Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Là chỉ định điều trị hỗ trợ, được áp dụng khá rộng rãi sau phẫu thuật đặc biệt các trường hợp: phẫu thuật nghi ngờ tiếp cận u, u ở thuỳ sâu, xâm nhiễm ra ngoài, hoặc thể giải phẫu bệnh loại ít thuận lợi (ung thư ít biệt hoá), có di căn hạch, xâm nhiễm vào

Là chỉ định điều trị hỗ trợ, được áp dụng khá rộng rãi sau phẫu thuật đặc biệt các trường hợp: phẫu thuật nghi ngờ tiếp cận u, u ở thuỳ sâu, xâm nhiễm ra ngoài, hoặc thể giải phẫu bệnh loại ít thuận lợi (ung thư ít biệt hoá), có di căn hạch, xâm nhiễm vào

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



Biến chứng của xạ trị:

– Biến chứng khơ miệng có thể tránh được bằng cách che chắn mô tuyến

nước bọt đối bên. Có thể xuất hiện cứng và khít hàm do xơ hóa cơ cắn, các cơ

bướm và khớp thái dương hàm.

– Viêm tai giữa có thể xuất hiện nếu có chiếu xạ vào tai. Hoại tử xương

hàm ít gặp, chỉ xảy ra khi xạ trị liều cao.

- Ngoài ra có thể gặp một số biến chứng khác như: hoại tử thùy thái

dương (biểu hiện động kinh) hoặc ung thư thứ phát sau xạ (ví dụ như ung thư

giáp)...

1.5.3. Hóa trị

Hóa trị khơng có vai trò trong điều trị khỏi ung thư tuyến nước bọt. Liệu

pháp hóa xạ trị đồng thời được xây dựng dựa trên kinh nghiệm với những

bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy của đường hơ hấp và tiêu hóa trên, đơi

khi được áp dụng trong trường hợp không thể phẫu thuật. Tuy vậy, hiệu quả

của phương pháp này chưa được cơng nhận, vẫn còn ít dữ liệu được cơng bố.

Hóa chất tồn thân được dùng để điều trị ung thư tuyến nước bọt giai

đoạn muộn đã có di căn, ung thư giai đoạn muộn tại chỗ và khơng thể cắt bỏ.

Việc sử dụng hóa chất để điều trị bổ sung sau khi cắt u tuyến nước bọt chỉ

được dùng trong một phần thử nghiệm lâm sàng.

Ung thư tuyến nước bọt thường nhạy cảm với hóa chất, nhưng thời gian tác

dụng thường ngắn. Phác đồ điều trị được sử dụng nhiều nhất là cyclophosphamid,

doxorubicin và cisplatin (CAP). Các nghiên cứu đã công bố cho thấy tỷ lệ đáp

ứng trung bình 40-50% với thời gian đáp ứng 3-7 tháng.

Điều này gợi ý là chỉ nên chỉ định điều trị hóa chất cho các khối u nang

dạng tuyến giai đoạn muộn tại chỗ hoặc đã di căn khi có triệu chứng.

1.6. Một số nghiên cứu của Việt Nam và thế giới



30



1.6.1. Lịch sử và các nghiên cứu trên thế giới

Sự hiểu biết về nguồn gốc, phân loại mô bệnh học, tiến triển, biểu hiện

của u tuyến nước bọt lúc đầu còn rất hạn chế.

Từ thời hypocrate (năm 460 trước công nguyên), bệnh lý u tuyến nước bọt

đã được biết đến tuy còn nhiều hạn chế. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến

tuyến mang tai và chia thành hai loại, bệnh lý viêm mủ và bệnh lý u tuyến. Cho

tới năm 1640 sau công nguyên, Riolay mới mô tả cấu trúc tuyến [2],[18].

Nguồn gốc, phân loại mô học, tiến triển, biểu hiện của u tuyến nước bọt

lúc đầu chưa được hiểu biết nhiều. Năm 1954, Fotle và Frazell sau khi so sánh

bản chất mô học của u và đặc tính sinh học của nó đã đưa ra cách phân loại u.

Năm 1971, Eneroth đề nghị việc phân loại dựa trên nghiên cứu mô bệnh học

[19], [21].

Năm 1991, Tổ chức y tế thế giới đưa ra bảng phân loại về u tuyến nước

bọt và được bổ sung vào năm 1992 để sử dụng thống nhất cho chẩn đốn mơ

bệnh học [14].

Phẫu thuật u tuyến nước bọt đặc biệt là u tuyến mang tai được bắt đầu

từ giữa thế kỷ 17. Năm 1765, Heister, đã mô tả phương pháp lấy bỏ nhân khối

u. Pierre Pural năm 1908 lần đầu tiên mô tả phương pháp bảo tồn dây VII.

Nhưng cho tới năm 1938, Redon và Padovani mới mô tả chi tiết kỹ thuật cắt

bỏ tồn bộ tuyến nước bọt có bảo tồn dây VII. Sau Redon có rất nhiều tác giả

nghiên cứu về các di chứng lâu dài của phẫu thuật cắt bỏ tuyến mang tai như

Frey, Langdon, Legent F, Vincent Loche [22],[23]

Một số nghiên cứu về u tuyến nước bọt trên thế giới:

• Guzzo M, Locati LD, Prott FJ (2010) nghiên cứu về u tuyến nước bọt chính

và tuyến nước bọt phụ cho thấy 80-85% là u tuyến mang tai, trong đó có

khoảng 25% ung thư. Ung thư tuyến mang tai được kiểm soát tốt với phẫu

thuật cho bệnh tại chỗ và điều trị xạ trị cho bệnh tái phát hoặc tiến triển tại

chỗ [24].



31



• Chang JW, Hồng HJ, Ban MJ, Shin YS, Kim WS, Koh YW, Choi EC qua

nghiên cứu 98BN UTTMT được phẫu thuật tại Đại học Yonsei từ T1/1999

đến T12/2008 thấy UT biểu mô chế nhày là loại mô học phổ biến nhất

(34,7%), tiếp theo là ung thư biểu mô tế bào acinic (27,6%). 18 bệnh nhân

(18,4%) tái phát. DFS cụ thể 5 năm và 10 năm là 93,6% và 81,8% tương ứng.

Trong phân tích đơn biến, giai đoạn T, tình trạng hạch, diện cắt, xâm lấn xung

quanh liên quan đáng kể với tỉ lệ sống thêm. Tình trạng di căn hạch là yếu tố

tiên lượng độc lập trong phân tích đa biến [25].

• Miki Matsuda, Mirokazu Sakamoto (1998) nghiên cứu về sự kết hợp giữa kĩ thuật

chụp CLVT, MRI với kĩ thuật Y học hạt nhân để chẩn đoán khối ung thư tuyến

nước bọt (PET- Positron Emession Tomographic Imaging) [26].

• Horn-Ross PL, Ljung BM, Morrow M (1997) nghiên cứu mối tương quan các

yếu tố môi trường và nguy cơ ung thư tuyến nước bọt. Trong số 199 TH được

chẩn đoán UTTMT giữa năm 1989 và 1993, điều trị xạ trị vùng cổ [tỉ suất

chênh (OR) = 2,6; khoảng tin cậy 95% (CI) = 0,84-8,1], x-quang khoang

miệng (OR = 1,6; CI 95% = 1,0-2,7), và chiếu ánh sáng cực tím vùng đầu

hoặc cổ (OR = 1,9; 95% CI = 0,89-4,3) có liên quan với tăng nguy cơ mắc

bệnh. Tiếp xúc với các bức xạ / vật liệu phóng xạ (OR = 2,4; CI 95% = 1,05,4) và nickel hợp chất / hợp kim (OR = 6,0; 95% CI = 1,6-22,0), cũng như

việc làm trong ngành công nghiệp cao su (OR = 7.0, 95% CI = 0,80-60,3) làm

nguy cơ gia tăng. Ở nam giới, hút thuốc (OR = 2,1; 95% CI = 0,98-4,7) và

uống rượu nặng (OR = 2,5; CI 95% = 1,1-5,7) có liên quan với nguy cơ,

nhưng những yếu tố này không liên quan chặt chẽ đến nguy cơ mắc UT tuyến

nước bọt ở phụ nữ [27].





Mehnet Koyuncu và cộng sự (2003) nghiên cứu về vai trò của CLVT và MRI

trong chẩn đốn u tuyến nước bọt mang tai [28].

1.6.2. Các nghiên cứu về u tuyến nước bọt ở Việt Nam

Ở trong nước, các nghiên cứu u tuyến nước bọt tập trung chủ yếu vào hai

lĩnh vực là chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u tuyến mang tai. Về điều trị phẫu

thuật, đa số các đề tài nghiên cứu có tổng kết phương thức phẫu thuật và kết



32



quả điều trị phẫu thuật nhưng tập trung chủ yếu vào u tuyến đa hình và chưa

có tổng kết trong thời gian dài.





Nguyễn Minh Phương (2000) nghiên cứu chụp tuyến có thuốc cản quang đối

chiếu giải phẫu bệnh trong chẩn đốn và điều trị u TNBMT có mức độ phù







hợp cao với UT là 91,67% [29].

Lê Văn Sơn và cộng sự (2000) sau nhiều năm triển khai, tác giả đề nghị cắt bỏ

toàn bộ u kèm theo từng phần hoặc tồn bộ tuyến có bảo tồn thần kinh VII







trong phẫu thuật u tuyến mang tai [30].

Nguyễn Minh Phương, Hàn Thị Vân Thanh (2001), Phạm Hoàng Tuấn (2007)

cũng đề nghị bảo tồn dây VII trong điều trị phẫu thuật u đa hình tuyến mang

tai [29],[30],[31].

Hàn Thị Vân Thanh (2001) qua nghiên cứu 150 BN u tuyến nước bọt (44

BN ung thư) tại BV K từ 1996 – 2001 thấy tuổi mắc trung bình 43,5, nam/ nữ

là 1,5/1. UTBM tuyến hay gặp nhất chiếm 29,5%. OS sau 2 năm là 70,8% và

sau 5 năm là 40%.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân u tuyến nước bọt mang tai có chẩn đốn mơ bệnh học sau mổ

là u biểu mô nguyên phát được điều trị tại bệnh viện K từ năm 2015 – 2018.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

+ Bệnh nhân được chẩn đoán u tuyến nước bọt mang tai

+ Có chẩn đốn mơ bệnh học sau mổ là u biểu mơ lành tính và ác tính

nguyên phát của tuyến mang tai.

+ Bệnh nhân được điều trị tại lần đầu tại bệnh viện K.

+ Có đủ hồ sơ lưu trữ.



33



+ Có thơng tin sau điều trị.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

+ Hồ sơ nghiên cứu không đầy đủ

+ Bệnh nhân đã được điều trị trước đó.

+ Các trường hợp mô bệnh học thuộc loại ung thư di căn từ nơi khác tới

tuyến mang tai, viêm tuyến nước bọt mang tai cấp tính và mạn tính.

+ Các bệnh khối u vùng tuyến mang tai như u máu, u bạch mạch từ

ngoài lan vào tuyến mang tai đã được chẩn đoán rõ trên lâm sàng, u bã đậu, u

cơ cắn, u cành lên xương hàm dưới, u thần kinh, u ống tai ngoài hoặc tai giữa

2.1.3. Thời gian và địa điểm

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2019 tại khoa

Phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện K.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hồi cứu.

2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích .

2.3. Các bước tiến hành

2.3.1. Thu thập các thông tin qua bệnh án mẫu, lấy thông tin sau điều trị

qua gọi điện và viết thư thăm hỏi

2.3.2. Các bước

A. Nghiên cứu lâm sàng:

- Các đặc điểm chung:

+ Tuổi, giới: chúng tơi chia thành các nhóm tuổi ≤ 20, 21-40, 41-60, > 60.

+ Thời gian diễn biến: < 3 tháng, 3 - 12 tháng, > 12 tháng.

+ Tiền sử viêm nhiễm tuyến nước bọt, dùng thuốc nội tiết, chiếu xạ

vùng cổ, có thân nhân trong gia đình bị u tuyến nước bọt...



34



- Đặc điểm lâm sàng:

+ Đặc điểm khối u:

o

o

o

o

o

o

o



Vị trí: phải, trái.

Số lượng: một hay nhiều u.

kích thước: < 2cm, 2 - 4cm, > 4cm

Mật độ: mềm, chắc, cứng.

Di động: di động, ít di động hay không di động.

Ranh giới: rõ, không rõ.

Da trên u: thâm nhiễm, bình thường.



+ Các triệu chứng lâm sàng :

o

o

o



Sưng đau

Khít hàm

Liệt mặt..



+ Hạch:

o

o

o

o



Vị trí

Kích thước

Di động

Mật độ



- Giai đoạn lâm sàng: Chia thành 4 giai đoạn I, II, III, IV theo AJCC 2010.

B. Phân loại mô bệnh học và chẩn đốn:

Chẩn đốn mơ bệnh học được xác định trên cơ sở các bệnh nhân được

xét nghiệm tại bệnh viện K theo phương pháp cố định bệnh phẩm trong

formol 10%, đúc paraffin, cắt và nhuộm theo phương pháp H.E và PAS. Đọc

kết quả dưới kính hiển vi quang học có độ phóng đại 40, 100 và 400 lần. Các

tiêu bản đã nhuộm H.E được đọc lại. Một số trường hợp còn khối nên được

cắt nhuộm lại H.E và PAS.

B. Kết quả điều trị

- Các phương pháp phẫu thuật được áp dụng trong nghiên cứu:

+ Lấy u đơn thuần

+ Lấy u kèm thùy nơng

+ Phẫu thuật cắt tồn bộ tuyến mang tai và bảo tồn dây VII

+ Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến mang tai và không bảo tồn dây VII



35



- Kết quả biến chứng của điều trị:

+ Biến chứng sớm sau phẫu thuật

o

o

o

o

o



Chảy máu

Tụ máu, nhiễm trùng

Rò nước bọt

Liệt dây VII

HC Frey



+ Biến chứng muộn sau phẫu thuật

o

o

o

o



Rò nước bọt

Sẹo mổ liền không tốt

Liệt dây VII

HC Frey



+ Đánh giá biến chứng liệt mặt

o

o



Liệt tạm thời: chúng tôi đánh giá nếu hồi phục trước 6 tháng.

Liệt vĩnh viễn: sau 6 tháng kể từ khi xuất hiện dấu hiệu liệt mặt.



- Tái phát, di căn

+ Tỉ lệ tái phát, di căn

+ Tỉ lệ tái phát theo thời gian:

o

o

o



Sau 6 tháng

Sau 12 tháng

Sau 24 tháng



- Sống thêm:

- Thời gian sống thêm toàn bộ: được tính từ ngày bắt đầu điều trị tới

ngày bệnh nhân tử vong, hoặc ngày có thơng tin cuối cùng.

- Thời gian sống thêm khơng bệnh (PFS): được tính từ ngày bắt đầu điều

trị tới ngày bệnh tiến triển.

+ Khảo sát các yếu tố liên quan đến OS và DFS (Disease Free Survival

- thời gian sống thêm không bệnh)

o

o



Giới, tuổi: chia thành 2 nhóm tuổi < 50 và ≥ 50.

Giai đoạn: chúng tơi tính từng giai đoạn và phân nhóm giai đoạn

I-II và III-IV.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Là chỉ định điều trị hỗ trợ, được áp dụng khá rộng rãi sau phẫu thuật đặc biệt các trường hợp: phẫu thuật nghi ngờ tiếp cận u, u ở thuỳ sâu, xâm nhiễm ra ngoài, hoặc thể giải phẫu bệnh loại ít thuận lợi (ung thư ít biệt hoá), có di căn hạch, xâm nhiễm vào

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×