Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung - 2 mặt

Nội dung - 2 mặt

Tải bản đầy đủ - 0trang

2



căn nguyên xung đột giữa Chủ đầu tư và các Nhà thầu7, thì sự bất cân xứng về

thơng tin và vị thế trong giao dịch là nguồn cơn sâu xa của hầu hết các bất đồng

tranh chấp giữa Chủ đầu tư và Khách hàng, theo quan điểm của tác giả sẽ được

trình bày tại luận văn này.

Trong mối tương quan bất cân xứng như vậy giữa Chủ đầu tư và Khách

hàng, các nhà làm luật trong thời gian qua dường như chỉ loay hoay cố tìm cách can

thiệp điều chỉnh bằng cách phủ trùm lên các Bên giao dịch chiếc áo pháp luật may

sẵn, vốn luôn lỗi thời và được vá víu nhiều nơi. Các quy định liên tục được được

ban hành, thay đổi, hay hủy bỏ lần lượt theo thời gian với sự tự do ý chí của các

bên, vốn là nền tảng của khế ước, ngày càng bị thu hẹp nếu khơng muốn nói là gần

như bị thay thế bởi ý chí của chính các thợ may pháp luật già cỗi. Đơn cử chỉ trong

khoảng thời gian 01 năm từ năm 2009 đến 2010, cơ quan quản lý chuyên ngành đã

ban hành đến 02 bộ hợp đồng mẫu bắt buộc áp dụng cho các giao dịch mua bán

CHCC8. Khơng dừng lại ở đó, 04 năm sau người ta tiếp tục ban hành Thông tư

03/2014/TT-BXD ngày 20/02/2014 để thêm vào một số nội dung phải có trong

HĐMB CHCC để rồi chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, tất cả các mẫu này lại

tiếp tục có nội dung thay đổi và quan trọng hơn hết là chấm dứt hiệu lực bó buộc

mà chỉ có giá trị tham khảo theo nội dung Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày

10/09/20159.

Tuy nhiên bất kể nỗ lực can thiệp vào nội dung giao dịch giữa Chủ đầu tư và

Khách hàng mua căn hộ cung cư bằng một hợp đồng mẫu, mang tính bó buộc hoặc

tham khảo như trên, theo một báo cáo của cơ quan quản lý chuyên ngành là Bộ xây

dựng lên Thủ tướng chính phủ về tình trạng tranh chấp khiếu kiện tại các dự án bất

động sản vào năm ngoái 201810, người ta đã liệt kê một trong những nguyên nhân

dẫn đến tranh chấp đó là “người dân khi mua nhà ở đã không xem xét hết các nội

dung đã thỏa thuận trong HĐMB căn hộ đã ký, đặc biệt là các thoả thuận về quyền

và nghĩa vụ của các bên trong quản lý, sử dụng nhà ở sau khi nhận bàn giao”. Rõ

ràng, hiệu quả của chính sách can thiệp trực tiếp vào nội dung giao dịch của các bên

Lê Nết (2016), Chuyên đề giải quyết tranh chấp xây dựng, LNT& Partner 06/10/2016, tr. 32- 33.

Thông tư 01/2009/TT-BXD ngày 25/02/2009 được bãi bỏ bởi Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày

01/09/2010.

9

Khoản 1, Điều 7, Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/09/2015: “Hợp đồng mẫu trong kinh doanh bất động

sản được ban hành kèm theo Nghị định này là để các bên tham khảo trong quá trình thương thảo, ký kết hợp

đồng.”

10

Báo cáo số 1304/BXD-QLN ngày 31/05/2018 của Bộ xây dựng gởi Thủ tướng Chính phủ.

7

8



3



nhằm kiểm sốt tình hình như trên cần phải xem xét đánh giá thêm … Nhà nước,

đứng trước sự BCXTT và địa vị của Chủ đầu tư và Khách hàng mua CHCC, đã rời

bỏ vai trò khách quan của mình tất tả chạy theo can thiệp trực tiếp vào giao kết của

hai bên để hoặc ưu ái, hoặc nặng tay với một bên bằng các quy định liên tục thay

đổi theo thời gian.

Trong bối cảnh đó, học viên với mong ước đóng góp thêm một góc nhìn đối

với các vấn đề đã nêu dựa trên nền tảng kiến thức cũng như trải nghiệm hạn hẹp của

bản thân, đã lựa chọn đề tài “Bất cân xứng thơng tin và Tự do ý chí trong Hợp đồng

mua bán Căn hộ chung cư” và hy vọng qua đây có thể gợi mở thêm về các giải pháp

hoặc thiết chế quản lý phù hợp, hiệu quả hơn đối với giao dịch mua bán CHCC nói

riêng và thị trường bất động sản nói chung.

2. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Từ các căn nguyên dẫn dắt tác giả lựa chọn đề tài đã trình bày, nội dung luận

văn từ đó sẽ tập trung cho việc phân tích và luận giải xoay quanh các vấn đề lần

lượt như sau:

Đầu tiên, với giả định là một trong những nguyên nhân chính của các cuộc

tranh chấp của các bên trong giao dịch, tác giả sẽ nhận diện và làm rõ các dạng thức

BCXTT trong giao dịch mua bán CHCC hiện nay trên thị trường. Tiếp theo, các

chính sách và quy định pháp luật nhằm can thiệp trực tiếp vào ý chí của các bên kết

ước để giải quyết hiện trạng bất cân xứng đó của nhà làm luật trong thời gian qua

cũng sẽ được phân tích đánh giá.Và cuối cùng, các khả năng hay chính sách pháp

luật nào có thể được nghiên cứu hay đề xuất áp dụng nhằm điều tiết và kiểm soát sự

BCXTT theo giả thuyết đã đặt ra cũng sẽ được trình bày trong luận văn.

Từ các giả thuyết trên, sẽ có các câu hỏi được đặt ra, cũng như giải đáp

xuyên suốt bài trong bài luận. Cụ thể, câu hỏi thứ nhất sẽ liên quan đến nội dung

của tình trạng BCXTT trong giao dịch mua bán CHCC là gì ? Câu hỏi tiếp theo sẽ

là pháp luật đã định ra các nguyên tắc hay quy định để can thiệp vào ý chí của các

bên kết ước như thế nào ? và đó có phải là giải pháp tối ưu hay không ? Cuối cùng,

đâu là giải pháp hoặc cơng cụ pháp lý để điều tiết, kiểm sốt hữu hiệu tình trạng

BCXTT, cân bằng quyền lợi của các bên trong giao dịch mua bán CHCC ?



4



3. Tình hình nghiên cứu

Đối với tình trạng BCXTT có thể thấy đã có rất nhiều các cơng trình, bài viết

nghiên cứu khác nhau về BCXTT trong giao dịch dân sự, trong đó đáng chú ý là bài

viết của TS. Phạm Duy Nghĩa đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5, tháng

5/2003, “Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp

đồng Việt nam”, theo đó tác giả đã chỉ ra rằng sự can thiệp của pháp luật trong việc

xử lý thông tin bất cân xứng là cần thiết cho mục đích duy trì lẽ công bằng. Về vấn

đề thông tin trong giao dịch, tác giả Đỗ Văn Đại cũng có bài viết đăng trên Tạp chí

Nhà nước và Pháp luật số 11/2007 với nhan đề “Nghĩa vụ thông tin trong pháp luật

Hợp đồng Việt nam”. Ngồi ra, cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu chuyên ngành

về BCXTT khác nhưng hầu hết đều liên quan đến các lĩnh vực truyền thống như

chứng khoán11, bảo hiểm12 hay lao động13 mà hầu như chưa có một nghiên cứu

chuyên sâu nào liên quan đến sự BCXTT cụ thể trong giao dịch mua bán CHCC.

Đối với câu hỏi thứ hai liên quan đến biện pháp và công cụ pháp luật nào đã

được sử dụng trong thời gian qua để điều tiết, can thiệp vào ý chí của các bên tham

gia kết ước mua bán CHCC cũng như tính hiệu quả của nó, thì ngồi các bài viết,

cơng trình nghiên cứu về mối tương quan giữa tự do ý chí và sự can thiệp của luật

pháp nói chung như tác giả Ngô Huy Cương với bài viết "Tự do ý chí và sự tiếp cận

ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 115,

tháng 02/2008, bài viết của Nguyễn Trọng Điệp – Cao Thị Hồng Giang đăng trên

tạp chí Luật học, Tập 32, số 2/2016 “Những giới hạn của tự do ý chí và vấn đề bảo

vệ người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt nam hiện nay”, hoặc bài viết

“Quyền con người và giới hạn tự do hợp đồng” của Th.S Nguyễn Thị Thu Trang

đăng tải trên Tạp chí Pháp luật và Phát triển, chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều

cơng trình khoa học nghiên cứu về chế định pháp luật nói chung điều chỉnh quan hệ

HĐMB CHCC, tiêu biểu như Luận văn thạc sĩ Luật học “Hợp đồng mua bán Căn

hộ chung cư theo pháp luật Việt nam hiện nay” của tác giả Đỗ Xuân Sơn, Học Viện

Khoa Học Xã Hội, năm 2017; hay tác giả Nguyễn Thị Xuân với Luận văn thạc sĩ

Luật học “Pháp luật về hợp đồng kinh doanh bất động sản ở Việt nam” Khoa Luật –

Dương Ngân Hà (2014), Lý thuyết BCXTT - Thực trạng trên thị trường chứng khoán Việt Nam,

Chứng khốn Việt Nam 2014, số 193, tr.15-18.

12

Trần Cơng Trường (2014), Giải pháp hạn chế thông tin bất cân xứng trong thị trường bảo hiểm y

tế tự nguyện : Trường hợp tỉnh Tiền Giang, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

13

Đào Mộng Điệp (2014), Quyền tiếp cận thông tin của người lao động trong pháp luật lao động

Việt nam, Tạp chí Luật học số 9/2014, tr.10-15

11



5



Đại học quốc gia Hà nội, năm 2014. Tuy nhiên, bất kể sự đa dạng và phong phú như

vậy, chúng ta có thể vẫn thấy sự thiếu vắng của các nghiên cứu, phân tích chuyên

sâu khai thác về sự can thiệp của pháp luật vào ý chí của các bên trong giao dịch cụ

thể mua bán CHCC qua các thời kỳ phát triển của thị trường bất động sản nói

chung.

Có chung tình trạng vừa đa dạng, phong phú trong các khảo cứu tổng thể

nhưng lại vừa thiếu vắng các cuộc đào xới vào một vấn đề chuyên sâu như trên, tình

hình nghiên cứu đối với câu hỏi thứ ba về việc gợi mở hoặc đề xuất một hướng đi

hữu hiệu cho các nhà làm luật hay các nhà hoạch định chính sách để giải quyết vấn

đề, ngồi những đề xuất mang tính giải pháp chung dựa trên các hiện tượng bề mặt,

hiện cũng chưa nhiều các giải pháp khởi đi từ căn nguyên của vấn đề, chẳng hạn từ

thực trạng BCXTT, được giới học thuật quan tâm. Nói như vậy, khơng có nghĩa phủ

nhận các giá trị hiển nhiên và thực tế của các cơng trình nghiên cứu liên quan, mà rõ

ràng tất cả các nghiên cứu như vậy đều có giá trị đóng góp vơ cùng quan trọng

trong cả về mặt học thuật lẫn trong thực tiễn ứng dụng. Trong phạm vi hạn hẹp của

kiến thức cũng như khả năng tìm hiểu của mình, tác giả đã thâu lượm rất nhiều kiến

thức và ý tưởng từ các bài viết, tác phẩm nghiên cứu đối với vấn đề liên quan, tiêu

biểu như bài viết “Một số bất cập trong quy định của pháp luật về HĐMB nhà ở”

của TS. Trần Thị Huệ - ThS. Nguyễn Văn Hợi đăng tải trên Tạp chí Luật học số

12/2012 hay Luận văn thạc sĩ Luật học của Hoàng Thị Thu Thủy “HĐMB nhà ở

theo pháp luật Việt nam”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà nội, năm 2014.

Ngoài ra cũng phải kể đến một số các tài liệu, cơng trình nghiên cứu khác,

kinh điển hoặc hiện đại, tuy không đề cập đến nội dung nghiên cứu của luận văn

này một cách trực tiếp, nhưng cũng là nguồn tài liệu chứa đựng các ý tưởng độc đáo

và vô cùng quý báu mà tác giả, ít nhiều có sự kế thừa, khai thác hoặc chịu ảnh

hưởng từ đó để hồn thành bài luận văn này. Cụ thể như các quyển “Việt nam Dân

luật lược khảo” Quyển II, Nghĩa vụ và Khế ước, ấn bản 1963 của Gs. Vũ Văn Mẫu,

“Dân Luật Khái Luận” ấn bản 1961 cũng của Gs. Vũ Văn Mẫu, Luận án Tiến sĩ

Luật học “Pháp luật về điều kiện thương mại chung – Những vấn đề lý luận và thực

tiễn” của Nguyễn Thị Hằng Nga, Đại học Luật Hà nội, năm 2016, Luận văn thạc sĩ

Luật học “Pháp luật về quảng cáo CHCC trên thị trường bất động sản ở Việt nam”

của Tạ Thu Thảo, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà nội, năm 2016.



6



Tóm lại, trong tình hình nghiên cứu phong phú và đa dạng như trên liên quan

đến đề tài, hy vọng luận văn của tác giả về “BCXTT và Tự do ý chí trong HĐMB

CHCC” sẽ đóng góp thêm một phần nhỏ bé trong kho tàng kiến thức pháp lý khổng

lồ cũng như có thể hữu dụng cho các đối tượng quan tâm đến vấn đề nghiên cứu

mang tính mới này.

4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về mục đích, đầu tiên luận văn sẽ làm rõ tình trạng BCXTT trong giao dịch

mua bán CHCC đang diễn ra trên thị trường, vốn là căn nguyên tiềm ẩn của xung

đột quyền lợi trong thời gian qua. Tiếp theo trên nền tảng hiện trạng như vậy, luận

văn sẽ tiếp tục phân tích đánh giá các quy định và chính sách pháp luật đã tồn tại

cũng như hiện hữu trong nỗ lực điều tiết, kiểm sốt tình trạng bất cân xứng này. Và

mục đích cuối cùng của đề tài khơng gì khác hơn là nhằm gợi mở ra các khả năng

hay phương hướng khả dĩ để xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật điều chỉnh

vấn đề cho tương thích với các học thuyết pháp lý cũng như thực tiễn đặc thù của

thị trường kinh doanh CHCC hiện nay.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các quy định pháp luật liên quan điều

chỉnh HĐMB CHCC như Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, qua các thời kỳ

cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này cũng sẽ được tìm hiểu phân

tích trong mối tương quan với diễn biến và thực trạng của hoạt động mua bán

CHCC là nhà ở thương mại14 trên thị trường thông qua một hợp đồng giữa Chủ đầu

tư và Khách hàng. Ngoài ra, trọng tâm của luận văn chỉ xét đến quan hệ hợp đồng

đối với sản phẩm CHCC thương mại hình thành trong tương lai15, vì vậy đối với các

loại hình giao dịch khác như nhà ở xã hội16, nhà ở công vụ17, nhà ở tái định cư18,

hoặc căn hộ là nhà ở thương mại có sẵn19 sẽ không thuộc phạm vi và đối tượng

14

Luật nhà ở 2014, Điều 3, Khoản 4 “Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho

thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường.”

15

Luật nhà ở 2014, Điều 3, Khoản 19 “Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá

trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.”

16

Luật nhà ở 2014, Điều 3, Khoản 7 “Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối

tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này.”

17

Luật nhà ở 2014, Điều 3, Khoản 5 “Nhà ở công vụ là nhà ở được dùng để cho các đối tượng thuộc

diện được ở nhà công vụ theo quy định của Luật này thuê trong thời gian đảm nhận chức vụ, công tác. ”

18

Luật nhà ở 2014, Điều 3, Khoản 6 “Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia

đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa nhà ở theo quy định của

pháp luật.”

19

Luật nhà ở 2014, Điều 3, Khoản 18 “Nhà ở có sẵn là nhà ở đã hồn thành việc đầu tư xây dựng

và đưa vào sử dụng.”



7



nghiên cứu. Vì lẽ đó cụm từ “HĐMB CHCC” sử dụng trong luận văn này, nếu

khơng có dẫn giải khác của tác giả, sẽ chỉ giới hạn là HĐMB CHCC hình thành

trong tương lai mà thôi. Bối cảnh thời gian sẽ chủ yếu tính từ 2008, là thời điểm

khởi phát của thị trường bất động sản với sản phẩm chủ đạo là CHCC sau thời gian

trầm lắng vì ảnh hưởng của chính sách hạn chế phân lô bán nền giai đoạn 20042006, đến thời điểm hoàn thành luận văn này, tháng 04/2019. Tất nhiên, các quy

định pháp luật và sự kiện trước thời điểm 2008 cũng sẽ được xem xét đến trong

trong chừng mực có liên quan hoặc trong phạm vi mang tính lịch sử kế thừa có ảnh

hưởng đến giai đoạn nghiên cứu.

5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết

Để giải quyết các vấn đề nêu ra trong đề tài, các phương pháp phân tích pháp

luật, đối chiếu so sánh với thực tiễn đang diễn ra và cuối cùng tổng hợp lại để cố

gắng gợi mở về một giải pháp khả thi cho vấn đề đã được làm sáng tỏ.

Với mục đích hướng đến một triết lý cho các quy định và chính sách luật

pháp, trong khả năng tối đa có thể tác giả cũng sẽ cố gắng phân tích và đối chiếu, so

sánh các quy định của luật thực định trong mối tương quan với các học lý20

(doctrine) kinh điển hoặc tân thời chẳng hạn như học thuyết về tự do ý chí hay lý

thuyết về Điều kiện thương mại chung21. Đơi lúc điều này có thể trở nên gượng ép

mà tác giả không nhận ra, rất mong được sự châm chước của độc giả.



6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Như đã trình bày ở phần đầu về lý do lựa chọn để tài, xuất phát từ cơ duyên

nghề nghiệp, đề tài này được viết ra chủ yếu dựa trên các trải nghiệm cá nhân về

quá trình giao kết và sự xung đột, tranh chấp sau đó của các bên trong giao dịch

mua bán CHCC. Từ các sự kiện đụng chạm hàng ngày đó, vận dụng các quy định

pháp luật thực định để giải quyết, tác giả đã nhìn nhận ra được căn nguyên của xung

đột chính là sự bất cân xứng cả về thông tin lẫn địa vị của các bên kết ước.

Cũng trong quá trình hoạt động nghề nghiệp như vậy, tác giả cũng phải

thường xuyên cập nhật, nghiên cứu, vận dụng và do đó chứng kiến sự thay đổi trong

chính sách và các quy định pháp luật để điều chỉnh quan hệ giao dịch giữa bên bán

Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1961, tr. 311

Nguyễn Thị Hằng Nga (2016), Pháp luật về điều kiện thương mại chung – những vấn đề về lý

luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học – Đại học Luật Hà nội, 2016.

20

21



8



và bên mua CHCC theo thời gian. Từ đây các nhận xét về cách thức can thiệp vào

giao dịch của nhà làm luật cũng như hiệu quả của chính sách can thiệp đó được

manh nha hình thành và đến nay được đúc kết lại trong luận văn này.

Cuối cùng, từ tất cả những trải nghiệm và đánh giá trên, tác giả hy vọng các

phân tích, quan điểm, kết luận và giải pháp nếu có trong luận văn này sẽ hữu ích, kể

cả trong lĩnh vực học thuật nghiên cứu, như một góc nhìn mới đối với vấn đề được

đề cập, cũng như giá trị áp dụng trong các tình huống ứng xử thực tiễn đời thường

trong hồn cảnh và tình huống tương thích, chẳng hạn trong một giao dịch thực tiễn

mua bán CHCC. Được như vậy, khơng còn gì mong muốn hơn.

Tất nhiên các trải nghiệm, vận dụng và nhận định của tác giả do đặc thù công

việc, chỉ hạn hẹp dưới nhãn quan và trong vai trò của một bên trong giao dịch là

Chủ đầu tư, nên không thể tránh khỏi những thiên kiến hoặc chưa bao quát hết tất cả

vấn đề trong vai trò của bên đối tác, là Khách hàng mua Căn hộ hoặc vai trò của

một bên trung gian là cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, các sai sót hoặc nhầm lẫn

là khơng thể tránh khỏi và nằm ngoài ý muốn của tác giả, rất mong được lượng thứ

và nhận được các ý kiến chỉ điểm góp ý thêm nhằm hoàn thiện bài luận văn này.

7. Kết cấu của Luận văn

Theo quy chuẩn chung, Luận văn này sẽ bao gồm Phần mở đầu như trình bày

đến nay, Phần kết luận sẽ được phân bổ ở cuối cùng, và phần nội dung chính gói

gọn trong 03 chương:

Chương 1: Lý luận chung về BCXTT và BCXTT trong HĐMB CHCC.

Chương 2: Tự do ý chí và sự can thiệp của pháp luật vào tự do ý chí của các

bên HĐMB CHCC.

Chương 3: Hiệu quả của chính sách can thiệp và các hướng tiếp cận đề xuất.



9



CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN VÀ BẤT CÂN XỨNG

THÔNG TIN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ CHUNG CƯ

1.1



Lý thuyết về Bất cân xứng thông tin22

Ý tưởng về BCXTT được giới thiệu lần đầu bởi một nhà kinh tế học người



Mỹ, George A. Akerlof vào năm 1970 trong một ấn phẩm nhan đề “Thị trường của

những “quả chanh”: Thị trường bất ổn và Cơ chế của thị trường”23. Với một ví dụ

về tình huống mua bán xe hơi trên thị trường, Ông đưa luận thuyết về BCXTT với

nội dung tóm lược là: Trong một giao dịch trên thị trường người bán hàng sẽ biết rõ

đặc tính của sản phẩm mình muốn bán hơn và thường rao bán với mức giá cao,

trong khi đó bên mua tiềm năng vì khơng rành về đặc tính của món hàng bằng

người bán nên có xu hướng mua hàng (bất kể tốt hay xấu) tại mức giá trung bình

trên thị trường. Trên thực tế một món hàng tốt ln có mức giá cao hơn mức giá

trung bình và vì thế chỉ có những sản phẩm kém chất lượng được giao dịch tại mức

giá trung bình đó. Và kết quả là bên mua thường là mua được những sản phẩm xấu.

Quá trình lựa chọn sản phẩm để mua như vậy trên thị trường được gọi là trình trạng

lựa chọn bất lợi (adverse selection) vì bên mua có thể trả giá cao hơn đối với một

sản phẩm kém chất lượng trong khi người bán lại không thể bán được sản phẩm

chất lượng cao với giá bán thấp. Với tiên lượng như vậy, thị trường có thể sẽ bị sụp

đổ.

Đáng lưu ý là Akerlof cũng cho rằng có thể giảm thiểu tình trạng BCXTT trên

thị trường giữa các Bên thông qua các định chế thị trường trung gian được gọi là

“counteracting institutions”. Thông qua các định chế này, thông tin sản phẩm đến

với người mua như các chi tiết về bảo hành, nhãn mác, thông số kỹ thuật sẽ được

cung cấp đầy đủ… chính điều này đã làm cho các bên giao dịch cân bằng hơn về

22

Lauri Auronen (2003), Asymmetric Information: Theory and Application, Helsinki University of

Technology – Department of Industrial Engineering and Management, May 21 st 2003.

23

George a. Akerlof (1970), The market for "lemons": Quality uncertainty and the market

mechanism, The Quarterly Journal of Economics, 1970.



10



thông tin và do đó, giao dịch sẽ dễ dàng được thực hiện tránh được hậu quả sụp đổ

thị trường (“keep the market from reducing to the size of zero”).

Nguyên Hiệu trưởng trường kinh doanh Stanford lừng danh, Michael Spence

tiếp tục phát triển ý tưởng của Akerlof trong ấn phẩm “Tín hiệu của thị trường việc

làm”24 vào năm 1973. Thay vì thị trường xe hơi, Spence lấy ví dụ trên thị trường

việc làm để minh họa cho quan điểm của mình. Theo Spence, trong việc thuê lao

động thường thì giới chủ (tức bên mua) khơng thể biết hết được khả năng đóng góp,

năng suất làm việc của người lao động (tức bên bán) là bao nhiêu. Vì thế các ơng

chủ có thể kiểm tra các thông tin về bằng cấp, kinh nghiệm, … của người lao động,

như là các tín hiệu về năng lực, để lựa chọn được lao động có chất lượng. Ngược lại,

giới thợ thuyền có thể kiểm tra các tín hiệu tín nhiệm từ giới chủ thơng qua mức

lương được mời chào. Tình trạng phát tín hiệu cân bằng (signaling equilibrium) như

vậy theo ví dụ, có tác dụng giảm thiểu thơng tin bất cân xứng giữa những những

người làm thuê và các ơng chủ và do đó giữ cho thị trường ln ở trong trạng thái

hoạt động.

Hai năm sau đó, Joseph Stiglitz, người từng giữ chức vụ Phó chủ tịch Ngân

hàng Thế giới tiếp tục bổ khuyết cho lý thuyết về BCXTT mà Akerlof và Spence đã

đặt nền móng trước đó bằng bài viết “Lý thuyết về “sàng lọc”, giáo dục, và sự phân

phối lợi tức”25 trong năm 1975. Quan điểm của Stiglitz là bất kỳ sản phẩm nào cũng

có những đặc tính riêng biệt chẳng hạn như về chất lượng, mẫu mã, xuất xứ... và

cũng tương tự như vậy với từng nhóm lao động khác nhau đều có các kỹ năng, tay

nghề, chun mơn, kiến thức khác nhau. Vì vậy cơ chế trả lương cũng phải được

điều chỉnh để khuyến khích người lao động có tay nghề, nâng cao hiệu quả cơng

việc. Cơ chế đánh giá, phân loại hàng hóa, nhân lực như vậy được gọi là các

phương tiện sàng lọc (screening devices).



24



Michael Spence (1973), Job market signaling, The Quarterly Journal of Economics, 1973.

Joseph E. Stiglitz (1975), The theory of ’screening,’ education, and the distribution of income,

The American Economic Review, 1975

25



11



Lý thuyết này của Stiglitz tiếp tục được phát triển bởi chính ơng và một tác

giả khác là Michael Rothschild với một ấn phẩm vào năm 1976 nhan đề “Sự cân

bằng trong Thị trường Bảo hiểm cạnh tranh: Một tiểu luận kinh tế học về thơng tin

khơng hồn hảo”26 mà theo đó các tác giả đã chỉ ra rằng một bên có ít thơng tin hơn

có thể thu thập thơng tin thông qua việc chào mời các điều kiện giao dịch khác

nhau. Ví dụ như các cơng ty bảo hiểm trên thị trường thường cung cấp các gói bảo

hiểm với các mức phí và điều kiện khác nhau, kể cả mức bồi thường. Từ đó, các

khách hàng sẽ tự động lựa chọn loại hợp đồng bảo hiểm phù hợp, và như vậy đã tự

phân loại mình vào các nhóm khách hàng khác nhau. Những khách hàng có rủi ro

thấp thường thích loại hợp đồng có phí bảo hiểm thấp trong khi khách hàng có rủi

ro cao lại lựa chọn hợp đồng có phí bảo hiểm cao.

Đến năm 2001, các tác giả của lý thuyết về BCXTT là George Akerlof,

Michael Spence và Joseph Stiglitz đã cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế cho

“những phân tích về thị trường của họ với lý thuyết BCXTT”27 (The Sveriges

Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 2001 was

awarded jointly to George A. Akerlof, A. Michael Spence and Joseph E. Stiglitz

"for their analyses of markets with asymmetric information.").

1.2



Các đặc tính của Bất cân xứng thông tin

Từ lý thuyết nguồn của các tác giả tiên phong trên, hiện có nhiều cách tiếp



cận khác nhau để định nghĩa BCXTT trong giới kinh tế và học thuật tại Việt nam:

“Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn

bên khác thì khơng biết đích thực mức độ thơng tin ở mức nào đó”28.



26



Michael Rothschild, Joseph Stiglitz (1976), Equilibrium in competitive insurance

markets: An essay on the economics of imperfect information, The Quarterly Journal of Economics,

1976.

27

Website: https://www.nobelprize.org/prizes Michael Rothschild, Joseph Stiglitz (1976),

Equilibrium in competitive insurance markets: An essay on the economics of imperfect information,

The Quarterly Journal of Economics, 1976./economic-sciences/2001/press-release/, truy cập ngày 04

tháng 04 năm 2019.

28

Nguyễn Trọng Hoài (2006), Bất cân xứng về thông tin trên các thị trường tài chính, Bài giảng cho

học viên cao học, Đại học Kinh tế TP.HCM, 2006.



12



“Thơng tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có

thơng tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với (các) bên còn lại.”29

“Bất đối xứng thông tin là một khái niệm trong chun ngành kinh tế học

thơng tin mơ tả tình huống trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường

nắm được những thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản hay

dịch vụ đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó.”30

Tuy nhiên bất kể là định nghĩa theo cách nào, tổng quan BCXTT vẫn mang

những đặc tính cơ bản, như liệt kê dưới đây.

1.2.1 Lựa chọn bất lợi (Adverse selection)

Theo tác giả Nguyễn Trọng Hồi (2006) thì “Lựa chọn bất lợi là kết quả của

thơng tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác

trước khi ký hợp đồng”31. Mô tả này tiếp cận vấn đề theo hướng chú trọng vào hành

vi chủ động của một bên để che dấu thông tin và đối tác đã quyết định giao dịch dựa

trên sự che dấu đó. Trên thực tế, cha đẻ của lý thuyết BCXTT lần đầu tiên đề cập

đến khái niệm Sự lựa chọn bất lợi ở góc độ bao qt hơn. Theo ví dụ về thị trường

mua bán xe hơi của George A. Akerlof được trình bày ở phần trên, có thể thấy Sự

lựa chọn bất lợi là hệ quả của tình trạng thiếu vắng các thơng tin cần thiết về hàng

hóa của một bên trong giao dịch để có thể đi đến một quyết định chính xác và cơng

bằng. Tiến trình Lựa chọn bất lợi này được lặp đi lặp lại có thể dẫn đến sự biến mất

của thị trường hàng hóa đó.

1.2.2 Rủi ro đạo đức (Moral hazards) hay tâm lý ỷ lại

Đặc tính tiếp theo của BCXTT là nó sẽ gây ra tâm lý ỷ lại hay còn gọi là rủi

ro đạo đức, theo đó “Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại là tình trạng cá nhân hay tổ

Đặng Văn Thanh (2012), Thông tin bất cân xứng – Kinh tế học vi mơ dành cho chính sách cơng,

Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright – học kỳ mùa Thu, 2012.

30

Hồ Cơng Hồi Phương (2010), Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thơng tin, Thời báo Kinh tế

Sàigòn, Ngày 24 tháng 03 năm 2010. https://www.thesaigontimes.vn/31349/Thuong-hieu-va-ly-thuyet-batdoi-xung-thong-tin.html, truy cập ngày 04 tháng 04 năm 2019.

31

Lê An Khang (2008), Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên thị trường

chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế - Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh,

2008.

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung - 2 mặt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×