhanh.

✓ Hàng tồn kho

+ Hàng tồn kho quá nhiều : điều này có thể thấy doanh nghiệp đang vận

hành dưới mức năng lực bán hàng của mình hoặc doanh thu giảm.

+ Nguyên vật liệu mua bị trả lại nhiều

+ Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho tăng nhanh

Trên cơ sở những dấu hiệu và số liệu nêu trên, ngân hàng sẽ thực hiện đánh

giá khách hàng, khả năng hoàn trả nợ vay cho ngân hàng để xác định khoản nợ

đó là nợ xấu hay khơng. Việc xác định khoản vay là nợ xấu sẽ dựa trên mức độ

Đỗ Mạnh Đức-MSV: 12302566



12



Lớp 9LTTD-TC13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO CHO VAY TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×