Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ TRƯỜNG HỌC TẠO CẢM XÚC DƯƠNG TÍNH CHO HỌC SINH

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ TRƯỜNG HỌC TẠO CẢM XÚC DƯƠNG TÍNH CHO HỌC SINH

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hai yếu tố học tập và yếu tố môi trường nhà trường cũng chiếm tỉ trọng tương

đối cao là những yếu tố khiến các em hạnh phúc. Học tập dường như cũng đem lại

cảm xúc dương tính cho học sinh, cũng có những em cảm thấy thoải mái khi mình

được học mà không phải là ép buộc bị học.

Bảng 3.2: Bảng phân bố các tác nhân trường học cụ thể tạo cảm xúc dương tính

Số câu trả lời

Tỉ lệ %

Số lượng Tỉ lệ % số người

Bạn bè hành vi bạn bè đối với mình, mình với bạn

305

29.4

104.5

đặc điểm bạn bè

34

3.3

11.6

cảm xúc/ thái độ bạn bè đối với mình/ mình

10

1.0

3.4

với bạn

Mơi trường cơ sở vật chất của trường

77

7.4

26.4

72

6.9

24.7

nhà trường hoạt động ngoại khoá trường tổ chức

hoạt động khác trong nhà trường

108

10.4

37.0

Học tập môn học

54

5.2

18.5

kết quả học tập

75

7.2

25.7

giá trị học tập

89

8.6

30.5

áp lực học tập

22

2.1

7.5

Thầy cô hành vi thầy cô

32

3.1

11.0

đặc điểm thầy vô

32

3.1

11.0

thái độ/ cảm xúc thầy cô đối với học sinh

18

1.7

6.2

Bản thân năng lực bản thân (ngoài học tập)

5

0.5

1.7

giá trị bản thân

18

1.7

6.2

cảm xúc/ sở thích của bản thân

13

1.3

4.5

Khác các câu khơng liên quan

23

2.2

7.9

các yếu tố khác về bạn bè

22

2.1

7.5

các yếu tố khác về thầy cơ

26

2.5

8.9

các yếu tố khác về bản thân

3

0.3

1.0

khơng có

1

0.1

0.3

Tổng

1039

100.0

355.8

Ghi chú: Do mỗi học sinh có thể đưa ra nhiều câu trả lời cho 1 yếu tố nên tỷ lệ

% trên số người có thể lớn hơn 100%

Mơi trường nhà trường là một yếu tố tác động khá lớn vào cảm xúc dương tính

của học sinh. Các em thấy vui vẻ khi được học trong môi trường năng động, đồng thời,

cũng thấy dễ chịu khi học ở một không gian thống mát, sạch sẽ. Một mơi trường như

vậy là một yếu tố lớn trong việc thúc đẩy, tạo điều kiện cho các em học tập tốt hơn. Tỷ

lệ học sinh chỉ ra các yếu tố này là trên 80%. Trong khi đó, các yếu tố liên quan đến

thầy cơ và đến bản thân học sinh chỉ khiến cho khoảng từ 11% số học sinh trở xuống

có cảm xúc dương tính. Rõ ràng, so với bạn bè, môi trường nhà trường và học tập thì

vai trò của các yếu tố này còn hạn chế. Yếu tố trạng thái sức khỏe của học sinh, dù có

Các yếu tố



Các thành phần của từng yếu tố



11



trong mơ hình lý thuyết đã đề cập ở chương 1 cơ sở lý luận nhưng không học sinh nào

coi đó là điều khiến các em hạnh phúc ở trường.

Có thể thấy, 3 yếu tố quan trọng tạo cảm xúc dương tính cho đa số học sinh

nhất là: bạn bè, mơi trường nhà trường và học tập, còn yếu tố thầy cơ và bản thân

thì chỉ tạo niềm vui cho một số ít học sinh. Bảng 3.2 sẽ xem xét cụ thể từng thành phần

của các yếu tố.

Như đã đề cập, yếu tố bạn bè là yếu tố tạo nên cảm xúc dương tính phổ biến

nhất ở học sinh. Dữ liệu chỉ ra 3 thành phần chính của yếu tố này. Đó là:

- Hành vi của bạn bè đối với mình và của mình đối với bạn: là những hành

vi hoạt động giao lưu, chia sẻ của bạn bè dành cho nhau như đi chơi cùng nhau, vui

chơi, nói chuyện, tâm sự với nhau, giúp đỡ nhau

- Đặc điểm bạn bè: là những đặc điểm về mặt con người như tốt bụng, xin

đẹp, tin cậy….

- Cảm xúc/ thái độ của bạn bè đối với mình và của mình đối với bạn: là

những tình cảm, cách ứng xử thân ái, tốt đẹp của bạn bè

Trong số các yếu tố này, hành vi bạn bè khiến các em vui vẻ, hạnh phúc chiếm

số lượng rất lớn (305/1039 câu) đạt 29.4% tổng số câu trả lời. Cảm xúc dương tính của

các em học sinh dường như bị ảnh hưởng rất lớn bởi những hành vi của bạn bè, dù chỉ

là những hành động nhỏ nhưng cũng có thể vì thế mà làm các em vui vẻ cả ngày. Đặc

điểm bạn bè và cảm xúc bạn bè ít phổ biến hơn,

Yếu tố thầy cô cũng gồm 3 thành phần tương tự như yếu tố bạn bè (do đều là

mối quan hệ trong nhà trường). Trong đó, thành phần hành vi thầy cơ và đặc điểm của

thầy cô chiếm số lượng câu trả lời bằng nhau (32/1039 câu). Học sinh cảm thấy thích

thú khi cảm thấy mình và thầy cơ gần gũi nhau hơn. Hay học sinh thấy phấn khởi, có

động lực hơn khi được thầy cơ khen. Đó có thể nó là lời khen thống qua nhưng có thể

từ đó học sinh lấy làm bàn đạp để thúc đẩy bản thân mình hơn. Tuy nhiên., dữ liệu cho

thấy, yếu tố thầy cô khiến học sinh thấy vui vẻ, hứng thú, hạnh phúc khi đến trường là

không phổ biến ở học sinh, ở cả 3 thành phần này.

Môi trường nhà trường là 1 trong ba nguồn tạo cảm xúc dương tính phổ biến

ở nhiều em. Cấc yếu tố môi trường nhà trường gồm 3 thành phần:

- Cơ sở vật chất của trường: là các điều kiện vật chất của nhà trường như

canteen, nhà vệ sinh sạch sẽ, máy lạnh, thang máy, sân trường, vẻ đẹp bên ngồi của

nhà trường …

- Hoạt động ngoại khố do trường tổ chức: bao gồm các hoạt động tập thể

mà nhà trường tổ chức cho học sinh ngoài chương trình học tập



12



- Hoạt động khác trong nhà trường: là những hoạt động mà học sinh thực

hiện ở trường hay trong lớp khơng liên quan đến học tập như nói chuyện riêng, trong

giờ học, được nghỉ tiết, được ăn miễn phí …

Trong các yếu tố mơi trường trường học thì yếu tố được nhắc đến nhiều nhất

là những hoạt động khác trong nhà trường này. Các hoạt động này chiếm 10.4% tổng

số câu trả lời và được hơn 1/3 số học sinh cho là những điều khiến chúng vui vẻ. Các

yếu tố này thể hiện chất học trò nghịch ngợm của các em. Bên cạnh việc đến trường

để học thì các em rất thích những khoảng thời gian được chơi đùa với bạn bè ngồi

giờ học thậm chí là trong giờ học. Việc được làm việc riêng trong giờ học khiến các

em cảm thấy thích thú và vui vẻ. Đây cũng là điều các giáo viên nên lưu ý việc thay

đổi phương pháp giảng dạy và nên tạo điều kiện cho các em trò chuyện, bàn luận,

hùng biện.

Yếu tố học tập gồm 4 thành phần. Đó là

- Mơn học: Là các mơn học khiến các em thích, có hứng thú. Các mơn này có

thể là các mơn mà các em vốn thích, có khả năng, nhưng cũng có thể là các môn mà

giáo viên dạy hay, truyền được cảm hứng để các em thích

- Kết quả học tập: điểm số mơn học cao làm các em vui, hài lòng và hạnh

phúc

- Giá trị học tập: cảm nhận được giá trị của học tập đối với bản thân mình

như học để có kiến thức, để làm người có ích

- Áp lực học tập: là khơng có áp lực của lượng bài học, của thành tích

Trong yếu tố học tập, giá trị học tập mang lại cảm xúc dương tính cho học sinh

nhiều nhất đạt 8.6% tổng số câu trả lời, và có ở hơn 30% số học sinh . Các em đã nhận

thức được rằng việc học có đem lại giá trị nhất định cho bản thân mình mà khơng phải

mình học cho ai đó. Điều đáng lưu ý là áp lực học tập vốn bị cho là vấn đề học đường

hiện nay, với một số ít học sinh (khoảng 7,5% mẫu nghiên cứu) thì giảm áp lực học tập

sẽ khiến các em có hứng thú, vui vẻ hơn.

Yêu tố bản thân học sinh là yếu tố được nhắc đến khá ít, bao gồm trong đó 3

thành phần. Đó là:

- Năng lực bản thân ngoài học tập, hay được gọi là những tài lẻ như thể thao,

chơi game….

- Giá trị bản thân: Cảm nhận được những giá trị của bản thân trong tập thể

- Cảm xúc/ sở thích của bản thân: là những cảm xúc và sở thích của học

sinh, đáp ứng nhu cầu của cá nhân các em.



13



Trong yếu tố bản thân thì giá trị bản thân được các em đề cập đến nhiều nhất

chiếm 1.7% tổng số câu trả lời, và có ở 6,2% số người trả lời. Các em học sinh đã hiểu

rõ về giá trị của bản thân cảm thấy tự hào về chính bản thân mình.

Như vậy, có thể thấy như sau

- Đa số học sinh đều có yếu tố nào đó của nhà trường khiến các em có cảm xúc

dương tính. Số em khơng thấy yếu tố trường học khiến mình thấy vui vẻ, hạnh phúc là

rất ít, nhưng là điều cần quan tâm

- Trong số các yếu tố trường học, có 3 yếu tố tạo ra cảm xúc dương tính phổ

biến nhất cho đa số học sinh là bạn bè, môi trường trường học và học tập

- Hành vi bạn bè, hoạt động khác ngoài giờ học mà học sinh đã thực hiện trong

nhà trường, giá trị của học tập và cơ sở vật chất nhà trường là những yếu tố nổi trội,

tạo cảm xúc dương tính cho học sinh

- Yếu tố thầy cơ, yếu tố cá nhân học sinh là hai yếu tố tạo ra cảm xúc dương

tính cho một phần nhỏ học sinh

3.1.2. Các tình huống liên quan tới yếu tố bạn bè nảy sinh cảm xúc dương

tính cho học sinh

Là một trong 3 yếu tố cơ bản tạo nên cảm xúc dương tính cho học sinh, yếu

tố bạn bè có tác động tới nhiều học sinh nhất. Vậy, yếu tố này có những biểu hiện

cụ thể nào?

Bảng 3.3: Phân bố các yếu tố bạn bè (theo số câu trả lời)

Các yếu tố

Số lượng

Tỉ lệ %

Hành vi bạn bè đối với mình, của mình đối với bạn

305

87.4

Đặc điểm bạn bè

34

9.7

Cảm xúc/ thái độ bạn bè đối với mình/ mình với bạn

10

2.9

Tổng

349

100

Dựa theo bảng dữ liệu, yếu tố hành vi bạn bè đối với mình, mình với bạn là yếu

tố chiếm tỉ trọng lớn nhất trong yếu tố bạn bè (87%). Các em học sinh dường như bị

tác động cảm xúc rất lớn bởi yếu tố này. Các em rất để ý hành vi của bạn bè mình, nó

có thể là những hành vi rất nhỏ nhặt, nhưng đó lại là những hành động, lời nói làm

động lực rất lớn cho các em học sinh tới trường và mở rộng mối quan hệ hơn. Bên

cạnh đó, đặc điểm bạn bè cũng chiếm tỉ lệ là 9.7% trong yếu tố bạn bè. Có thể khơng

cần hành vi nào đó từ bạn bè của mình, chỉ cần là người đó xuất hiện là cũng đủ khiến

các em hạnh phúc rồi. Đây cũng là một trong những đặc điểm tâm lý điển hình của các

em độ tuổi dậy thì, lúc này các em bắt đầu có những rung động cảm xúc trước người

mình thích. Người đó cũng có thể là người đem lại động lực đến trường cho các em.

Ngoài ra, cảm xúc thái độ của bạn bè đối với mình ít xuất hiện nhưng cũng có trường

hợp này xảy ra chiếm 2.9% trong yếu tố bạn bè. Được bạn bè tôn trọng, quý mến cũng



14



là một điều khiến các em học sinh vui vẻ, sung sướng, các em hài lòng về điều đó. Đối

chiếu với thực trạng hiện nay xuất hiện nhiều trên báo chí như bạo lực học đường thì ta

có thể thấy bạn bè không phải lúc nào cũng tiêu cực như vậy mà yếu tố bạn bè là một

yếu tố rất lớn trong việc tác động vào cảm xúc dương tính của các em học sinh. Các

hộp dưới đây mô tả rõ hơn các yếu tố bạn bè này.

Hộp 3.1: Các yếu tố về hành vi liên quan đến bạn bè tạo cảm xúc dương tính

1. Giao lưu: được gặp bạn bè, nói chuyện, tâm sự, chia sẻ, than vãn, tranh luận, tạo

câu chuyện cười với bạn bè, kết bạn với nhiều người, làm quen với bạn, trêu các bạn

những lúc rảnh rỗi, được giao lưu gặp gỡ nhiều người bạn mới, nói chuyện với

người bạn mà em u q, Có nhiều bạn bè, chơi với bạn thân, lúc nào cũng có bạn

xung quanh chơi với mình, Được gặp người mình thích, Được gặp bạn bè, Ngồi

cạnh bạn thân

2. Vui chơi: vui chơi, cười đùa, chơi trò chơi cùng bạn bè, rủ được bạn bè đi chơi,

dc chơi cùng bạn bè

3. Lợi ích vật chất: được ăn ké đồ ăn các bạn, được bạn bao đồ ăn

4. Hoạt động chung: cùng với cả lớp chiến thắng cuộc thi, học cùng bạn, Được xem

đá bóng với bạn, Được cạnh tranh với các bạn, Chửi nhau với lũ bạn, Cùng bạn thân

nói xấu đứa khác, cùng Hóng drama, Có những kỉ niệm đẹp bên bạn bè, Được thử

những điều mới cùng bạn

5. Chỗ dựa: lúc gặp khó khăn được các bạn giúp đỡ, tương trợ, Được bạn bè khen,

Bạn bè ln đồn kết, Được các bạn bảo vệ, được chăm sóc, được bạn bè lắng nghe

Hộp 3.1 cho thấy rất đa dạng tình huống xảy ra khiến học sinh có cảm xúc

dương tính trong yếu tố hành vi bạn bè đối với mình, mình với bạn. Dữ liệu cho thấy,

bè là người giao lưu, người cùng chơi, cùng hoạt động, là chỗ dựa, có lợi ích vật chất

nho nhỏ đối với các em lứa tuổi vị thành niên. Chừng đó thơi cũng khiến các em hạnh

phúc. Bạn bè là người mà học sinh tiếp xúc nhiều nhất trong môi trường nhà trường,

lớp học nên là yếu tố xảy ra nhiều nhất cũng là điều dễ hiểu. Những hành động nhỏ

của các bạn như: được bạn lắng nghe hay được chơi cùng bạn bè và đơn giản hơn nữa

là có bạn là khiến em vui vẻ, hạnh phúc. Các em rất biết trân trọng từng khoảnh khắc

với bạn bè, khi mà trả lời câu hỏi trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng các em

đã gợi nhớ kí ức về bạn bè một cách nhanh chóng, chứng tỏ đó khơng phải là điều gì

thống qua và tạm bợ, mà các em thực sự rất thích thú và cảm thấy hạnh phúc khi có

bạn bè ở bên cạnh mình.

Hộp 3.2: Các yếu tố về đặc điểm của bạn bè tạo cảm xúc dương tính



15



1. Đặc điểm bên trong: bạn bè tốt bụng, thân thiện, Bạn bè tốt, hiểu ý em, Bạn bè

hoà đồng, vui vẻ, đoàn kết, Có nhiều bạn bè, Có người bạn tin tưởng, thân thiết, Bạn

bè luôn lắng nghe em

2. Đặc điểm bên ngồi: Có bạn mình thích, bạn bè cùng cấp 1 học chung, xinh, đẹp,

có người yêu học cùng trường, các bạn nữ, có những chị/em lớp trên/lớp dưới khiến

em tâm đắc

Đặc diểm bạn bè, dù bên trong hay bên ngoài, cũng có thể khiến các em vui vẻ,

thoải mái. Tuy ít hơn yếu tố hành vi, nhưng yếu tố đặc điểm của bạn bè cũng xuất

hiện. Các em học sinh cảm thấy vui sướng khi có người mình thích học cùng mình, đó

là một động lực to lớn đối với các em khi đến trường mỗi ngày. Hay khi được học

cùng với những người bạn cũ của mình lúc sang trường mới, các em thấy mình dường

như đã bỏ qua được bước làm quen và thấy gần gũi hơn với bạn bè. Khi đã được thích

ứng từ trước thì các em học sinh sẽ thấy dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với bạn bè

xung quanh mà không bị ngại ngùng, xấu hổ. Nhu cầu trò chuyện được thể hiện rất rõ

khi các em cảm thấy hài lòng khi có người lắng nghe và trò chuyện với mình. Đơi khi

đến lớp các em chỉ để được trò chuyện với bạn bè, thậm chí có những em sẵn sàng nói

chuyện riêng trong giờ học để bị cô giáo nhắc nhở. Từ đây, các thầy cô cũng nên chú ý

và sử dụng hiệu quả phương pháp giảng dạy làm kích thích học sinh học tập vào đúng

thời điểm mà không bị lãng phí.

Hộp 3.3: Các yếu tố về cảm xúc/ thái độ bạn bè đối với mình/ mình với bạn

tạo cảm xúc dương tính

Được bạn bè quan tâm

Được bạn bè tơn trọng



Được các anh chị lớp trên yêu thương quan tâm

Các bạn quý mến em, mọi người yêu quí



Là yếu tố xuất hiện ít nhất trong yếu tố bạn bè, nhưng chúng ta cũng không thể

bỏ qua. Các cảm xúc, thái độ của bạn bè như được bạn bè quan tâm, tôn trọng, yêu

thương, quý mến đã góp phần làm các em học sinh có cảm xúc dương tính khi tới

trường. Nếu như theo lý thuyết của Maslow trong tháp nhu cầu, tơn trọng là nhu cầu

cao nhất của con người, thì ở đây các em học sinh đã thể hiện rất rõ nhu cầu của mình.

Bên cạnh đó, nó cũng là sự thoả mãn, hài lòng khi có người quan tâm đến mình. Từ

đó, chúng ta có thể thấy, chúng ta cần quan tâm, để ý đến những người xung quanh

mình hơn một chút. Tuy chỉ là một hành động nhỏ nhưng nó cũng góp phần hỗ trợ cho

mỗi chúng ta một tinh thần tốt hơn mỗi ngày.

Như vậy, những điều học sinh cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc nhất ở bạn bè là

những hành vi cùng nhau giao lưu, cũng vui chơi, cùng cùng nhau hoạt động, là chỗ

dựa tinh thần của nhau mỗi khi khó khăn, động viên nhau mỗi ngày.



16



3.1.3. Các tình huống liên quan tới yếu tố thầy cơ nảy sinh cảm xúc dương

tính cho học sinh

Bảng 3.4 cho thấy các yếu tố thầy cô tạo ra cảm xúc dương tính cho học sinh.

Bảng 3.4: Phân bố các yếu tố thầy cô (theo số câu trả lời)

Các yếu tố

Hành vi thầy cô

Đặc điểm thầy vô

Thái độ/ cảm xúc thầy cô đối với học sinh

Tổng



Số lượng

32

32

18

82



Tỉ lệ %

39.0

39.0

22.0

100



Trong môi trường học tập, các em học sinh THCS và THPT ở trong nhiều mối

quan hệ, trong đó mối quan hệ với thầy cô là một trong hai mối quan hệ chính của các

em trong trường học và có ảnh hưởng vô cùng lớn đến cảm xúc của các em. Người nhà

giáo vừa là người dẫn dắt các em, đặt những bước nền móng khi các em còn ngồi trên

ghế nhà trường và là người truyền lửa, truyền cảm hứng cho các em. Bởi vậy nghiên

cứu đã thu được 82 câu trả lời của các em học sinh ở cả 2 cấp học cho rằng thầy cô là

một trong những yếu tố nổi bật đem lại cảm xúc dương tính và ham muốn đến trường

cho các em. Yếu tố lớn này được chia thành các khía cạnh nhỏ xếp theo thứ tự tỉ lệ từ

thấp đến cao bao gồm: thái độ/ cảm xúc thầy cô dối với học sinh, hành vi thầy cô đối

với học sinh và đặc điểm của thầy cơ. Trong đó, hành vi thầy cơ và đặc điểm thầy cơ

có cùng tỉ lệ là 39.0% số câu trả lời. Cùng với đó, 18 câu trả lời của các em học sinh

thcs và thpt cho rằng thái độ/ cảm xúc của thầy cô đối với học sinh là khía cạnh đem

lại cảm xúc dương tính cho các em, chiếm 22.0% tổng số câu trả lời. Có thể thấy các

khía cạnh được báo cáo phân bố tương đối đồng đều và đặc biệt được các em học sinh

chú trọng ở hành vi và đặc điểm của thầy cô. Vậy những yếu tố nhỏ đó bao gồm những

gì, được hiện hữu và thể hiện như thế nào cũng như tại sao lại có sự tương đồng và

chênh lệch như vậy. Nghiên cứu sẽ đi sâu hơn vào các biểu hiện của từng khía cạnh ở

dưới đây.



17



Hộp 3.4: Các yếu tố về hành vi liên quan đến thầy cô tạo cảm xúc dương tính



Khơng bị mắng

Được thầy cơ giúp đỡ khích lệ, động viên, dạy bảo

Được thầy cô an ủi

Được thầy cô khen

Thầy cô giảng tốt, quan tâm đến học sinh.

Giáo viên khao ăn

Giờ thi các cô trông dễ

Nghe cô giáo mơn Văn giảng bài

Nói chuyện, tâm sự với thầy cơ

Cơ giáo cho em tan học sớm

Có thể nói, mọi dụng ý và suy nghĩ sẽ dễ dàng được biểu hiện qua hành vi cũng

như mọi mục tiêu, mục đích cần được thực hiện thông qua hành vi. Bởi vậy thông qua

hành vi, học sinh có thể cảm nhận được sự quan tâm của người giá viên và từ đó đem

lại cảm xúc dương tính cho các em. Đơi khi những sự quan tâm đó có thể được biểu

hiện qua những lời giúp đỡ khích lệ, động viên, dạy bảo hay những lúc được nói

chuyện, tâm sự với thầy cơ. Những giây phút ấy dù không nhiều nhưng tiếp sức, tiếp

động lực vô cùng to lớn cho các em. Và thậm chí đơn giản hơn chỉ là những lúc được

nghe cơ giảng bài, khen và quan tâm. Những biểu hiện có thể khơng chỉ xuất hiện ở lời

nói mà còn ở cả hành động, như khi được người giáo viên khao ăn, trơng kiểm tra dễ

và cho tan học sớm vì biết các em có nhiều áp lực và cũng đang cố gắng hết sức. Có

những em nhận thấy rằng, xuyên suốt những cố gắng, những áp lực và cả những lỗi

lầm, sự vị tha của thầy cô cũng khiến các em cảm thấy vui vẻ hơn, làm gia tăng cảm

xúc dương tính và ham muốn đến trường trong các em

Hộp 3.5: Các yếu tố về đặc điểm của thầy cô tạo cảm xúc dương tính



1. Giảng dạy tốt: Thầy dạy hay; Giáo viên dạy dễ hiểu; Bài giảng hay, Cô giáo dạy

tốn, Cơ giáo dạy hay

2. Tính cách: vui vẻ, tuyệt vời, chiều học sinh, vui tính, nhiệt tình, quan tâm học

sinh, tốt, hiền, hài ước, tâm lý, thân thiện, chia sẻ cởi mớ, cơ dễ mến, có tâm huyết

với công việc, gần gũi với học sinh, thầy cô hăng hái

3. Được giao lưu: Gặp thầy cô, Được nghe cô giáo chủ nhiệm nói

Bản thân người giáo viên cũng có khả năng đem đến những cảm xúc dương tính

cho học sinh. Nghe đơn giản nhưng đây là yếu tố đứng đồng hạng nhất trong tỉ lệ về

mối quan hệ giữa thấy cơ với cảm xúc dương tính của học sinh. Yếu tố này được biểu

hiện ở ngay chính sự xuất hiện của người giáo viên, vốn đã tạo được ấn tượng với học

sinh, bởi vậy, cứ mỗi tiết học của một người giáo viên nhất định đó là sẽ đem lại được

hứng thú cho người học. Ấn tượng ở đây có thể bởi sự vui tính, hăng hái, nhiệt tính, tốt

18



bụng, tâm lý và hiền lành. Hoặc một tính chất, đặc điểm mà người giáo viên nào cũng

luôn muốn cố gắng đạt được, đó là có thể truyền tải những bài học một cách hay nhất

đến cho người học hay chính là các em học sinh thcs và thpt. Có thể thấy, yếu tố về

đặc điểm của người giáo viên đơi khi bắt nguồn ngay từ tính cách, cung cách làm việc

và cách truyền đạt với học sinh. Tất cả những điều đó dù khó thay đổi nhưng đều là

những yếu tố khiến tình thầy trò tốt lên và khiến các em học sinh có hứng thú học tập

tốt hơn.

Hộp 3.6: Các yếu tố về thái độ/ cảm xúc thầy cơ đối với học sinh tạo cảm xúc

dương tính



Được thầy cô yêu mến, yêu quý

Được thầy cô đối xử công bằng

Được các cô giáo dạy dỗ, dạy bảo, yêu thương

Thầy cô giáo quan tâm tới em, cô để ý tới, được giúp đỡ

Yếu tố cuối cùng về thái độ/ cảm xúc của thầy cô đối với các em cũng được

đánh giá theo tiêu chí đứng từ cảm nhận của người học. Những thái độ, cảm xúc này

có thể được cảm nhận là sự quý mến, sự quan tâm, yêu thương. Những điều này chỉ

được cảm nhận thông qua cảm giác của các em những cũng có những hành động cụ

thể khiến các em cảm thấy như vậy, chẳng hạn như khi được dạy dỗ, chỉ bảo, được để

ý tới, được giúp đỡ hay thậm chí là khi được đối xử cơng bằng, Đó là những điều đơn

giản nhưng tương tự như việc công nhận các em, quan tâm và thể hiện tình cảm với

các em, khiến học sinh cảm thấy gần gũi và u thích đến trường hơn, từ đó kích thích

các cảm xúc dương tính.

Như vậy, khơng chỉ việc hiểu rõ và nắm chắc kiến thức mà mình giảng dạy,

người giáo viên còn có vai trò, trách nhiệm quan tâm, bảo ban các em học sinh, nhất là

ở lứa tuổi dậy thì này. Các em là những cá nhân cần được quan tâm và luôn muốn nhận

được sự thông cảm cũng như dẫn dắt của những người trưởng thành đáng tin cậy mà

trong trường học, khơng ai khác chính là những người giáo viên luôn ở bên, sát sao

các em không chỉ trong việc học tập mà cả đời sống tâm lý cá nhân. Học sinh thcs và

thpt luôn muốn dành thời gian để được tâm sự và nhận được lời khuyên nhủ của thầy

cô. Các em nhận thấy mình được cơng nhận và gần gũi với giáo viên hơn khi được dẫn

dắt, khen thưởng khi cần và đặc biệt là được công nhận những sự cố gắng. Việc được

quan tâm trong quá trình học tập tại trường là vô cùng quan trọng với các em, khiến

các em cảm thấy hứng thú hơn với việc đến trường và đặc biệt được hậu thuẫn, ủng hộ

của người thầy cô chịu trách nhiệm trong quá trình học tập trên ghế nhà trường của các

em. Điều này được thể hiện rõ ràng ở việc, chỉ cần là môn học của những người giáo



19



viên các em yêu quý, chưa xét đến yếu tố mơn học, đã có thể tạo cảm hứng và đem lại

cảm xúc dương tính trong học tập.

3.1.4. Các tình huống liên quan tới yếu tố học tập nảy sinh cảm xúc dương

tính cho học sinh

Bảng 3.5: Phân bố các yếu tố học tập (theo số câu trả lời)

Các yếu tố

Môn học

Kết quả học tập

Giá trị học tập

Áp lực học tập

Tổng



Số lượng

54

75

89

22

240



Tỉ lệ %

22.5

31.2

37.1

9.2

100



Yếu tố học tập có 240 câu trả lời, cho rằng là những điều đem đến cảm xúc

dương tính cho các em. Yếu tố này có thể được chia thành nhiều lát nhỏ hơn được xếp

theo thứ tự tỉ lệ từ thấp đến cao như sau: áp lực học tập, môn học, kết quả học tập, giá

trị học tập. Yếu tố áp lực học tập gồm 22 câu mô tả chiếm 9.2% tổng số câu trả lời. 54

câu trả lời đề cập đến vấn đề, hứng thú đến trường của các em có sự tác động của yếu

tố môn học, tương ứng với tỉ lệ là 22.5%. Cùng với đó, yếu tố về kết quả học tập

chiếm tỉ lệ 31.2%, tức 75 câu trả lời. Cuối cùng, chiếm tỉ lệ cao nhất, 37.1% là yếu tố

về giá trị học tập. Yếu tố này đã được xác nhận bới 89 trên tổng số 240 câu. Có thể

thấy các lất cắt trong yếu tố lớn về học tập đã được dàn trải tương đối đều và được các

em nhìn nhận ở nhiều khía cạnh và đa chiều. Yếu tố được đánh giá cao theo số đông là

yếu tố về giá trị học tập. Vậy yếu tố này cùng 3 yếu tố còn lại bao gồm những gì, đem

lại ý nghĩa thế nào cho các em học sinh? Bài nghiên cứu sẽ trình bày rõ hơn ở những

hộp cụ thể sau.

Hộp 3.7: Các mơn học tạo cảm xúc dương tính cho học sinh



Giờ thể dục

Học lịch sử

Học tốn

Văn

Cơng nghệ

Mỹ thuật

Học vật lý

Giờ âm nhạc giúp thư giãn, hạnh phúc



Được học môn Tiếng Anh

Khi trường tăng cường mơn tin học

Học hố

Được học những tiết ngồi trời

Tiết học thực hành

Giờ học nhóm

Thứ 7 có giờ sinh hoạt lớp

Khơng phải học văn



Có thể thấy, giống như tên gọi của nó, yếu tố mơn học là tổng hợp các môn học

đã đem lại cảm xúc dương tính cho các em học sinh. Đó là những mơn học các em u

thích, hoặc có thể là những môn học đem đến cho các em sự thư giản, thoải mái sau

20



những giờ học căng thẳng, hay những môn học giúp các em vận động sau nhiều giờ

ngồi học. Các em đã có những câu trả lời tương đối xúc tích và chi tiết về tên mơn học,

nhưng có em thì chỉ cần là mơn học có tính chất mà em thích (ngồi trời) chứ khơng cụ

thể, chi tiết vào 1 mơn học và một số em còn đặc biệt nêu lí do và thậm chí ham thích

khi mơn học được kéo dài nhiều hơn so với thời khóa biểu. Khơng chỉ có những mơn

học cụ thể cần kiểm tra, cần thi và có tên trên thời khóa biểu là đem lại cảm xúc dương

tính cho các em học sinh mà ngay cả những giờ sinh hoạt hay thực hành cũng khiến các

em cảm thấy hứng thú và được kích thích ham muốn đến trường. Hơn thế nữa, khơng

chỉ có sự xuất hiện của các mơn học u thích là khiến cho các em cảm thấy phấn khở,

vui vẻ, Ngược lại, đối với những môn học không phù hợp với bản thân hoặc khơng

thuộc sở thích, các em có phần cảm thấy vui vẻ khi đột nhiên được trống tiết.

Hộp 3.8: Các yếu tố về kết quả học tập tạo cảm xúc dương tính cho học sinh

Được điểm cao

Được nhiều điểm tốt

Nhà trường tuyên dương

Được cộng điểm

Được điểm tốt

Điểm kiểm tra tốt



Được đứng nhất lớp

Làm được bài kiểm tra, bài thi

Đầu học kì, giành 3 con điểm 10

Đạt danh hiệu học sinh giỏi



Kết quả học tập của các em không phải lúc nào cũng phải là những con số hay

những đánh giá trên bảng điểm. Mặc dù đó là hình thức trực tiếp nhất để đánh giá một

kết quả học tập và cũng là yếu tốt đã được các em nhắc đến nhiều. Nhưng cùng với

hình thức đó, các em còn có mưu cầu về sự cơng nhận từ phía bạn bè, thầy cơ và nhà

trường thơng qua việc được tuyên dương, khen thưởng, được đứng nhất lớp hay đạt

danh hiệu học sinh giỏi . Đơi khi có thể là sự cơng nhận đến từ chính bản thân các em

như là việc làm được các bài kiểm tra, bài thi bằng những gì các em đã học. Có thể

thấy, hình thức để đánh giá về kết quả học tập của học sinh thcs và thpt là đa dạng, có

thể hiện hữu trên văn bản hoặc mang tính chất tinh thần, nhưng nhìn chung đã đem

đến được cho các em những cảm xúc dương tính khi các em tự nhận thấy mình đã làm

tốt và được thỏa mãn trên phương diện được chính mình hoặc người khác cơng nhận.



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ TRƯỜNG HỌC TẠO CẢM XÚC DƯƠNG TÍNH CHO HỌC SINH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×