Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tổng quan về kế toán quản trị

1 Tổng quan về kế toán quản trị

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



tin và tư duy được chia sẻ trong một tổ chức và xã hội (Ashton et al., 1991). Sự phát

triển của kế toán quản trị đáp ứng nhu cầu của quản lý và mơi trường. Kế tốn quản

trị thích nghi với thay đổi của tổ chức và ba lực lượng chính khiến các tổ chức phát

triển: Thay đổi cơng nghệ, tồn cầu hóa và nhu cầu của khách hàng (McWatters,

2001). Để duy trì tính cạnh tranh trong thị trường tồn cầu ngày nay, doanh nghiệp

phải liên tục cải thiện việc áp dụng và tổ chức cơng tác kế tốn quản trị hiệu quả.

Do vậy tất cả các nước trên thế giới đã phát triển nhiều công cụ, kỹ thuật kế toán

quản trị được phát triển và đưa vào áp dụng thực tiễn.

2.1.2 Định nghĩa kế toán quản trị

Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, kế tốn góp phần quan

trọng trong công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính,.. để đáp ứng cơng tác

quản lý ngày càng đa dạng, phức tạp và đối tượng sử dụng thơng tin đa dạng đòi hỏi

kế tốn ngày cảng phát triển và ra đời hai loại kế toán khác nhau, cụ thể là kế tốn

tài chính và kế tốn quản trị. Kế tốn tài chính cung cấp các thơng tin cho các đối

tượng bên ngồi tổ chức. Kế tốn quản trị cung cấp thông tin cho các đối tượng bên

trong tổ chức như nhà điều hành các hoạt động kinh doanh của doanh nhiệp.

Theo Ronald W.Hilton, giáo sư đại học Cornell (Mỹ): “Kế toán quản trị là

một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa

vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”

Theo Ray H.Garrison: “Kế tốn quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài

liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm

trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức”

Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L.Smith, Robert M. Keith

và William L.Stephens: “Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho

các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”

Khái niệm kế toán quản trị theo Luật Kế Tốn Việt Nam (2003) và Thơng tư

53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ tài chính là: "Kế tốn quản trị là việc thu



20



thập, xử lý, phân tích và cung cấp thơng tin kinh tế, tài chính theo u cầu quản trị

và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Theo tác giả Phạm Thị Tuyết Minh (2015), Kế toán quản trị là một trong hai

nội dung chính của cơng tác kế tốn, là q trình thu thập, xử lý thơng tin về hoạt

động kinh tế của doanh nghiệp được thể hiện thông qua hệ thống báo biểu, phù hợp

với nhu cầu thông tin của việc ra quyết định điều hành của các cấp quản trị khác

nhau trong doanh nghiệp. Các thông tin này được lập nhanh chóng, chi tiết theo yêu

cầu quản lý nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để

kiểm sốt tình hình tài chính, thực hiện quản lý trong doanh nghiệp

Mặc dù có rất nhiều định nghĩa kế toán quản trị nhưng hầu hết các quan

điểm đều cho rằng kế toán quản trị là việc thu thập xử lý phân tích và cung cấp

thơng tin nhằm hỗ trợ trong việc hoạch định, kiểm soát và ra các quyết định trong

nội bộ doanh nghiệp

2.1.3 Vai trò kế tốn quản trị

Thơng tin kế tốn quản trị có vai trò chủ đạo và chi phối tồn bộ hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài

hạn nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Do vậy,

trách nhiệm của nhà quản trị là điều hành quản lý hoạt động mà các hoạt động quản

lý được tiến hành liên tục từ khâu lập kế hoạch cho đến khâu tổ chức thực hiện,

kiểm tra, đánh giá rồi quay lại khâu lập kế hoạch cho các kỳ sau.

Các chức năng cơ bản của kế toán quản trị là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,

kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định để thực hiện tốt các

chức năng. Nhà quản trị rất cần các thơng tin do kế tốn quản trị cung cấp. Ở mỗi

khâu của quá trình ra quyết định. KTQT thể hiện rõ vai trò trong việc cung cấp

thông tin.

Chức năng lập kế hoạch nhà quản trị cần xây dựng các mục tiêu chiến lược

cho doanh nghiệp và đề ra các bước thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đó. Lập kế

hoạch được xem là chức năng quan trọng trong quản lý của doanh nghiệp. Xây



21



dựng kế hoạch phù hợp với các mục tiêu tương lai là vấn đề hết sức quan trọng đối

với doanh nghiệp. Để có thể cung cấp kịp thời thơng tin cho q trình lập kế hoạch

và dự tốn ngân sách thì cơ sở để dựa vào là những thông tin hợp lý và có cơ sở

chắc chắn mà những thơng tin này do KTQT cung cấp.

Chức năng tổ chức thực hiện, các nhà quản lý cần liên kết hiệu quả giữa

các nguồn lực hiện tại với tổ chức con người trong doanh nghiệp nhằm đạt được

mục tiêu đề ra. Chức năng này được thể hiện bằng việc bố trí những cơng việc của

từng nhân viên, quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong phòng ban. Để

chức năng này được quản lý tốt nhà quản lý rất cần thông tin của KTQT. Trong

những tình huống khác nhau thì KTQT sẽ cung cấp thông tin và phương án giải

quyết khác nhau để nhà quản lý lựa chọn nhằm ra quyết định đúng đắn trong quá

trình tổ chức, điều hành doanh nghiệp.

Chức năng kiểm tra và đánh giá, các nhà quản lý cần thực hiện so sánh số

liệu lập dự toán với số liệu thực tế, qua đó phát hiện chênh lệch giữa số liệu kế

hoạch với số liệu thực tế và tìm ra các giải pháp thay thế, điều chỉnh hoạt động của

doanh nghiệp. KTQT hỗ trợ nhà quản trị ra các báo cáo có dạng so sánh vì vậy nhà

quản trị có thể kiểm tra đánh giá các công việc đã thực hiện trong lĩnh vực mình

quản lý để kịp thời điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Chức năng ra quyết định không phải là chức năng độc lập của nhà quản lý

mà được thực hiện bởi sự kết hợp với ba chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,

kiểm tra và đánh giá. Nó được thực hiện trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.

Chức năng ra quyết định yêu cầu các nhà quản lý cần lựa chọn một giải pháp hợp lý

trong số các phương án đưa ra. KTQT cần cung cấp thông tin, soạn thảo các báo

cáo, thực hiện phân tích số liệu, thơng tin thích hợp giữa các phương án để tư vấn

cho các nhà quản trị lựa chọn phương án, quyết định phù hợp và tối ưu nhất. KTQT

không chỉ cung cấp thông tin thích hợp cho nhà quản lý trong q trình ra quyết

định mà còn cung cấp thơng tin trong các tình huống khác nhau của việc vận dụng

các kỹ thuật phân tích để nhà quản lý có cơ sở chắc chắn trong việc lựa chọn và ra

các quyết định kinh doanh thích hợp với điều kiện hiện có của doanh nghiệp.



22



2.2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Nắm rõ ý nghĩa về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là điều

kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Do vậy, một trong

những cơng cụ có thể giúp nhà quản trị phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh

đồng thời đánh giá năng lực quản lý của toàn thể nhân viên và tình trạng sử dụng

các tài sản như thế nào? Một trong những công cụ đo lường hiệu quả hoạt động kinh

doanh hiệu quả là thông qua các chỉ số tài chính, phi tài chính để đo lường các chỉ

tiêu trên. Nếu nhà quản trị áp dụng tốt các cơng cụ đo lường hiệu quả hoạt động

kinh doanh có thể giúp doanh nghiệp tìm ra xu hướng phát triển mới cũng như giúp

các nhà đầu tư, các chủ nợ kiểm tra tình hình sức khỏe của doanh nghiệp.

2.2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả hoạt động kinh doanh có thể được xem như là một thước đo chủ

quan về cách cơng ty có thể sử dụng tài sản của mình từ hoạt động kinh doanh để

tạo ra doanh thu. Hiệu quả hoạt động kinh doanh được sử dụng như một thước đo

chung về tình hình sức khỏe tài chính tổng thể của một cơng ty trong một khoảng

thời gian nhất định, và có thể được sử dụng để so sánh các công ty tương tự trên

cùng ngành hoặc để so sánh các ngành hoặc lĩnh vực trong tổng hợp. Khái niệm đo

lường hiệu quả hoạt động kinh doanh chỉ ra rằng nhân viên có thể tăng giá trị, tăng

quy mơ dòng tiền trong tương lai của cơng ty bằng cách đẩy nhanh việc nhận các

luồng tiền đó hoặc bằng cách làm cho chúng chắc chắn hơn hoặc ít rủi ro hơn

Có nhiều cách khác nhau để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh nhưng

tất cả các biện pháp cần được thực hiện trong tập hợp. Một số chỉ tiêu về hiệu quả

hoạt động kinh doanh là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ

quản lý tài sản, tỷ suất sinh lời, chỉ số đòn bẩy và tỷ lệ giá trị thị trường.

Carreta và Farina (2010) cho rằng việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính

vẫn có thể được chứng minh vì nó phản ánh những gì các nhà quản lý thực sự coi là

hiệu quả và thậm chí nếu đây là một hỗn hợp các chỉ số khác nhau như lợi nhuận kế

tốn, năng suất và dòng tiền. Hiệu quả hoạt động kinh doanh được xác định bởi các



23



chỉ số như lợi nhuận hoạt động kinh doanh, doanh thu, chi phí, ngân sách hoặc các

chỉ số trên thị trường chứng khốn (ví dụ: giá cổ phiếu). Các chỉ số đại diện cho

hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm thước đo kế toán về hiệu suất; lợi nhuận

trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA).

2.2.2 Hiệu suất hoạt động

Hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp được đo lường qua các chỉ số hoạt

động như số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, số vòng quay vốn

lưu động, số vòng quay tài sản,…Qua các chỉ số hoạt động các nhà quản trị có thể

xem xét đánh giá doanh nghiệp mình thời gian qua đã sử dụng tài sản hiệu quả hay

không? Bên cạnh đó các hệ số hoạt động có thể hỗ trợ nhà quản trị xác định tốc độ

chuyển hóa các tài sản của mình để tạo ra lượng tiền mặt khi có nhu cầu phát sinh.

2.3 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Maladzhi (2012) SMEs được viết tắt cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa,

và khơng có định nghĩa chung, nó thay đổi từ quy mơ, loại hình kinh doanh, số

lượng tài sản, doanh thu và số lượng nhân viên. SMEs quốc tế được xác định bởi

doanh thu hàng năm và số lượng nhân viên toàn thời gian trong công ty (Wolmarans

& Meintjes, 2015).

Theo Maphiri (2015) ở các nước đang phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

chủ yếu được mơ tả là doanh nghiệp một người, trong đó nhân viên làm việc có thể

là thành viên trong gia đình và thường khơng được trả lương.

Theo Modimogale và Kroeze (2009) xác định các doanh nghiệp nhỏ và vừa

(SMEs) là các doanh nghiệp sử dụng nhân viên từ 150 người trở xuống và không

phải là công ty con của một công ty đại chúng.

Ở Nam Phi, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là các thực thể

kinh doanh riêng biệt; bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ được

quản lý bởi một hoặc nhiều chủ sở hữu bao gồm các chi nhánh hoặc công ty con

(Aminu & Shariff, 2015).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan về kế toán quản trị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×