Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nồng độ TNF-α có mối tương quan thuận vừa với IL-1β và IL-8 (r=0,306 và r=0,404); TNF-α ó mối tương quan nghịch yếu với IL-10 (r= -0,285). Nồng độ IL-6 có mối tương quan thuận yếu với IL-8 (r= 0,290); IL-6 có mối tương quan nghịch

Nồng độ TNF-α có mối tương quan thuận vừa với IL-1β và IL-8 (r=0,306 và r=0,404); TNF-α ó mối tương quan nghịch yếu với IL-10 (r= -0,285). Nồng độ IL-6 có mối tương quan thuận yếu với IL-8 (r= 0,290); IL-6 có mối tương quan nghịch

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

Chương 4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng đô TNF-α, IL-1β,

IL-6, IL-8, IL-10 ở bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.

4.1.1 Tuổi và giới

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhóm tuổi từ 30-59 là hay gặp,

tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 45,3 ±13,6 tuổi. Số bệnh nhân

nam chiếm tỷ lệ 44,9%, số bệnh nhân nữ chiếm 55,1%.

4.1.2 Đặc điểm lâm sàng

Tỷ lệ bệnh nhân có sụt cân chiếm tỷ lệ 67,9%, triệu chứng sốt

chiếm tỷ lệ 22,1%. Tiếp theo là các dấu hiệu kèm theo là đau bụng

chiếm 58(74,4%), rối loạn phân là 62(79,5%) (bảng 3.2). Tỷ lệ sốt

chúng tôi gặp cao hơn nhiều so với Yasemin Ozin (6,0%) nhưng thấp

hơn Pongprasobchai và CS bệnh nhân có biểu hiện sốt (27,5%),

Diefenbach (34%). Triệu chứng sốt là một trong những dấu hiệu

trong đợt tiến triển của bệnh hay phản ánh tình trạng viêm tiến triển.

4.1.3 Đặc điểm cận lâm sàng

Về các bilan viêm, chúng tôi thấy bệnh nhân có máu lắng tăng

≥20 mm/h là 53(67,9%) bệnh nhân có CRP > 1 mg/dl là 33(42,3%)

(bảng 3.4). Người ta cho rằng, IL-1β có thể gây sốt và sản xuất CRP vì

sự xâm nhập các tế bào viêm vào mô ruột là đặc tính của viêm ruột, hơn

nữa sự xâm nhiễm của BCĐNTT và sự bài tiết của các loại oxy phản ứng

gây độc trong niêm mạc đại tràng có liên quan đến tổn thương mô.

Chúng tôi ghi nhận hầu hết các bệnh nhân có tăng các phần

protein sau khi điện di bằng phương pháp miễn dịch cố định. Trong

đó, α1, α2 và đặc biệt là γ chiếm tỷ lệ lần lượt là 82,1%, 88,5% và

89,7% (biểu đồ 3.6). Lý giải cho kết quả này là do niêm mạc đại

tràng viêm và các yêu tố gây viêm tác đợng lên hệ thống miễn dịch

tồn thân của cơ thể là tăng cường sản xuất các phần protein và các

phần protein đi vào hệ tuần hoàn.



22



100% bệnh nhân có mất cấu trúc mạch máu dưới niêm mạc và

niêm mạc phù nề xung huyết. Loét nông và giả mạc gặp ơ hầu hết

các trường hợp chiếm tỷ lệ cao 97,4%. Giả polyp gặp 38,5%

(bảng 3.6).

Hình ảnh tổn thương mô bệnh học là một trong những tiêu chuẩn

bắt ḅc để chẩn đốn xác định bệnh VLĐTTCM. Kết quả của chúng

tôi cho thấy đa số bệnh nhân bị Thay đổi về cấu trúc: cấu trúc không

đều chia nhánh các khe tuyến lan tỏa (89,7%), giảm số lượng các khe

tuyến/teo (96,2%). Viêm mạn: xâm nhập bạch cầu lympho và tương

bào vùng đáy niêm mạc (96,2%), không thấy u hạt. Bạch cầu đa nhân

xâm nhập nhiều ơ mô đệm niêm mạc và khe tuyến (93,3% và

54,7%), áp xe khe tuyến (20,0%) (bảng 3.9). Tỷ lệ này tương đương

với các nghiên cứu ơ trong nước.

Có rất nhiều tiêu chuẩn để phân loại mức độ bệnh VLĐTTCM và

mỗi một tiêu chuẩn đều có ưu việt riêng. Điều quan trọng chúng ta

nên lựa chọn tiêu chuẩn nào phù hợp với đặc điểm bệnh trên đối

tượng chúng ta nghiên cứu, dễ ứng dụng trong thực hành lâm sàng.

Chúng tôi phân loại mức độ nặng của bệnh dựa vào tiêu chuẩn

Surtheland. Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ mức độ nhẹ vừa và nặng lần lượt

là 25,6% - 41,0% và 32,3% (bảng 3.8).

Trong nghiên cứu của chúng tôi nồng độ TNF- được định lượng

ơ 78 bệnh nhân. Tại thời điểm giai đoạn cấp, lúc bệnh nhân nhập viện

nồng độ TNF- trung vị là 3,06(0,07-40,07), nồng độ này cao hơn so

với nhóm chứng 1,14(0,07-5,90) với P<0,001, IL-1β có sự gia tăng ơ

nhóm bệnh so với nhóm chứng với P=0,01, nồng độ IL-6 và IL-8 cao



23



hơn so với nhóm chứng với p=0,001. Nồng độ IL-10 không có sự

khác biệt với nhóm chứng (bảng 3.12).

4.2. Liên quan giữa nồng độ TNF-α, IL-1β, IL-6, IL-8, IL-10 huyết

thanh với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ nặng ở

bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.

4.2.1 Bàn luận về mối liên quan với đặc điểm lâm sàng

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan

giữa IL-1β và IL-6 với triệu chứng sốt, liên quan giữa IL- 8 với đau

bụng (bảng 3.16). Lý giải cho điều này, chúng tôi cho rằng IL-6

khuếch đại phản ứng viêm và nồng độ IL-6 càng tăng thì phản ứng

viêm càng mạnh,... IL-6 là yếu tố có khả năng kích hoạt mạnh, gây

viêm điển hình và thúc đẩy quá trình viêm làm gia tăng mức độ nặng

của chảy máu. IL-1β và IL-6 tham gia vào đáp ứng miễn dịch tại gan,

được bạch cầu đơn nhân và đại thực bào bài tiết khi có tác động của

chất sinh nhiệt ngoại sinh (pyrogens), IL-1β và IL-6 sau khi được

sinh ra được máu đưa khu diều hòa thân nhiệt ơ vùng dưới đồi thị rồi

gắn vào các noron cảm nhận nhiệt độ trước thị giác của đồi thị và

“đặt lại chuẩn” của trung tâm điều hòa thân nhiệt lên ức cao hơn.

Ngoài ra IL-1β còn kích thích tổng hợp Prostaglandin E1 (PGE1) gây

hoạt hóa quá trình sinh nhiệt huy động các bạch cầu từ kho dự trữ

trong tủy xương, gây hoạt hóa ứng động bạch cầu tới các nơi vi

khuẩn xâm nhập làm tăng giải phóng enzim, tăng hoạt tính thực bào

của bạch cầu.

Chúng tôi ghi nhận có mối liên quan giữa nồng độ IL-8 với triệu

chứng đau bụng. Các nghiên cứu về cytokine đã chỉ rõ IL-8 là

cytokin hoạt động rất mạnh, khuếch đại phản ứng viêm tại niêm mạc



24



đại tràng. Chúng tôi cho rằng: khi tổn thương viêm đại tràng càng

mạnh sẽ dẫn đến co thắt đại tràng gây nên triệu chứng đau bụng.

4.2.2 Bàn luận về mối liên quan với đặc điểm cận lâm sàng

- Trong giai đoạn cấp tính của VLĐTTCM, CRP được bài tiết từ

gan để đáp ứng với các cytokin, và xét nghiệm đo nồng độ các

cytokin trong huyết thanh là một phương tiện có giá trị để đánh giá

bệnh viêm ruột. CRP là một thành phần nổi bật tham gia vào đáp ứng

giai đoạn cấp tính trong bệnh VLĐTTCM đang hoạt động. Chúng tôi

ghi nhận có mối liên quan giữa IL-6, IL-10 với máu lắng và CRP, giữa

IL-8 với máu lắng (bảng 3.18). Điều này, chứng minh rằng sự bài tiết IL6 từ bạch cầu đơn nhân, và khả năng kích thích tổng hợp CRP của tế bào

gan ơ bệnh nhân VLĐTTCM. Hơn nữa IL-6 và IL-8 là hai cytokin hoạt

động rất mạnh, làm tăng phản ứng viêm trong giai đoạn cấp.

- Có mối liên quan giữa nồng độ IL-6 và IL-10 với mức độ thiếu

máu (bảng 3.20). Một số nghiên cứu cho rằng TNF-α có thể là một

trong các cytokin gây ra hoặc hoạt hóa các cytokin khác như IL-6 và

IL-8 do tác động lên việc sinh tổng hợp các yếu tố tham gia vào việc

tạo máu như ức chế hấp thu sắt, ức chế tổng hợp erythropoietin.

4.2.3 Với mức độ nặng của bệnh

Nghiên cứu của Holtkamp và CS cho thấy có mối tương quan

giữa nồng độ IL-6 huyết thanh với mức độ hoạt động của bệnh được

phát hiện thấy ơ những bệnh nhân bị VLĐTTCM (thể hoạt động: 26

±10 pg/ml, thể không hoạt động: <10 pg/ml, p = 0,004)

Taka B và CS (2014) cho thấy IL-6 huyết thanh là một tham số

lâm sàng liên quan đến bệnh Crohn, VLĐTTCM và có tương quan

mạnh với hoạt động viêm của bệnh.

Khi đối chiếu nồng độ một số cytokin vào mức độ nặng của

bệnh, chúng tôi ghi nhận có mối liên quan giữa nồng IL-6, IL-10 với



25



mức độ nhẹ, vừa, nặng (bảng 3.21).

Chúng tôi thấy có mối tương quan nghịch yếu giữa nồng độ IL10 với Hb (r= -0,393. Khi xét về các cặp tương quan tuyến tính cho

thấy có mối tương quan thuận vừa giữa TNF-α với IL-1β, IL-8 lần

lượt (r= 0,306, p=0,006; r= 0,404, p= 0,000), mối tương quan nghịch

yếu với IL-10 (r= -0,285, p= 0,011). Có mối tương quan thuận yếu

giữa IL-6 với IL-8 (r= 0,290, p= 0,010), mối tương quan nghịch yếu

giữa IL-6 với IL-10 (r= 0,013, p=0,910).

Hiện tại chúng tôi chưa tham khảo được nghiên cứu nào đề cập

về mối tương quan này.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và nồng độ

một số cytokin ơ 78 bệnh nhân VLĐTTCM chúng tôi rút ra một số

kết luận sau:

1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng đô TNF-α, IL-1β,

IL-6, IL-8, IL-10 ở bệnh nhân VLĐTTCM.

* Tuổi và giới

- Tuổi trung bình 45,3 ±13,6, lứa tuổi thường gặp từ 30 - 59 tuổi.

- Nam chiếm tỷ lệ 44,9%, nữ chiếm tỷ lệ 55,1%.

* Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

- Triệu chứng lâm sàng thường gặp: phân máu chiếm 100%, rối

loạn phân chiếm 79,5%.

- Thiếu máu mức độ nhẹ (51,3%), vừa (20,5,3%) và nặng (28,2%).

- Nồng độ IgE chiếm tỷ lệ 70,5%, nồng độ γ chiếm tỷ lệ 89,7%.

- Chỉ số kali huyết ≤ 2,5 mmol/l chiếm 2,6%, albumin < 30g/l

chiếm 6,4%.

- Thể tổn thương trực tràng chiếm tỷ lệ 52,6%, đại tràng trái

33,3%, tồn bợ 14,1%.



26

- Mức đợ tổn thương viêm loét đại trực tràng chảy máu thể nhẹ

chiếm tỷ lệ 25,6%, vừa chiếm 41,0%, nặng chiếm 33,3%.

- Hình ảnh nội soi: mất cấu trúc mạch máu dưới niêm mạc và

niêm mạc phù nề xung huyết chiếm 100%, loét nông và có giả mạc

97,4%, giả polyp 38,5%.

- Kết quả mô bệnh học có cấu trúc không đều chia nhánh khe

tuyến lan tỏa chiếm 89,7%, giảm số lượng khe tuyến/teo chiếm

96,2%, bạch cầu đa nhân xâm nhập nhiều mô đệm niêm mạc chiếm

93,3%, thay đổi biểu mô và mất chất mucin chiếm 93,3% và 96,2%.

* Nồng đô TNF-α, IL-1β, IL-6, IL-8, IL-10

- Nồng độ TNF-α trong huyết thanh của nhóm bệnh

3,06(0,07- 17,46) cao hơn so với nhóm chứng 1,14(0,07 - 5,9), với

p< 0,001.

- Nồng độ IL-1β trong huyết thanh của nhóm bệnh 0,37(0,034,77) cao hơn so với nhóm chứng 0,03(0,03 - 0,37), với p< 0,01.

- Nồng độ IL-6 trong huyết thanh của nhóm bệnh 3,85(0,15 132,01) cao hơn so với nhóm chứng 1,59(1,15 - 5,08), với p< 0,001.

- Nồng độ IL-8 trong huyết thanh của nhóm bệnh 17,41(3,5 185,18) cao hơn so với nhóm chứng 6,33(2,97 - 13,58), với p< 0,001.

- Nồng độ IL-10 trong huyết thanh của nhóm bệnh 0,27(0,06

- 98,66) không có sự khác biệt với nhóm chứng 0,27(0,06 - 0,27), với

p > 0,05.

2. Mối liên quan giữa nồng đô TNF-α, IL-1β, IL-6, IL-8, IL-10

với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức đô nặng ở bệnh

nhân VLĐTTCM.

- Có mối liên quan giữa nồng độ IL-1β và IL-6 liên quan với

triệu chứng sốt, IL-8 liên quan với triệu chứng đau bụng, p < 0,05.

- Có mối liên quan giữa nồng độ IL-6 với CRP và máu lắng, p

<0,001.

- Có mối liên quan giữa nồng độ IL-10 với CRP và máu lắng

lần lượt p < 0,05 và p < 0,005.

- Có mối liên quan giữa nồng độ IL-6 và IL-10 với giai đoạn

tổn thương trên nội soi, lần lượt p < 0,05 và p < 0,01.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nồng độ TNF-α có mối tương quan thuận vừa với IL-1β và IL-8 (r=0,306 và r=0,404); TNF-α ó mối tương quan nghịch yếu với IL-10 (r= -0,285). Nồng độ IL-6 có mối tương quan thuận yếu với IL-8 (r= 0,290); IL-6 có mối tương quan nghịch

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×