Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TẠO CẢM XÚC CHO HỌC SINH

TẠO CẢM XÚC CHO HỌC SINH

Tải bản đầy đủ - 0trang

cộng sự, 2015). Cùng quan điểm của nghiên cứu này, Trương Thị Khánh Hà (2017)

cũng đã cho thấy việc trẻ bị chế giễu, trêu trọc… sẽ khiến các em cảm thấy khơng an

tồn khi ở trường. những mối quan hệ mới (bạn mới) mà trẻ trải nghiệm trong những

lần làm việc nhóm cũng là điều khiến các em cảm thấy căng thẳng George Essel và

Patrick Owusu (2017).

b) Yếu tố thầy cô

Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy mối quan hệ thầy trò tích cực là điều làm

tăng trải nghiệm hạnh phúc của trẻ và thúc đẩy các cảm xúc dương tính của các em khi

ở trường (Lei, Cui và Chiu, 2018; Phan Thị Mai Hương và cộng sự, 2017; Dương Thị

Diệu Hoa, 2008; Dong và Yu, 2007). Ngược lại, sự thiếu hỗ trợ, quan tâm từ phía giáo

viên là điều khiến học sinh cảm thấy bị đe doạ, lo lắng và sợ hãi (Dong và Yu, 2007).

Theo Victori Jones (2015) cho biết, có nhiều lý do để sinh viên cảm thây tích cực, bao

gồm cảm giác an tồn và thoải mái ở trưởng và có mối quan hệ an tồn với thầy cô và

bạn bè.

c) Hoạt động học tập

George Essel và Patrick Owusu (2017) cho rằng khối lượng bài tập/ cơng việc ở

trên lớp cần phải hồn thành là ngun nhân chính gây căng thẳng. Nghiên cứu của

Dương Thị Diệu Hoa (2008) cũng cho thấy việc trẻ làm bài kiểm tra được điểm tốt sẽ

khiến trẻ vui vẻ, hạnh phúc, trong khi việc bị điểm kém sẽ khiến trẻ cảm thấy buồn

rầu, chán nản, mất hứng thú.

d) Môi trường trường học

Theo K. Dwyer và đồng nghiệp (1998) môi trường trường học hay còn gọi là

khí hậu trường học được sắp xếp thành 4 lĩnh vực: an tồn (ví dụ: quy tắc và tiêu

chuẩn; an toàn về mặt cơ thể và cảm xúc…); mối quan hệ (tơn trọng tính đa dạng; sự

kết nối/ cam kết trường học; hỗ trợ - người lớn; hỗ trợ xã hội- sinh viên); dạy và học

(học tập xã hội, tình cảm và đạo đức); mơi trương thể chế (như vật chất xung quanh)

e) Tự đánh giá bản thân và cảm xúc của người học

Bàn về hạnh phúc, C. H. Giacomoni (2016) có nói rằng hạnh phúc cá nhân gắn

liền những cảm giác, tích cực về bản thân và các hoạt động giải trí. Eton đã nhận thấy

rằng một trong 4 yếu tố làm học sinh hạnh phúc hơn ở trường là cảm nhận về năng lực

của bản thân thơng qua những thành tích trong các lĩnh vực khác nhau. Trong báo cáo

về nghiên cứu, khi nhắc đến yếu tố bản thân, các em có xu hướng nói về việc được

cơng nhận trong kết quả học tập hay việc tự nhận thức về vẻ đẹp bề ngoài của mình

(O’Rourke và cộng sự, 2010).



4



1.2 MƠ HÌNH LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CÁC TÁC NHÂN TRƯỜNG

HỌC TẠO CẢM XÚC DƯƠNG TÍNH Ở HỌC SINH

Các quan điểm lý thuyết về cảm xúc đều thống nhất rằng một trong những đặc

trưng cơ bản của cảm xúc là tính tình huống của nó. Cảm xúc không tự nhiên xuất

hiện, mà luôn gắn với một tác nhân nào đó, do tác nhân đó kích hoạt, gắn với một tình

huống cụ thể, một bối cảnh cụ thể. Tình huống, hồn cảnh, bối cảnh là cái kích hoạt

cảm xúc. Hồn cảnh nảy sinh cảm xúc là những tình huống cụ thể kích thích sự xuất

hiện cảm xúc, nhưng nó khơng hồn tồn là ngun nhân của cảm xúc.

Cảm xúc hình thành tương ứng với tình huống/ sự kiện diễn ra, ví dụ những

cảm xúc tích cực sẽ được tạo bởi những tình huống/sự kiện tích cực. Cảm xúc tiêu cực

sẽ được taọ bởi những tình huống/ sự kiện tiêu cực. Và tiếp theo đó, cảm xúc lại hình

thành và chi phối đến hành động của con người (Roth, 2007).

Một số mơ hình lý thuyết đã được xây dựng để nghiên cứu tác nhân của cảm

xúc. Trong số đó, nhóm nghiên cứu chọn mơ hình của Kohu và cơng sự (2002) bởi mơ

hình này đề cập đến những yếu tố trường học có liên quan đến cảm xúc dương tính.



a) Mơ hình lý thyết về hạnh phúc ở trường học của Kohu và Rimbela (2002)

Dựa trên mô hình Hạnh phúc của Allardt, và một số mơ hình khác, hai tác giả

Kohu và Rimpela (2002) đã đưa ra mơ hình hạnh phúc thích hợp cho thiết chế trường

học. Theo mơ hình này, trường học vừa là thực thể tương đối độc lập, nhưng nó cũng

chịu tác động của gia đình và các cộng đồng xung quanh trong bối cảnh nghiên cứu

hạnh phúc của học sinh bởi đó là những nhóm có liên quan đến đời sống của chúng..

Theo mơ hình này, các yếu tố trường học liên quan đến hạnh phúc ở trường của

học sinh bao gồm (1) Hoạt động giảng dạy, giáo dục của giáo viên; (2) Hoạt động học

tập của học sinh; (3) Điều kiện của nhà trường (having); (4) Các mối quan hệ xã hội

(loving); (5) Ý nghĩa cho sự hoàn thiện bản thân (being) và (6) Tình trạng sức khỏe

(Health). Theo 2 tác giả, đây là mơ hình dựa trên cách nhìn nhận của học sinh. Nếu là

mơ hình dành cho giáo viên hay những người khác thì sẽ có chút thay đổi nhất định về

các thành phần này.

b) Áp dụng mơ hình của Kohu và cộng sự nghiên cứu các yếu tố trường học tạo

cảm xúc dương tính cho học sinh

Mơ hình hạnh phúc ở trường của Kohu và Rimpela đã bao quát được hầu hết

các yếu tố cơ bản ở trường học tạo nên hạnh phúc của học sinh. Các thành phần của

hạnh phúc chính là những yếu tố trong nhà trường tạo nên cảm nhận hạnh phúc của

trẻ. Các thành phần phần này nằm trong mối liên kết chặt chẽ với hoạt động giảng dạy,

giáo dục của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.



5



Có thể thấy, mơ hình này đề cập đến cảm nhận hạnh phúc, chứ không phải cảm

xúc dương tính một cách trực tiếp. Tuy nhiên, hạnh phúc là một khái niệm khá đa diện,

mà theo Diener (2000) thì bao gồm: thường xuyên trải nghiệm các cảm xúc dương

tính, khơng thường xun trải nghiệm các cảm xúc âm tính và về tổng thể là hài lòng

với cuộc sống. Từ đây có thể hiểu cảm xúc dương tính là nổi bật trong khái niệm hạnh

phúc. Có thể tóm lược rằng, người hạnh phúc là người thường có niềm vui, sự thích

thú, hứng khởi, yêu, dễ chịu, hài lòng … Đó là lý do có thể áp dụng mơ hình này để

nghiên cứu các yếu tố trường học tạo cảm xúc dương tính cho học sinh.

Trong mơ hình của Kohu xuất hiện các yếu tố sau:

- Hoạt động giảng dạy và giáo dục của giáo viên gồm các yếu tố liên quan đến

các hoạt động nghề nghiệp của giáo viên trong trường với đối tượng là học sinh là

giảng dạy và giáo dục

- Hoạt động học tập của học sinh: gồm các yếu tố liên quan đến hoạt động học

tập của học sinh

- Điều kiện nhà trường: là các yếu tố liên quan đến điều kiện vật chất và môi

trường của nhà trường

- Các mối quan hệ xã hội của học sinh bao gồm quan hệ với thầy cô và với bạn bè

- Bản thân: bao gồm các yếu tố liên quan đến cá nhân học sinh

- Sức khỏe bao gồm tình trạng sức khỏe thể chất của học sinh

Đối với trường học ở Việt Nam, giáo viên và học sinh là hai chủ thể khá khác

biệt, mối quan hệ của học sinh với bạn bè và với thầy cơ có những sắc thái riêng biệt.

Vì thế, yếu tố “quan hệ xã hội” sẽ dược tách thành 2 yếu tố là yếu tố giáo viên và yếu

tố bạn bè. Bên cạnh đó, yếu tố giảng dạy và giáo dục của giáo viên sẽ được nhóm gộp

trong yếu tố giáo viên này. Tóm lại, áp dụng mơ hình của Kohu vào nghiên cứu này thì

các yếu tố của mơ hình gồm:

- Yếu tố giáo viên

- Yếu tố bạn bè

- Yếu tố môi trường nhà trường

- Yếu tố học tập

- Yếu tố bản thân học sinh

- Yếu tố sức khỏe

Toàn bộ các yếu tố này được hiển thị ở hình 3.2 dưới đây.



6



Hình 1.2: Mơ hình nghiên cứu các yếu tố trường học tạo cảm xúc dương

tính cho học sinh

Các yếu tố trên đây sẽ được sử dụng như những trục chính định hướng cơng tác

mã hố dữ liệu về các yếu tố trường học tạo cảm xúc dương tính cho học sinh trong đề

tài này.



7



CHƯƠNG 2:

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

(1) Nghiên cứu tài liệu

Với mục tiêu tìm kiếm các tài liệu cho mục tổng quan các nghiên cứu và xây

dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Các tài liệu sau tìm kiếm được chọn lọc để tìm được

những tài liệu thực sự có liên quan đến đề tài. Các tài liệu này được tóm tắt và tổng

hợp trong một bảng bao gồm các cột: tên tài liệu và tên tác giả; Phương pháp; Kết quả

chính/ luận điểm chính và Ghi chú. Dựa trên bảng tổng hợp này, các thông tin được sử

dụng để phân tích theo các nội dung của đề tài.

(2) Bảng hỏi

Dữ liệu định tính được thu thập bằng qua bảng hỏi bằng câu hỏi mở: “Điều gì ở

trường làm con vui vẻ, thích, cảm thấy dễ chịu, hứng thú, tự hào…?”. Học sinh viết tối

đa 5 điều chúng nhớ nhất khiến chúng có được cảm xúc dương tính ở trường học. Tuy

nhiên, đó khơng phải là con số cố định. Học sinh có thể viết ít hơn hoặc nhiều hơn số

này. Bên cạnh đó, các thơng tin cá nhân như giới tính, khối lớp cũng được thu thập.

(3) Phân tích dữ liệu

Mã hóa dữ liệu

Trước hết, các mã tác nhân được xác định dựa trên sự tương đồng giữa các tác

nhân cụ thể được báo cáo. Việc mã hoá được thực hiện bởi 2 người, sau đó, 1 người

khác đánh giá độc lập về sự thống nhất giữa hai người trên và thảo luận những trường

hợp khác biệt. Kết quả thu được 5 yếu tố tác nhân chính gồm: bạn bè; thầy cơ; bản

thân người học; học tập; môi trường nhà trường/ lớp và 1 mã các tác nhân khác, bao

gồm những mô tả không liên quan đến cảm xúc, và những mô tả vô nghĩa.

1. Yếu tố bạn bè là các yếu tố liên quan đến bạn bè như hành vi, đặc điểm của

bạn bè, cảm xúc và thái độ của bạn bè đối với mình, mình với bạn

2. Yếu tố thầy cơ là các yếu tố liên quan đến thầy cô như hành vi, đặc điểm của

thầy cô, thái độ và cảm xúc của thầy cô đối với học sinh

3. Yếu tố bản thân người học là các yếu tố liên quan đến bản thân học sinh bao

gồm năng lực bản thân (ngoài học tập), giá trị của bản thân và cảm xúc hay sở thích

của bản thân

4. Yếu tố học tập là các yếu tố liên quan đến vấn đề học tập của học sinh bao

gồm các môn học, kết quả học tập, giá trị học tập và áp lực học tập

5. Yếu tố môi trường nhà trường là các yếu tố liên quan đến môi trường xung

quanh và các hoạt động nhà trường như cơ sở vật chất nhà trường, hoạt động ngoại

khoá do trường tổ chức và các hoạt động khác trong nhà trường



8



Các phép phân tích

Phân tích nội dung theo nguyên tắc tương đồng, và sắp xếp dữ liệu được áp

dụng cho phân tích định tính, nhằm mơ tả các tác nhân trường học tạo cảm xúc dương

tính cho học sinh. Phần mềm Excel được ứng dụng để lọc, sắp xếp, và trích rút dữ liệu.

Phân tích thống kê với các mã tác nhân trường học ở trên được thực hiện với

thống kê mô tả (số lượng, tỷ lệ %) và phân tích bảng chéo (csosstabs) với sự hỗ trợ của

phần mềm SPSS.

Do các mô tả tác nhân tạo cảm xúc dương tính do học sinh đưa ra là đa dạng,

mỗi học sinh đưa ra nhiều mô tả nên phép phân tích với câu hỏi đa phương án

(Multiple responses) được áp dụng. Với phân tích câu hỏi đa phương án, 2 chiều

cạnh phân tích số liệu được thực hiện là phân tích theo số câu trả lời , và phân tích

theo số người. Tổng số câu trả lời là 1039, và tổng số người là 292. Biểu đồ sau

phản ánh phân bố số câu trả lời/ số mô tả về tác nhân tạo cảm xúc dương tính ở

trường học của học sinh.

Tổng số câu trả lời nhận được là 1039 câu. Trung bình mỗi học sinh trả lời là 3

câu (trung bình = 3,4). Số câu trả lời nhiều nhất là 6 câu (1 người) chiếm 0.3%, số

người không trả lời là 11 chiếm 3.6% . Số người trả lời 5 câu chiếm nhiều nhất là 117

người (38.6%). Nếu chỉ tính riêng những người có câu trả lời có ý nghĩa thì số câu trả

lời trung bình của mẫu nghiên cứu là khoảng 4 câu (trung bình = 3,6)

Khi so sánh, các mã yếu tố tác nhân trên được lọc theo giới tính, cấp học và giới

tính của từng cấp học, kèm theo đó là những mơ tả cụ thể. Dựa vào đây, những đặc

điểm khác biệt hay tương đồng của các tác nhân tạo cảm xúc dương tính được xác

định khái quát hơn.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TẠO CẢM XÚC CHO HỌC SINH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×