Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SO SÁNH KÍCH THƯỚC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SO SÁNH KÍCH THƯỚC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

Tải bản đầy đủ - 0trang

mầm non nói chung và nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

nói riêng.

3.1.2 Ngun tắc 2: Đảm bảo tính khoa học

3.1.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tiếp nhận tiếng Anh của

trẻ

3.1.4 Nguyên tắc 4: Phát huy tính tích cực, độc lập của trẻ trong quá trình

tham gia các hoạt động làm quen với tiếng Anh.

3.2. Một số biện pháp tổ chức hoạt động làm quen với tiếng Anh tích hợp

phát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi

3.2.1 Biện pháp 1: Tạo môi trường tổ chức hoạt động làm quen với tiếng

Anh kích thích hứng thú so sánh kích thước của trẻ 5 – 6 tuổi.

a, Mục đích, ý nghĩa

Việc GV tạo mơi trường tổ chức hoạt động LQVTA kích thích trẻ 5 – 6 tuổi so

sánh kích thước bằng cách trang trí các góc trong lớp với những hình ảnh kèm với từ

vựng tiếng Anh liên quan đến kích thước của hình ảnh đó sẽ giúp trẻ tích cực hơn

trong việc sử dụng tiếng Anh khi nói về các đối tượng và mối quan hệ kích thước giữa

chúng thay vì sử dụng tiếng Việt. Thêm vào đó trẻ có thể quan sát, tiếp xúc và nói về

các đối tượng thường xuyên và liên tục không chỉ trong giờ học mà còn trong giờ chơi,

giúp phản xạ của trẻ nhanh hơn khi so sánh kích thước bằng tiếng Anh.

Việc tạo môi trường tổ chức hoạt động LQVTA kích thích trẻ 5 – 6 tuổi so sánh

kích thước giúp trẻ luyện tập, củng cố KN so sánh có thể là với GV hoặc với bạn cùng

lớp. Trẻ được nói nhiều hơn, được quan sát nhiều đối tượng với kích cỡ khác nhau, từ

đó hình thành khả năng phân biệt kích thước tốt hơn.

Khi GV tạo mơi trường tổ chức hoạt động cho trẻ, có thể luyện tập cho trẻ khả

năng xác định kích thước bằng xúc giác, thị giác, giúp trẻ phân biệt và so sánh kích

thước các đối tượng như đồ dùng đồ chơi ở nhiều vị trí khác nhau trong lớp học. Trẻ

được cầm, nắm, chạm vào các đối tượng có kích thước khác nhau, nói lên cảm nhận

của mình với GV hoặc với bạn từ đó phân biệt và nhận biết các đối tượng một cách

chính xác. Đến một giai đoạn nào đó, trẻ có thể tự ước lượng kích thước của đối tượng

một cách chính xác.



16



Ngồi ra tạo mơi trường tổ chức HĐLQVTA còn bày trí phân bố các hình ảnh,

đối tượng, từ ngữ sao cho phù hợp với lớp học, với tầm nhìn của trẻ, tạo không gian

thoải mái giúp trẻ chủ động tích cực trong việc sử dụng tiếng Anh để so sánh kích

thước.

b, Cách tiến hành

Với BP này trước tiên GV phải tìm những hình ảnh có kích thước khác nhau mà

trước đó trẻ đã biết, được tìm hiểu và phù hợp với chủ đề.

Tiếp theo GV sử dụng những hình ảnh, đối tượng giống nhau có kích thước

khác nhau gắn với từ vựng tiếng Anh liên quan đến kích thước (bigger, smaller,..) để

trang trí các góc bằng tiếng Anh. Những từ vựng và hình ảnh phải được phân bố sao

cho dễ nhìn, rõ ràng để trẻ có thể quan sát thường xuyên mà không bị nhầm lẫn. Điều

này sẽ thu hút sự chú ý của trẻ, trẻ sẽ có hứng thú sử dụng tiếng Anh để so sánh các

đối tượng hơn thay vì sử dụng tiếng Việt.

GV có thể tổ chức cho trẻ học theo nhóm ở góc được trang trí bằng tiếng Anh.

Trẻ sẽ quan sát đối tượng, GV đưa ra gợi ý và trẻ trả lời. GV phải là người luôn hướng

trẻ sử dụng tiếng Anh khi trẻ so sánh bất cứ đối tượng nào mà trẻ nhìn thấy. Ngồi ra,

GV có thể tận dụng giờ chơi của trẻ để giúp trẻ sử dụng tiếng Anh phát triển KN so

sánh kích thước bằng cách cho trẻ thi đua với nhau. Điều này sẽ giúp trẻ nhớ từ vựng

về so sánh kích thước và sử dụng nó một cách linh hoạt hơn.

Ví dụ: Ở góc gia đình, GV sử dụng hình ảnh bé – anh, chị - bố - mẹ để trang trí,

sắp xếp các hình ảnh lần lượt từ thấp đến cao và gắn với mỗi hình ảnh đó là từ vựng

tiếng Anh liên quan đến kích thước. (Tall – taller – tallest hoặc short – tall – taller).

c, Điều kiện thực hiện

GV phải lựa chọn hình ảnh phù hợp cho trẻ dễ nhìn dễ nhận biết, tránh những

hình ảnh q khó và đơn giản, khơng gây được sự chú ý của trẻ, việc kết hợp với từ

vựng tiếng Anh liên quan đến so sánh kích thước phải cân đối với hình ảnh. GV cần sử

dụng tiếng Anh và ln hướng trẻ nói tiếng Anh để so sánh kích thước giữa các đối

tượng, trong q trình nói GV phải chú ý đến từ vựng và cấu trúc câu của trẻ để sửa

cho chính xác. Tiếp theo là khơng gian lớp học phải thoáng mát, tạo cho trẻ cảm giác

thoải mái, không bị gượng ép. GV cần linh hoạt trong việc sáng tạo ra các hình ảnh,



17



các hoạt động, đơi khi là tạo tình huống bất ngờ để dẫn dắt trẻ vào các hoạt động so

sánh kích thước nhằm giúp trẻ hứng thú hớn và phát triển KN so sánh kích thước.

3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức các trò chơi so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi

trong hoạt động làm quen với tiếng Anh

a, Mục đích, ý nghĩa

Trò chơi rất quan trọng trong việc phát triển nhận thức của trẻ, khi tham gia vào

các trò chơi khác nhau trẻ có thể tự mình rèn luyện những KN vận động thơ, vận động

tinh.

Mục đích đầu tiên của BP này là cho trẻ vui chơi, thoải mái, kích thích hứng thú

cho trẻ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhận thức. Trẻ có thể hiểu được luật chơi,

cách chơi, tham gia nhiệt tình vào trò chơi, làm tăng khả năng chú ý của trẻ. Trò chơi

vừa là BP dạy học, vừa là hình thức dạy học cho trẻ mẫu giáo.

Với nhiều trò chơi khác nhau sử dụng trong hoạt động LQVTA như phân loại

kích thước đối tượng, tìm đối tượng có kích thước lớn nhất hoặc nhỏ nhất,…trẻ có cơ

hội được rèn luyện KN so sánh kích thước, củng số lại KN đã được học. Đặc biệt, khi

tham gia vào các trò chơi, trẻ sử dụng tiếng Anh để hồn thành nhiệm vụ so sánh kích

thước của 2 đối tượng hoặc 3 đối tượng theo yêu cầu của trò chơi, trẻ phát triển khả

năng phát âm, tốc độ phản xạ và ghi nhớ được từ vựng tiếng Anh liên quan đến so

sánh kích thước.

b, Cách tiến hành

GV liệt kê, thiết kế các trò chơi giúp trẻ củng cố lại KN so sánh kích thước khi

sử dụng tiếng Anh mà trẻ đã được học, được tiếp xúc trước đó. Đó có thể là trò chơi

phân loại kích thước các đối tượng, tìm đối tượng có kích thước lớn nhất hay nhỏ nhất,

…GV tổ chức trò chơi trong hoạt động LQVTA, sau khi trẻ được giới thiệu lại từ vựng

liên quan đến so sánh kích thước của 2, 3 đối tượng, GV sử dụng trò chơi để củng cố

ơn luyện giúp trẻ có thể ghi nhớ. Mặt khác, GV có thể tổ chức ở hoạt động ngoài trời,

hoạt động chơi của trẻ. GV linh hoạt về việc tổ chức chơi và hình thức chơi sao cho

phù hợp với trẻ 5-6 tuổi.

*Bước 1: Chuẩn bị hoạt động

GV cần xác định mục đích cụ thể của hoạt động trước khi tổ chức, sau đó lồng

ghép các nội dung về dạy trẻ so sánh kích thước vào nội dung trò chơi tiếng Anh: So

18



sánh kích thước của 2 hoặc 3 đối tượng với nhau và phản ánh mối quan hệ kích thước

bằng tiếng Anh; Sắp xếp các đối tượng theo kích thước tăng dần hoặc giảm dần,..

GV cần lựa chọn trò chơi phù hợp, xác định hình thức tổ chức và dự kiến cách

thức tổ chức trò chơi để phát triển KN so sánh kích thước bằng tiếng Anh cho trẻ. GV

cũng phải chuẩn bị các đồ dùng, đồ chơi cần thiết để phục vụ cho việc tổ chức hoạt

động.

*Bước 2: Triển khai trò chơi

Đầu tiên GV sẽ giới thiệu tên trò chơi với cả lớp sau đó phổ biến luật chơi, cách

chơi. Tiếp theo GV sẽ chơi mẫu cho trẻ có thể quan sát và hiểu hơn về trò chơi. Cuối

cùng là GV cho trẻ tham gia vào trò chơi (có thể là theo nhóm hoặc tập thể). Trong q

trình trẻ tham gia, GV cần quan sát, hướng dẫn và hỗ trợ. Sau khi kết thúc, GV sẽ nhận

xét và đánh giá lần chơi thứ nhất. Ở những lần chơi tiếp theo GV nên thay đổi cách

chơi, đặt ra yêu cầu mới tăng mức độ khó của nhiệm vụ chơi, hành động chơi. Đặc

biệt, GV luôn phải hướng trẻ sử dụng tiếng Anh để tham gia vào các trò chơi

Chúng tơi đã tiến hành thiết kế 5 trò chơi để giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển khả

năng so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA :

1. Who is faster

2. Sorting

3. Guessing

4. Musical flascards

5. Mine sweep

*Bước 3: Kết thúc hoạt động

Kết thúc trò chơi, GV nhận xét về kết quả, rút kinh nghiệm trong quá trình

chơi. GV cần tạo điều kiện cho trẻ tự nhận xét về sản phẩm đội mình và đội bạn, cho

trẻ nhận xét và so sánh kích thước.

c, Điều kiện thực hiện

Điều đầu tiên GV phải nắm vững đặc điểm nhận thức, khả năng so sánh kích

thước của trẻ để có thể tổ chức trò chơi phù hợp với độ tuổi, với trình độ của trẻ. Nếu

GV tổ chức trò chơi q khó thì trẻ khơng thể hiểu u cầu mà GV đưa ra còn nếu q

dễ thì trẻ sẽ cảm thấy nhàm chán và khơng tham gia tích cực. Tiếp theo là GV phải biết

vận dụng các trò chơi một cách linh hoạt, sáng tạo vào quá trình rèn luyện KN so sánh

kích thước cho trẻ. GV ln phải sử dụng tiếng Anh và luôn phải hướng trẻ sử dụng

19



tiếng Anh trong q trình tham gia vào trò chơi. GV phải biết cách để tạo được khơng

khí hào hứng, vui vẻ, thu hút, lơi cuốn trẻ tham gia vào trò chơi một cách tích cực, như

thế mới đạt được hiệu quả cao như đã đặt ra. Và một điều quan trọng nữa là GV phải

thu thập hoặc thiết kế được nhiều trò chơi để áp dụng cho phù hợp với mục đích giáo

dục, để tổ chức cho trẻ, tránh lặp đi lặp lại một trò chơi quá nhiều lần.

3.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng phiếu bài tập có nhiệm vụ so sánh kích thước

các đối tượng trong hoạt động làm quen với tiếng Anh cho trẻ 5 – 6 tuổi.

a, Mục đích, ý nghĩa

Sử dụng phiếu bài tập tiếng Anh yêu cầu trẻ so sánh kích thước giữa các đối

tượng giúp trẻ có cơ hội luyện tập, củng cố và vận dụng KN so sánh để hoàn thành bài

tập, giúp cá nhân trẻ rèn luyện và phát triển KN tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh,..)

trong q trình thực hiện yêu cầu. BP này còn giúp trẻ phát triển khả năng nghe hiểu

yêu cầu của bài tập bằng tiếng Anh để hồn thành nhiệm vụ so sánh kích thước, thêm

vào đó là giúp cho phản xạ của trẻ tốt hơn khi gặp các bài tập hay tình huống tương tự,

giúp trẻ nhớ được từ vựng.

Mặt khác, phiếu bài tập còn rèn luyện cho trẻ tính độc lập, chủ động, sáng tạo

trong khi thực hiện nhiệm vụ nhận thức. Ngoài ra nó còn là cơng cụ hữu hiệu để giúp

GV có thể đánh giá mức độ phát triển của trẻ thông qua phiếu bài tập.

Sử dụng phiếu bài tập để giao nhiệm vụ cho trẻ thực hiện các bài tập do đó sẽ

hình thành được ở trẻ thói quen biết thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ học tập được

giao. Thêm vào đó là trẻ phát triển khả năng chú ý, ghi nhớ có chủ định, trẻ phải biết

huy động và tổng hợp các kiến thức đã học vào giải quyết nhiệm vụ học tập cho nên sẽ

giúp cho trí tuệ đứa trẻ được rèn luyện và phát triển toàn diện hơn.

b, Cách tiến hành

*Nội dung của phiếu bài tập:

- GV cần xác định xem nội dung về kích thước của trẻ 5 – 6 tuổi bao gồm

những kiến thức gì. Và theo chương trình của Bộ giáo dục đưa ra thì trẻ 5 – 6 tuổi cần

phải đạt được những mục tiêu BTKT:

+ Trẻ biết mối quan hệ kích thước giữa 2 – 3 vật theo từng chiều đo kích thước,

như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn



20



+ Trẻ biết sử dụng đúng từ để diễn đạt bằng lời mối quan hệ kích thước giữa các

vật

+ Trẻ biết phân biệt, nhận biết và nắm được tên gọi các chiều đo.

*Yêu cầu của phiếu bài tập

- Sử dụng tiếng Anh

- Phù hợp đặc điểm nhận thức, đặc điểm tâm-sinh lí của trẻ và đặc điểm tiếp

nhận ngơn ngữ tiếng Anh của trẻ

- Các yêu cầu bằng tiếng Anh, hình ảnh trong phiếu bài tập phải rõ ràng, để trẻ

có thể dễ dàng quan sát và dễ thực hiện nhiệm vụ nhận thức

- Yêu cầu của các bài tập phải rõ ràng:

+ Với dạng bài tập tô màu: GV phải sử dụng hình ảnh đen, trắng, hình ảnh phải

rõ ràng kèm theo từ vựng tiếng Anh phù hợp với kích thước của hình ảnh. Khi cho trẻ

so sánh 2 đối tượng hay 3 đối tượng, GV cần căn chỉnh hình ảnh sao cho trẻ có thể

hiểu được.

+ Với dạng bài tập khoanh tròn các đối tượng: GV cần sử dụng hình ảnh vừa,

khơng q to để trẻ có thể khoanh

+ Với dạng bài tập nối: GV phải biết sắp xếp sao cho từ vựng và hình ảnh khác

phía nhau. Tránh trường hợp từ vựng và hình ảnh lộn xộn, trẻ khó có thể tìm được từ

vựng theo u cầu. Từ vựng và hình ảnh phải to, rõ ràng, một hình ảnh bên này phải

tương ứng với một từ vựng bên kia.

* Gồm các bước sau:

-



Bước 1: Phát các bài tập cho trẻ

Bước 2: Đưa ra nhiệm vụ bằng tiếng Anh và giao nhiệm vụ cho trẻ

Bước 3: Trẻ tiến hành thực hiện yêu cầu trong các bài tập, ban đầu trẻ thực hiện dưới



-



sự hướng dẫn của GV sau đó trẻ thực hiện nhiệm vụ độc lập.

Bước 4: Cơ và trẻ cùng đánh giá và kiểm tra kết quả.

c, Các dạng phiếu bài tập được chúng tôi sử dụng để tích hợp phát triển KN so

sánh kích thước trong hoạt động LQVTA cho trẻ 5-6 tuổi bao gồm:



-



Dạng bài tập tô màu các đối tượng theo yêu cầu

Dạng bài tập khoanh tròn các đối tượng theo yêu cầu

Dạng bài tập nối từ vựng tiếng Anh tương ứng với đối tượng

Dạng bài tập lắng nghe yêu cầu bằng tiếng Anh và hoàn thành nhiệm vụ

Dạng bài tập sắp xếp theo thứ tự

Dạng bài tập lựa chọn đối tượng và dán theo u cầu bài tập.

21



Từ đó chúng tơi đưa ra một số dạng bài tập cho trẻ mầm non 5 – 6 tuổi nhằm

phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA (Phụ lục )

d, Điều kiện thực hiện

Đầu tiên GV phải biết thiết kế các bài tập phù hợp với mục đích giáo dục, với

đặc điểm nhận thức, đặc điểm tâm-sinh lí của trẻ và đặc điểm tiếp nhận ngôn ngữ tiếng

Anh của trẻ. Tiếp theo là các yêu cầu bằng tiếng Anh, hình ảnh trong phiếu bài tập phải

rõ ràng, để trẻ có thể dễ dàng quan sát và dễ thực hiện nhiệm vụ nhận thức. Các hình

ảnh khơng được q to, hay q nhỏ, nên sử dụng những hình ảnh quen thuộc trẻ đã

từng học để có thể đồng thời củng cố kiến thức. Trẻ phải có vốn kinh nghiệm, hiểu biết

nhất định để vận dụng vào việc giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong bài tập

Một điều kiện quan trọng nữa để thực hiện BP này đó là GV cần chuẩn bị đầy

đủ đồ dùng cần thiết để trẻ thực hiện nhiệm vụ (phiếu bài tập, bút màu, bút chì,..),

tránh tình trạng có trẻ bị thiếu đồ dùng hay bài tập khi bắt đầu thực hiện. Khơng gian

lớp học phải sạch sẽ, thống mát tạo điều kiện tốt để trẻ luyện tập với các phiếu bài tập

được giao.

3.3. Thử nghiệm một số biện pháp tổ chức hoạt động làm quen với tiếng

Anh tích hợp phát triển kỹ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi

3.3.1 Mục đích tổ chức thử nghiệm

3.3.2 Nội dung thử nghiệm

3.3.3 Đối tượng, phạm vi, thời gian thử nghiệm

3.3.4 Xây dựng tiêu chí và cách đánh giá thử nghiệm

3.3.5 Điều kiện thử nghiệm

3.3.6 Quy trình tổ chức thử nghiệm.

3.3.7 Kết quả thử nghiệm

3.3.7.1 Kết quả đo đầu vào trước thử nghiệm

Trước khi tiến hành TN một số BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp KN so

sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi, chúng tôi đã khảo sát mức độ phát triển KN so sánh

kích thước của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở nhóm ĐC và nhóm

TN. Kết quả chúng tơi thu được như sau:

Nhóm

trẻ

22



Số trẻ



Mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ trong hoạt động

LQVTA



Thành thạo

SL

%

TN

ĐC



10

10



1

0



10%

0%



Đạt

SL

5

7



Khơng đạt

SL

%



%

50%

70%



4

3



40%

30%



Bảng 3.1 Mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt

động LQVTA trước TN

Kết quả được thể hiện ở bảng trên cho ta thấy tỉ lệ trẻ đạt ở mức độ thành thạo ở

cả 2 nhóm ĐC và TN chiếm tỉ lệ nhỏ (0% và 10%); tỉ lệ ở mức độ đạt khá cao, chiếm

70% ở nhóm trẻ ĐC và 50% ở nhóm trẻ TN. Tuy nhiên, số lượng trẻ khơng đạt vẫn còn ở

mức cao (30% và 40%), tỉ lệ trẻ khơng đạt ở nhóm TN cao hơn nhóm ĐC là 10%.

Dưới đây là biểu đồ thể hiện mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong

hoạt động LQVTA ở nhóm ĐC và nhóm TN:

Dưới đây là bảng số liệu mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt

động LQVTA của trẻ ở nhóm ĐC và TN trước TN theo ba tiêu chí:

Trung bình (điểm)

Tiêu chí 1



Tiêu chí 2



Tiêu chí 3



Nhóm ĐC

2,0

1,7

1,7

Nhóm TN

2,1

1,7

1,6

Bảng 3.2 Mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA của

trẻ ở nhóm ĐC và TN trước TN theo tiêu chí.

Qua bảng số liệu cho ta thấy, mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ 5

– 6 tuổi trong hoạt động LQVTA đều nằm ở mức độ đạt nghĩa là trẻ đã có KN so sánh

kích thước cũng như độc lập trong q trình thực hiện nhiệm vụ so sánh kích thước.

Tuy nhiên, tốc độ thực hiện nhiệm vụ của trẻ còn chậm và đôi khi trẻ chưa thực sự

hiểu rõ yêu cầu của GV dẫn đến việc lúng túng khi khái quát kết quả so sánh khi sử

dụng tiếng Anh, Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy được trẻ chưa tự mình hồn thành

nhiệm vụ, cần có GV giúp đỡ hoặc bạn bè nhắc nhở, đôi khi không hứng thú và không

muốn tham gia vào hoạt động. Mức độ giữa các tiêu chí ở 2 nhóm ĐC và TN có sự

chênh lệch nhưng khơng nhiều; như vậy chúng ta có thể thấy được mức độ tương đối

đồng đều về KN so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA giữa 2 nhóm ĐC và TN.

Dưới đây là biểu đồ thể hiện mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ 5

– 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở nhóm ĐC và TN theo tiêu chí:

23



Như vậy, chúng tơi thấy mức độ phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ mẫu

giáo 5 – 6 trong hoạt động LQVTA ở cả 2 nhóm ĐC và TN khơng có sự chênh lệch

nhiều, mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA tương đối

đồng đều.

3.3.7.2 Kết quả sau TN

Chúng tơi tiến hành TN tác động lên trẻ nhóm TN bằng cách tổ chức các hoạt

động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

mà chúng tôi đã xây dựng, nhóm ĐC chúng tơi vẫn tiến hành tổ chức các hoạt động

như thường ngày:

Dưới đây là bảng kết quả mức độ phát triển KN so sánh kích thước

trong hoạt động LQVTA của trẻ nhóm ĐC và TN sau TN theo thang đánh giá:



Nhóm

trẻ



Số trẻ



Mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ trong hoạt động

LQVTA

Thành thạo

SL

%



Đạt

SL



%



Khơng đạt

SL

%



TN

10

3

30%

7

70%

0

0%

ĐC

10

1

10%

5

50%

4

40%

Bảng 3.3 Kết quả khảo sát mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ 5-6

tuổi trong hoạt động LQVTA ở trường mầm non sau TN

Thông qua kết quả ở bảng trên, chúng tôi thấy rằng:

Sau TN tác động, mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ trong nhóm

TN cao hơn so với nhóm ĐC và cao hơn so với kết quả khảo sát ban đầu. Cụ thể là số

trẻ thực hiện bài tập kiểm tra mức độ thành thạo của nhóm TN là 30%, mức đạt là 70%

và khơng còn trẻ nào ở mức khơng đạt. Trong khi đó, trẻ thực hiện bài tập kiểm tra

mức độ thành thạo của nhóm ĐC là 10%, đạt là 50% và không đạt là 40 %.

Sau đây là biểu đồ thể hiện mức độ phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ 56 tuổi trong hoạt động LQVTA của 2 nhóm TN và ĐC sau khi tiến hành TN:

Biểu đồ 3.3 Mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

trong hoạt động LQVTA của 2 nhóm TN và ĐC sau TN (tính theo %)



24



Để có cái nhìn chi tiết hơn về mức độ phát triển KN so sánh kích thước

của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở cả 2 nhóm, chúng tơi tiến hành lập bảng

số liệu mức độ phát triển của trẻ ở nhóm ĐC và TN theo từng tiêu chí sau khi TN:

Trung bình (điểm)

Tiêu chí 1

Tiêu chí 2

Tiêu chí 3

Nhóm ĐC

2,1

1,7

1,7

Nhóm TN

2,5

2,1

2,0

Bảng 3.4 Mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt

động LQVTA ở cả 2 nhóm ĐC và TN theo tiêu chí sau khi tiến hành TN

Từ kết quả bảng 3.4, chúng tôi nhận thấy rằng mức độ phát triển KN so sánh

kích thước của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở nhóm TN cao hơn hẳn so với

nhóm ĐC, cụ thể như sau:

+ Tiêu chí 1, nhóm TN có điểm trung bình cao hơn nhóm ĐC là 0,4

+ Tiêu chí 2, nhóm ĐC có điểm trung bình ít hơn nhóm TN là 0,4

+ Tiêu chí 3, nhóm TN có điểm trung bình cao hơn nhóm ĐC là 0,3

Dưới đây là biểu đồ thể hiện mức độ phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ

mâu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở 2 nhóm ĐC và TN theo từng tiêu chí

sau khi tiến hành TN:

Ta thấy có sự chênh lệch giữa các tiêu chí ở cả 2 nhóm ĐC và TN sau khi tiến

hành TN, đặc biệt là tiêu chí 1 và tiêu chí 2. Điều này có nghĩa là trẻ đã thành

thạo hơn khi sử dụng tiếng Anh để so sánh kích thước. Trong q trình TN,

chúng tơi cũng đã nhận thấy trẻ hứng thú và tích cực hơn khi tham gia vào hoạt

động.

3.3.7.3 Kết quả mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt động

LQVTA của trẻ nhóm ĐC và TN trước và sau TN:

Đề thấy rõ mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt động

LQVTA của trẻ nhóm ĐC và TN trước và sau TN, chúng tôi đã tiến hành lập bảng số

liệu so sánh dưới đây:

Nhóm

trẻ



Số

trẻ



Thời gian



Mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ trong

hoạt động LQVTA

Thành thạo



25



Đạt



Khơng đạt



TN



ĐC



SL



%



SL



%



SL



Trước TN



1



10%



5



50%



4



40%



Sau TN



3



30%



7



70%



0



0%



Trước

TN



0



0%



7



70%



3



30%



Sau TN



1



10%



5



4



40%



10



10



50%



%



Bảng 3.5 Kết quả khảo sát mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ 5-6

tuổi trong hoạt động LQVTA ở 2 nhóm TN và ĐC trước và sau TN hình thành.

Từ kết quả ở bảng 3.5 cho ta thấy mức độ phát triển KN so sánh kích thước của

trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở cả 2 nhóm ĐC và TN sau TN đều cao hơn so

với trước TN.

Sau quá trình tiến hành TN tác động, mức độ phát triển KN so sánh kích thước

của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở nhóm trẻ TN tăng lên rõ rệt. Tỉ lệ mức độ

thành thạo của trẻ 5 – 6 tuổi tăng từ 10 – 30%, tỉ lệ mức độ đạt tăng 20% và khơng còn

trẻ nào ở mức khơng đạt. Trong q trình chúng tơi tiến hành khảo sát trẻ 5 – 6 tuổi ở

nhóm TN sau TN, chúng tơi thấy trẻ rất hào hứng tham gia và giải quyết các nhiệm vụ

được giao.

Ở nhóm ĐC so với kết quả kiểm tra đầu vào thì số trẻ đạt mức độ phát triển KN

so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA ở mức độ thành thạo có xu hướng tăng lên

nhưng không đáng kể, từ 0 – 10%. Số trẻ ở mức độ đạt lại có xu hướng giảm đi 20%

và số trẻ ở mức không đạt tăng lên, tăng 10% so với trước TN.

Như vậy, cách tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích

thước mà GV vẫn thường tổ chức chưa thực sự hiệu quả và hấp dẫn trẻ, thúc đẩy trẻ

tham gia vào các hoạt động một cách tích cực.

Tiểu kết chương 3

Với thực trạng của việc tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so

sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non hiện nay, tôi đã đề xuất

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SO SÁNH KÍCH THƯỚC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×