Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) bao gồm tất cả các trường hợp chảy máu sau khi sổ thai mà lượng máu chảy ra quá mức bình thường hoặc ảnh hưởng xấu đến toàn trạng của sản phụ [9], [15].

Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) bao gồm tất cả các trường hợp chảy máu sau khi sổ thai mà lượng máu chảy ra quá mức bình thường hoặc ảnh hưởng xấu đến toàn trạng của sản phụ [9], [15].

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



Nguyên nhân chảy máu sau đẻ: thường gặp là đờ tử cung, chấn

thương đường sinh dục, bất thường về bong, sổ rau, lộn tử cung, vỡ tử cung,

các bệnh về máu [12], [14], [18].

Một số yếu tố nguy cơ gây chảy máu sau đẻ: chảy máu sau đẻ thường

xảy ra trên những sản phụ sinh con rạ, chuyển dạ quá dài, trẻ sơ sinh nặng cân,

nạo phá thai nhiều lần, sản phụ bị thiếu máu hay các bệnh lý nội khoa xuất

huyết giảm tiểu cầu, thiếu hụt các yếu tố đông máu, lạm dụng oxytocin [19],...

Chảy máu sau đẻ là một biến chứng cấp tính đứng đầu trong các tai

biến sản khoa và rất nguy hiểm nếu không được xử trí kịp thời. Chảy máu sau

đẻ là nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước đang phát triển, trong đó có

Việt Nam, nếu xử trí ban đầu kịp thời có thể tránh được những diễn biến xấu:

suy đa phủ tạng, tổn thương não, tử vong, hoặc lâu dài gây suy thượng thận.

Vì vậy dự phòng chảy máu sau đẻ vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với các

đối tượng có nguy cơ cao. Đồng thời với việc xử trí đúng đắn và kịp thời với

các trường hợp chảy máu sau đẻ để giảm số trường hợp chảy máu sau đẻ và

giảm các tai biến nặng nề do chảy máu sau đẻ gây ra.

1.2.1.1. Các phương pháp dự phòng chảy máu sau đẻ

- Tiên lượng các yếu tố chuyển dạ tốt: mổ lấy thai trong các trường hợp

thai to, rau bám thấp, chuyển dạ kéo dài, cơn co cường tính,...

- Xử trí tích cực giai đoạn III.

- Kiểm tra bánh rau kỹ, kiểm soát tử cung đúng chỉ định.

- Phát hiện các bệnh nội khoa có nguy cơ chảy máu.

- Xử dụng oxytocin đúng chỉ định an toàn [19].

1.2.1.2. Các phương pháp xử trí chảy máu sau đẻ.

Điều trị nội khoa: Phải tiến hành song song giữa xử trí nguyên nhân

và hồi sức cho sản phụ:

- Nằm đầu thấp, thở oxy, sưởi ấm.



10



- Bù lại thể tích máu đã mất, bù khối lượng tuần hoàn bằng dịch truyền

Natriclorua 0,9%, Heasteril, truyền máu, tốc độ và khối lượng dịch

truyền tùy thuộc và tình trạng bệnh.

- Sử dụng các thuốc tăng co tử cung: Oxytocin, Methyl Ergotamin,

Prostaglandin, Carbetocin.

Xử trí CMSĐ bằng các thủ thuật sản khoa:

- Khi rau chưa bong: thực hiện theo khuyến cáo của WHO về xử trí tích

cực giai đoạn 3 chuyển dạ. Tiến hành bóc rau nhân tạo và kiểm soát tử cung

sau khi đã hồi sức, giảm đau cho sản phụ, nếu rau cài răng lược hoàn toàn,

tiến hành mổ cắt tử cung ngay.

- Khi rau đã bong: Kiểm soát tử cung (lấy hết máu cục, màng rau và rau

sót cũng là để kiểm tra sự tồn vẹn của tử cung, đồng thời phối hợp với các

thuốc co bóp tử cung, chèn ép tử cung phối hợp tay ngoài thành bụng.

- Khâu cầm máu vết rách sinh dục (rách hoặc có khối máu tụ đường sinh

dục phải lấy máu tụ, khâu cầm máu vết rách cổ tử cung, thành âm đạo, cùng

đồ, tầng sinh môn).

- Phẫu thuật xử trí CMSĐ:

Điều trị bảo tồn tử cung: trong trường hợp sản phụ trẻ tuổi, còn

nguyện vọng có con, các kỹ thuật điều trị bảo tồn tử cung bao gồm:

- Thắt động mạch tử cung: thắt nhánh lên của động mạch tử cung hai bên.

- Thắt động mạch hạ vị: để bảo tồn tử cung cho sản phụ đẻ lần đầu trong

trường hợp băng huyết nặng, rau tiền đạo mà thắt động mạch tử cung khơng

có tác dụng, rau bong non thể nhẹ, thể trung bình.

- Kỹ thuật gây tắc mạch tử cung.

- Khâu mũi B- Lynh, B Lynh cải tiến.

Điều trị triệt để:

- Cắt tử cung cầm máu: áp dụng khi bệnh nhân đủ con, rau cài răng lược, rau

bong non thể nặng, vỡ tử cung, rối loạn đông máu [16], [19], [20], [21], [22], [23].



11



1.2.1.3. Rối loạn đông máu trong sản khoa.

Rối loạn đông máu đặc biệt là đông máu rải rác nội mạch (Disseminated

Intravascular Coagualation – DIC) là biến chứng nặng, thường gặp trong

sản khoa.

Theo một số nghiên cứu thì trong số các nguyên nhân gây DIC thì

sản khoa đứng hàng thứ 4 (sau nhiễm trùng, ung thư…). DIC để lại nhiều

hậu quả nặng nề cho các sản phụ và góp phần làm tăng tỉ lệ tử vong của mẹ

trong sản khoa [24], [25], [26], [27].

Các thay đổi về hệ thống đơng máu ở người có thai và sau đẻ.

Ở người có thai, hệ thống đơng máu có những biến đổi khác với người

bình thường như:

- Thay đổi nồng độ các yếu tố đông máu:

- Giảm tiểu cầu do máu bị pha lỗng (do tăng thể tích huyết tương)

- Yếu tố VII, IX đều tăng. Chỉ có yếu tố V, II không thay đổi

- Các yếu tố ức chế đông máu: kháng yếu tố III giảm nhẹ, protein C

tăng nhẹ. Còn protein S giảm nhiều bắt đầu từ q 2, tồn bộ giảm đến

50 – 60%.

- Ln có mặt q trình tạo thrombin với một nồng độ thấp và kéo dài.

- Giảm hoạt tính tiêu fibrin do tăng nồng độ các chất ức chế yếu tố hoạt hóa

plasminogen và giảm nồng độ chất hoạt hóa plasminogen tổ chức. Do đó

ở phụ nữ có thai, nguy cơ RLĐM cao hơn ở phụ nữ khơng có thai.

Trong q trình chuyển dạ xuất hiện một số yếu tố làm tăng nguy cơ

xuất hiện RLĐM sau đẻ:

- Do sốc, nhiễm trùng… hoạt hóa đơng máu theo con đường nội sinh.

- Do chảy máu quá nhiều làm mất các yếu tố đông máu và tiểu cầu.

- Do đó ở phụ nữ có thai và sau đẻ thường tăng nguy cơ RLĐM, đặc biệt

là DIC. Nhất là trong các trường hợp sau đẻ bệnh lý như nhiễm độc thai



12



nghén, đẻ thai lưu lâu ngày, rau bong non, CMSĐ số lượng nhiều … thì

nguy cơ RLĐM sau đẻ càng cao [9],[19],[25].

 Nguyên nhân gây RLĐM sau đẻ.

* Chảy máu sau đẻ:

Các trường hợp chảy máu sau đẻ nặng khơng được xử trí kịp thời sẽ

làm mất máu, mất các yếu tố đông máu trầm trọng dẫn tới RLĐM.

* Rau bong non:

Rau bong non làm cho thromboplastin trong tuần hoàn máu mẹ lắng

đọng lại trên thành mạch thành từng mảng sợi huyết, gây ra thiếu sinh sợi

huyết và chảy máu vì thiếu sinh sợi huyết. Q trình chảy máu nếu khơng

được phát hiện và xử trí kịp thời sẽ dẫn tới RLĐM trầm trọng có thể gây tử

vong cho cả mẹ và con.

* Tiền sản giật:

Rối loạn đông máu thường chỉ xảy ra ở những trường hợp nhiễm độc

thai nghén nặng có biểu hiện hội chứng HELLP. Trong tiền sản giật nặng có

hiện tượng co thắt mạch máu làm tổn hại lòng mạch gây lắng đọng tiểu cầu và

sinh sợi huyết ở nội mạc, có thể làm phát động con đường đông máu nội sinh,

nặng có thể dẫn tới DIC.

* Đơng máu rải rác trong lòng mạch (DIC).

Hội chứng đơng máu rải rác trong lòng mạch (DIC) hay đông máu tiêu

thụ là một trạng thái bệnh lý xảy ra do sự hình thành quá nhiều cục huyết khối

trong lòng mạch, kèm theo các biến đổi fibrinogen thành fibrin trong vi tuần

hồn. Trong đó, q trình quan trọng xảy ra là hình thành nhiều thrombin

làm đơng máu trong lòng mạch rải rác, gây giảm fibrinogen, giảm các yếu tố

đơng máu và tiểu cầu.

*



Ngun nhân khác: ít gặp như tắc mạch ối, nhiễm khuẩn [25].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) bao gồm tất cả các trường hợp chảy máu sau khi sổ thai mà lượng máu chảy ra quá mức bình thường hoặc ảnh hưởng xấu đến toàn trạng của sản phụ [9], [15].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×