Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Như vậy khe hở dẫn đến sự bám tận không bình thường của cơ vòng môi lần lượt vào gai mũi trước và chân cánh mũi. Sự bám lạc chỗ của cơ vòng môi và cơ ngang mũi, dần dần theo thời gian phát triển kéo các bờ khe hở vồng lên như mặt kính đồng hồ.

Như vậy khe hở dẫn đến sự bám tận không bình thường của cơ vòng môi lần lượt vào gai mũi trước và chân cánh mũi. Sự bám lạc chỗ của cơ vòng môi và cơ ngang mũi, dần dần theo thời gian phát triển kéo các bờ khe hở vồng lên như mặt kính đồng hồ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



và cơ ngang mũi, dần dần theo thời gian phát triển kéo các bờ khe hở vồng lên

như mặt kính đồng hồ.

1.2.2. Phân loại khe hở môi một bên [3], [10], [11], [14]

KHM một bên thường thấy ở vị trí môi tương ứng với khe giữa răng

cửa và răng nanh. Tổn thương chạy theo hướng thẳng đứng, vng góc với

làn mơi đỏ và cung răng. Có nhiều cách phân loại khe hở môi một bên, nhưng

trên lâm sàng, theo mức độ, thường chia làm 3 loại:

- Khe hở môi màng: thể hiện bằng một rãnh hay một đường sẹo nằm trên

môi và chạy song song với gờ nhân trung tới môi đỏ. Đôi khi chỉ là một rãnh

khuyết nằm ở vùng mơi đỏ. Tồn bộ mơi hai bên vẫn dính với nhau qua một

cầu mơ (dải Simonat) có kèm theo nền lỗ mũi giãn rộng nhẹ



Hình 1.6: KHM màng

- Khe hở mơi khơng tồn bộ: có nhiều mức độ khác nhau từ bé đến lớn,

nhưng khe hở không lan đến nền lỗ mũi. Một số trường hợp khe hở khơng

tồn bộ rất nhẹ, tổn thương môi chỉ biểu hiện là một khía chữ V ở viền mơi

đỏ. Dải Simonat >1/3 chiều dài mơi trên.

- Khe hở mơi tồn bộ: Khe hở tách tơi tồn bộ mơi trên, khe hở lan

đến nền lỗ mũi, tiền đình và cung răng hàm trên. Dải Simonat < 1/3 chiều

dài mơi trên.



15



Hình 1.7: Hình ảnh KHM một bên khơng tồn bộ và KHM một bên tồn bộ

1.3. Các phương pháp tạo hình KHM

1.3.1. Lịch sử các phương pháp tạo hình mơi [3], [13], [15], [16], [17], [18].

* Ở nước ngoài

Trải qua nhiều thế kỷ lịch sử phẫu thuật tạo hình KHM- VM bẩm sinh

đã phát triển và không ngừng cải tiến với nhiều phương pháp khác nhau [16].



Hình 1.8: Các phương pháp tạo hình KHM theo tiến trình lịch sử [16]

Những tài liệu cổ nhất trong y văn tìm thấy được về tạo hình KHM là ở

thời kỳ 25 năm TCN, ở La Mã Trung Quốc. Lúc đầu người ta dùng kim ba

cạnh để rạch mép khe hở hoặc dùng que sắt nung nóng hay hóa chất để đốt



16



cháy 2 bờ mép, sau đó dùng kim loại hoặc băng dính, để dính 2 mép lại với

nhau. Dần dần về sau người ta dùng dao để rạch, biết tách rời niêm mạc môi

khỏi xương để dễ di chuyển và khâu bằng chỉ có bơi sáp…

- Thế kỷ XIV Embroise Paré (1584) (là phẫu thuật viên người Pháp) tạo

hình KHM bằng phương pháp dùng kim xuyên qua 2 bờ khe hở môi rồi dùng

chỉ cuốn quanh sợi kim để cố định KHM [16].



Hình 1.9: Phương pháp tạo hình KHM của Embroiser Pare (1584)

- Thế kỷ XIX và XX Rose (1891) và Thompson (1912): Phẫu thuật tạo

hình KHM bằng các đường rạch thẳng và bắt đầu có những cải tiến là tăng

chiều cao môi bằng các đường rạch gấp khúc.



Hình 1.10: Tạo hình KHM bằng đường rạch thẳng hay gấp khúc

- Cũng thế kỷ XIX Giraldes (1866): PT KHM bằng sử dụng tạo hình

chữ Z. Với kỹ thuật tạo hình chữ Z vừa tăng được chiều cao mơi, vừa chỉnh

được trục của trụ mũi



17



Hình 1.11: Tạo hình KHM bằng tạo hình chữ Z

- Đến Thế kỷ XX Blair (1930), Brown (1945): các tác giả bắt đầu muốn

tạo ra đường sẹo tự nhiên hơn. Sử dụng các đường rạch cong hay vạt tam giác

phía dưới để tăng chiều cao môi. Như vậy tăng chiều cao không chỉ ở phần da

mà cả phần môi đỏ. Nhưng sẹo vẫn là đường thẳng



Hình 1.12: Tạo hình KHM bằng tạo hình chữ Z cả môi đỏ



- 1949 Le Mesurier đã sử dụng phương pháp tạo hình KHM bằng vạt tứ giác



18



Hình 1.13: Tạo hình KHM bằng vạt tứ giác

Phương pháp này giúp tăng chiều cao nhiều nhất, nhưng có nhược điểm

là sẹo nằm ở giữa nhân trung, đường sẹo không tự nhiên.

- (1952) Tennisson đưa ra phương pháp tạo hình mơi bằng vạt tam giác



Hình 1.14: Tạo hình KHM bằng vạt tam giác

- 1959 Randall đã đưa ra phương pháp về cơ bản giống phương pháp vạt

tam giác của Tennision nhưng ông đã dùng cơng thức hình học giúp tính tốn

đo đạc một cách chính xác hơn.

- Năm 1957 Millard đã giới thiệu phương pháp dùng vạt xoay đẩy của mình.



Hình 1.15: Tạo hình KHM bằng vạt xoay - đẩy (Phương pháp Millard) [9]



19



- Năm 1964 Millard đã đề nghị cải tiến bổ sung cho phương pháp của

mình bằng việc them đường rạch “back- cut” ở chân vách mũi với mục đích

hạ thấp thêm đỉnh cung cupidon bên môi bệnh và khâu kéo dài vách mũi.

- Năm 1968 cũng chính tác giả đề nghị cải tiến lần 3 với việc tạo vạt

tam giác nhỏ ở viền da làn mơi đỏ nhằm mục đích tăng chiều dài và cắt ngang

hướng co của sẹo.

Ngày nay đa số các phẫu thuật viên sử dụng kỹ thuật Millard cải tiến để

phẫu thuật cho bệnh nhân KHM.

* Tại Việt Nam [13], [15],[17], [19], [20]

Phẫu thuật KHM đã được thực hiện tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1956

ở khoa RHM bệnh viện Việt Đức và Viện Quân Y 108. Cho tới nay rất nhiều

phương pháp đã được áp dụng, nhiều bệnh viện đã tiến hành phẫu thuật.

- Võ thế Quang- Nguyễn Văn Thụ đã phẫu thuật theo phương pháp của

Veau- Rosenthal vào những năm 1956- 1958. Năm 1959 mổ ca đầu tiên theo

phương pháp của Tenison, năm 1960 mổ bệnh nhân đầu tiên theo phương

pháp Le Mesurier. Đến 1961 Võ Thế Quang là người đầu tiên dùng phương

pháp Millard để phẫu thuật cho bệnh nhân KHM.

- Năm 1962 Nguyễn Khác Giảng và Nguyễn Văn Thụ đã cải tiến đường

rạch và tạo khe chêm cho phương pháp Le Mesurier

- Năm 1981, Mai Đình Hưng áp dụng các phương pháp Trauner,

Asenssion có cải biên để mổ cho những trường hợp KHM một bên rộng.

- Năm 1994 tác gải Nguyễn Viết Sơn áp dụng phương pháp Millard

trong phẫu thuật KHM một bên toàn bộ.

- Năm 1995 tác gải Phạm Như Hoa ứng dụng phương pháp Millard cải

tiến trong phẫu thuật KHM một bên.

- Năm 2009 tác giả Nguyễn Văn Minh ứng dụng tạo hình chữ Z ở trên

đường viền da - môi đỏ trong phương pháp Millard mổ KHM 1 bên tồn bộ.



20



- Năm 2013, tác giả Trần Phương Bình ứng dụng phương pháp Millard

cải tiến trong KHM một bên toàn bộ.

- Năm 2015, Khoa Tạo hình sọ mặt bệnh viện Nhi trung ương Sử dụng

các kỹ thuật Millard, Onizuka và Tenisson và kỹ thuật Zplasty, ghép sụn trong

phẫu thuật tạo hình khe hở mơi và biến dạng mũi.

Cho đến nay phương pháp thông dụng nhất là Millard và Tennision.

1.3.2. Các phương pháp tạo hình KHM một bên hay sử dụng hiện nay [3],

[9], [10], [11], [14]

+ Mục tiêu của phẫu thuật tạo hình KHM, Theo Millard [3], [10], [21]:

- Kết nối hai bên khe hở mà không mất các mốc tự nhiên bao gồm phần

còn lại của cung Cupid hoặc hõm nhân trung. Loại bỏ ít tổ chức nhất có thể.

- Tạo sự liên tục và cân đối của cung Cupid.

- Sẹo nằm ở đường tự nhiên.

- Các cơ được nối với nhau tồn bộ chiều dày

- Tạo hình mơi đỏ với chiều dầy đồng đều.

- Cánh mũi cân đối và trụ mũi cân bằng hai bên.

+ Kỹ thuật tạo hình KHM.

KHM phải được tạo hình theo 3 lớp: Da, cơ, niêm mạc. Có nhiều

phương pháp để đóng KHM, các phương pháp này về cơ bản là khác nhau về

cách đóng da và mức độ can thiệp vào cơ.

* Phương pháp tạo hình cho da:

Tạo hình da KHM về cơ bản có thê phân thành 2 nhóm phẫu thuật là

đường thẳng và chữ Z;

+ Kỹ thuật đường thẳng: Rose- Thompson, Mirault-Blair-Brown-McDowell

+ Tạo hình chữ Z ở nửa trên mơi: Millard, Wynn

+ Tạo hình chữ Z ở nửa dưới mơi: Tennison- Randall, Le Mesurier

+ Tạo hình chữ Z ở tồn bộ mơi: Skoog, Trauner



21



 Tạo hình KHM một bên bằng phương pháp đường rạch thẳng (kỹ

thuật Rose Thompson).

Đây là kỹ thuật rạch da dọc hai bên bờ khe hở và khâu trực tiếp hai bờ

khe hở vào với nhau. Phương pháp này dễ thực hiện và tạo ra một đường sẹo

thẳng chạy theo nếp gờ nhân trung



Hình 1.16: Kỹ thuật đường thẳng Rose- Thompson

+ Kỹ thuật Rose Thompson được sử dụng cho các trường hợp có khe hở

nhỏ, (khơng điển hình).

+ Ưu điểm: kỹ thuật dễ thực hiện với hình học đơn giản. Kỹ thuật này

bao gồm cắt góc mép khe hở với đóng thì một khơng sử dụng bất cứ vạt nào.

+ Nhược điểm: sẹo thẳng co rút, dễ kéo hếch làn môi đỏ và ngắn chiều

cao da môi, mất đường viền trên của môi, độ nhô của môi đỏ khơng cân đối

và khơng có sự phục hồi của cơ vòng mơi nằm phía dưới.

 Tạo hình KHM một bên bằng phương pháp vạt hình tứ giác (pp Le

Mesurier)



Hình 1.17: Kỹ thuật tạo hình KHM bằng vạt tứ giác.



22



Le Mesurie năm 1949 đã sử dụng vạt da và niêm mạc hình tứ giác ở bên

khe hở chèn vào bên lành.

- Phương pháp này hiện nay khơng còn sử dụng do có hai nhược điểm là

đường sẹo khơng tự nhiên ngay giữa nhân trung và cắt đi nhiều tổ chức phần

ngoài môi dễ gây lệch và thiếu chiều dài môi.

 Tạo hình KHM một bên bằng phương pháp vạt chèn tam giác (Kỹ

thuật Tennision- Randall)



Hình 1.18: Kỹ thuật Tennision - Randall

Tennision sử dụng một vạt tam giác nhỏ ở bờ ngoài khe hở sát viền

cung cupidon dịch chuyển và chèn vào khuyết tam giác ở bờ trong khe hở

cũng sát cung cupidon. Năm 1959 Randall trên cơ sở của phương pháp này

đã đưa tốn học vào để tính tốn các vạt khi phẫu thuật nên người ta gọi

phương pháp này là Tennision - Randall.

+ Ưu điểm: phương pháp này cần đo đạc chĩnh xác trước phẫu thuật do

đó phẫu thuật khá thuận lợi theo thiết kế đã có sẵn, kéo dài chiều cao môi từ

cung cupidon đến nền mũi khá hiệu quả. Tạo hình chữ Z tạo được viền trên

mơi đỏ khá tự nhiên.

+ Nhược điểm: Tạo ra một vết sẹo khá ngoằn ngoèo ở phần dễ nhận thấy

nhất của môi, sẹo đi qua phần dưới của nhân trung và làm dẹt 1/3 dưới của

nhân trung. Đôi khi tăng quá mức chiều cao bên khe hở nếu tính tốn khơng



23



chính xác, khó điều chỉnh chiều cao mơi trong khe hở nếu cần. Tạo hình mũi

khơng được tính đến trong lần phẫu thuật môi.

Phương pháp của Tennision cũng được ứng dụng và cải tiến bởi Trauner

R (1967) và Skoog T. (1969). Song R.Y và CS (1998) trên cơ sở vạt tam giác

của Tennision đã sử dụng cạnh ngoài chân vách ngăn để làm vạt tạo hình kéo

dài bờ nhân trung.

Trần Văn Trường (1974-1976) Khi tạo hình KHM một bên theo phương

pháp Tennision nhận thấy ở những KHM rộng, đặc biệt ở KHM có kèm

KHVM thì khả năng thu gọn chân cánh mũi bị hạn chế và cánh mũi khơng

được cuộn tròn đều. Để khắc phục nhược điểm này tác giả đã đề nghị sử dụng

them một vạt da trước trong chân cánh mũi ngồi KH chêm vào phía trong

dưới trụ mũi.

- Tạo hình KHM một bên bằng vạt xoay đẩy theo Millard D.R 1957



Hình 1.19: Kỹ thuật Millard

+ Kỹ thuật xoay - đẩy Millard khá phổ biến, được nhiều tác giả trên thế

giới sử dụng.

+ Kỹ thuật này sử dụng 3 vạt: Vạt xoay dưới R của thành phẩn môi giữa,

vạt đẩy giữa A của thành phần mơi ngồi và vạt gốc chân trụ mũi C cũng phát

sinh từ thành phần giữa của môi. Vạt C được sử dụng để tái tạo nền lỗ mũi

hoặc có thể sử dụng để tăng chiều cao trụ mũi. Các vết sẹo nằm trong khuôn



24



khổ của gở nhân trung và được giấu kỹ ngoại trừ phần trên. Chiều cao của gờ

nhân trung mới bên khe hở được điều chỉnh bởi chiều dài của vạt R, và cân

đối với chiều dài của gờ nhân trung bên lành.

+ Ưu điểm của phương pháp: trả lại mô về vị trí giải phẫu bình thường,

tạo nên đường viền mơi trên cân đối, tạo sẹo dọc theo trục nhân trung, giữ

được hõm nhân trung. Đường rạch da có thể được điều chỉnh trong khi phẫu

thuật, vì vậy chiều cao mơi có thể được thay đổi.

+ Nhược điểm: Kỹ thuật này khó, để lại sẹo ở gốc mũi. Có thể bị sẹo

thẳng gây co kéo với vết lõm hình chữ V trên mơi đỏ. Lỗ mũi có thể bị thu

nhỏ q mức do co kéo sẹo ngang qua lỗ mũi bên khe hở. Nếu khơng kết hợp

tạo hình cơ thì sẽ để lại những di chứng khó khắc phục như xẹp cánh mũi,

lõm nền mũi.

* Tạo hình cho cơ:

- Dù kỹ thuật tạo hình da được áp dụng theo phương pháp nào thì về

ngun tắc phục hồi lại vị trí giải phẫu của cơ ở môi là yếu tố quyết định đến

kết quả xa của phẫu thuật. Bước này đặc biệt quan trọng trong tạo hình KHM

tồn bộ.

+ Phục hồi lại đầu bám tận của cơ ngang mũi: Do cơ ngang mũi bên KH

bám lạc chỗ vào chân cánh mũi nên cần giải phóng đầu cơ, khâu đầu cơ này

vào gai mũi trước trên của xương hàm trên.

+ Phục hồi sự liên tục của cơ vòng mơi: Do cơ vòng mơi gồm hai bó

chéo và bó ngang nên khi phục hồi cơ này cần tính đến vị trí giải phẫu của

từng bó. Sau khi tách khỏi nơi bám tận lạc chỗ ở chân cánh mũi, bó cơ chéo

phải được khâu đính vào gai mũi trước, bó ngang cần đươc khâu vào đầu bó

ngang ở bên đối diện.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Như vậy khe hở dẫn đến sự bám tận không bình thường của cơ vòng môi lần lượt vào gai mũi trước và chân cánh mũi. Sự bám lạc chỗ của cơ vòng môi và cơ ngang mũi, dần dần theo thời gian phát triển kéo các bờ khe hở vồng lên như mặt kính đồng hồ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×