Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các sản phụ mắc tai biến sản khoa điều trị tại bệnh viện Bạch Mai.

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các sản phụ mắc tai biến sản khoa điều trị tại bệnh viện Bạch Mai.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



Chương 1

TỔNG QUAN

1.1. Tử vong mẹ và tai biến chứng sản khoa trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.1. Tình hình tử vong mẹ và tai biến sản khoa trên thế giới

Theo số liệu thống kê về số tử vong mẹ năm 2005 của tổ chức y tế thế

giới, quĩ nhi đồng liên hợp quốc, quĩ dân số liên hợp quốc thì số tử vong bà

mẹ trên tồn thế giới là 536.000 bà mẹ. Tuy nhiên số tử vong mẹ khác nhau

giữa các châu lục và có tới 99% là những người đang sống ở các nước đang

và kém phát triển, đặc biệt là ở châu Phi (270.000 bà mẹ), nam Á (188.000 bà

mẹ). Ấn Độ là nước có số bà mẹ tử vong cao nhất (117.000 bà mẹ), tiếp theo

đó là Nigeria (59.000 bà mẹ), Cộng hòa Cơngơ (32.000 bà mẹ), Afghanistan

(26.000 bà mẹ). [1]. Tỷ lệ tử vong mẹ trên 100.000 trẻ sinh ra sống (Maternal

Mortality Rate) của thế giới là 400 và tỷ lệ này cũng có sự khác nhau giữa các

quốc gia và các châu lục trên thế giới [4], đặc biệt là tỷ lệ này có sự khác biệt

rất lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển. Theo số liệu của UNICEF

năm 2000, tỷ lệ tử vong mẹ trên 100.000 trẻ sinh ra sống của các nước công

nghiệp phát triển là 13, của các nước đang phát triển là 440 còn của các nước

kém phát triển là 890 [4]. Theo WHO trên thế giới năm 2010 có khoảng

287000 phụ nữ tử vong trong khi mang thai và sau khi sinh đẻ, và 99% các ca

tử vong này xảy ra tại các nước đang phát triển [5]. Khơng những thế, theo

ước tính cứ một bà mẹ tử vong do thai sản thì có khoảng 30 bà mẹ khác bị

đau yếu, mất sức lao động hoặc bị những tổn thương sinh lý do hậu quả của

các biến chứng thai sản [6].

Nguyên nhân tử vong mẹ có liên quan chặt chẽ với các TBSK và nguy

cơ tử vong mẹ do TBSK có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực có điều kiện

kinh tế – xã hội – y tế khác nhau.



4



Các thống kê trên thế giới cũng như tại Việt Nam đều cho thấy tử

vong mẹ phần lớn xảy ra trong tuần đầu sau khi sinh (60%), đặc biệt là 24

giờ đầu sau khi sinh [3]. Có 2 nhóm ngun nhân chính dẫn đến tử vong mẹ

là nguyên nhân sản khoa trực tiếp và các nguyên nhân gián tiếp khác trong

đó nhóm nguyên nhân sản khoa trực tiếp chiếm tới 80% số ca tử vong mẹ

trên thế giới [2], [5].

Các nguyên nhân sản khoa trực tiếp gây tử vong mẹ là các TBSK (trong

các giai đoạn mang thai, chuyển dạ đẻ và sau đẻ). Có năm nguyên nhân sản

khoa hay gặp nhất gây tử vong mẹ là: băng huyết (thường trong giai đoạn sau

đẻ), nhiễm khuẩn, sản giật, đẻ khó [2], [7], Các nguyên nhân gián tiếp gây tử

vong mẹ thường liên quan đến tình trạng bệnh tật trước khi mang thai hoặc

các bệnh tật trong khi quá trình thai nghén, thường gặp nhất là sốt rét, thiếu

máu, HIV/AIDS (virus suy giảm miễn dịch ở người/ hội chứng suy giảm

miễn dịch mắc phải), bệnh tim mạch….

Một thực tế là hầu hết các trường hợp tử vong mẹ do các nguyên nhân

sản khoa cũng như các nguyên nhân gián tiếp khác, đặc biệt là các TBSK đều

có thể phòng tránh được nếu như có biện pháp xử trí kịp thời khi có dấu hiệu

sớm cũng như có sự chăm sóc đối với người phụ nữ trong suốt quá trình mang

thai, đẻ con và thời kì hậu sản.

TBSK vẫn luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu để

giảm tỷ lệ tử vong mẹ. Trong các TBSK thì chảy máu sau đẻ (băng huyết sau

sinh) là hình thái TBSK thường gặp nhất. Theo tổ chức y tế thế giới ước tính

băng huyết sau đẻ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ và 90% các tử

vong xảy ra ở các nước đang phát triển [5]. Ở Việt Nam theo thống kê của Bộ

Y tế tỉ lệ băng huyết sau đẻ, và tử vong do băng huyết sau đẻ vẫn đứng hàng

đầu trong các tai biến sản khoa [8]. Tiền sản giật, sản giật cũng là một hình

thái TBSK ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ. Tiền sản giật



5



là bệnh nhiễm độc thai ghén thường gặp, chiếm tỷ lệ 6% - 8% số phụ nữ

mang thai và 85% trường hợp xảy ra trong thời kì mang thai đầu tiên [9],

[10]. Nhiễm khuẩn hậu sản cũng là một trong những hình thái TBSK thường

gặp, nhiễm khuẩn hậu sản có thể biểu hiện từ mức độ nhẹ là nhiễm khuẩn vết

khâu tầng sinh môn đến mức nặng là viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết gây

tử vong, một trong những nguyên nhân gây băng huyết sau đẻ muộn là do

viêm niêm mạc tử cung, viêm tử cung [11], [12]. TBSK do nạo phá thai

khơng an tồn cũng là một trong những vấn đề hàng đầu trong chăm sóc.

Tử vong mẹ liên quan đến thai nghén và sinh đẻ thường xảy ra ở các

nước đang phát triển và hầu hết các tai biến sản khoa có thể được phòng ngừa

nếu hệ thống y tế cũng như trình độ dân trí được cải thiện [6]. Thế giới đang

nỗ lực để giảm tỷ lệ tử vong mẹ cũng như tỷ lệ mắc và tử vong do các nguyên

nhân liên quan đến thai nghén và sinh đẻ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ chính là

một trong những mục tiêu của thiên niên kỷ mà nhiều quốc gia trên thế giới

đang phấn đấu đạt được trong đó có Việt Nam.

1.1.2. Tình hình tử vong mẹ và TBSK tại Việt Nam

Việt Nam là một nước đang phát triển với đặc điểm dân số trong độ tuổi

sinh đẻ cũng như tỷ lệ sinh còn cao, tuy có nhiều cố gắng nhưng tử vong mẹ

và TBSK vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm.

Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế (1990), tỷ lệ tử vong mẹ ở Việt Nam

là 200/100.000 trẻ sinh ra sống, năm 2005 tỷ lệ tử vong mẹ ở Việt Nam là

80/100.000 trẻ sinh ra sống và năm 2015 ước khoảng 65/100.000 trẻ sinh

sống, [13]. Tuy nhiên tỷ lệ này có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng có đặc

điểm kinh tế - xã hội khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu gây tử vong mẹ ở Việt

Nam cũng là do các nguyên nhân sản khoa trực tiếp.

Năm TBSK mà chương trình Làm mẹ an tồn cũng như hoạt động

chăm sóc sản khoa cho bà mẹ mà Việt Nam luôn quan tâm là: Chảy máu



6



(băng huyết) sau đẻ, nhiễm khuẩn hậu sản, tiền sản giật và sản giật, vỡ tử

cung và uốn ván rốn [14]. Ở Việt Nam có một số nghiên cứu về các tai biến

sản khoa tuy nhiên chủ yếu chỉ đi sâu về một yếu tố và thường ở cấp độ một

trung tâm sản khoa, như ở bệnh viện Phụ sản Trung Ương có nghiên cứu về

đánh giá lượng máu mất qua túi đo máu tại khoa đẻ, hoặc nghiên cứu về chảy

máu sau đẻ năm 2004 đến 2007. Các số liệu về tai biến sản khoa như số

mắc, tỉ lệ tử vong đều được cập nhật qua niên giám thống kê của bộ Y tế

hàng năm. Theo Niên giám thống kê y tế các năm cho thấy tình hình mắc và

tử vong do các TBSK Tình hình mắc năm biến chứng sản khoa tại Việt Nam

năm 2009 – 2013



Loại



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



Năm 2013



tai biến Số mắc Tử vong Số mắc Tử vong Số mắc Tử vong Số mắc Tử vong Số mắc Tử vong



Băng

huyết

Sản giật

Uốn ván

rốn

Vỡ TC



1990



65



2605



70



3590



71



4744



74



5033



89



460



6



577



14



781



15



835



16



708



18



33



27



35



24



22



11



36



16



28



15



57



3



53



2



73



2



73



9



59



7



291



3



457



8



462



8



592



9



616



12



2831



104



3727



118



4928



107



6298



124



6444



141



Nhiễm

khuẩn

hậu sản

Tổng số



(Nguồn: Niên giám thống kê y tế năm 2013 [8])



7



Những số liệu về tử vong mẹ cũng như tình hình TBSK trong các báo

cáo tuy phản ánh một phần tình hình TBSK nhưng chắc chắn thấp hơn rất

nhiều so với thực tế. Hầu hết những tai biến gây tử vong mẹ liên quan đến

thai sản đều có thể phòng tránh được nếu có sự chăm sóc cho thai phụ trong

suốt quá trình mang thai, trong đẻ và sau đẻ. Chính vì vậy giảm tỷ lệ TBSK

cũng như tỷ lệ tử vong mẹ liên quan đến thai nghén và sinh đẻ là mục tiêu

quốc gia mà chính phủ Việt Nam nói chung và nghành y tế nói riêng ln ưu

tiên thực hiện.

1.2. Tai biến sản khoa và các hình thái tai biến sản khoa thường gặp

TBSK là những biến chứng gặp trong các giai đoạn khi mang thai,

chuyển dạ và trong thời kì hậu sản.

TBSK là ngun nhân chính trực tiếp gây tử vong mẹ và hiện nay đến

90 % tai biến này xảy ra ở các nước đang phát triển [2], [5].

* Các hình thái TBSK thường gặp và các yếu tố nguy cơ của TBSK

Với khái niệm TBSK là những biến chứng người mẹ gặp phải khi mang

thai, sinh đẻ và trong thời kì hậu sản, có rất nhiều hình thái và mức độ TBSK

khác nhau. Theo Tổ chức y tế thế giới, trong các hình thái TBSK thì 5 TBSK

hay gặp nhất là: chảy máu sau đẻ (băng huyết), nhiễm khuẩn hậu sản, nhiễm

độc thai nghén - sản giật, vỡ tử cung và tai biến do nạo phá thai [14]. Tuy

nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia, vào mỗi thời kì khác nhau thì tỷ lệ các hình

thái TBSK cũng khác nhau và với mỗi loại hình thái TBSK thì lại có những

yếu tố nguy cơ khác nhau. Ở Việt Nam có 5 tai biến sản khoa nguy hiểm

thường gặp được thống kê và có trong chương trình quốc gia về phòng chống

TBSK là: băng huyết sau đẻ, sản giật, vỡ tử cung, uốn ván rốn sơ sinh, nhiễm

khuẩn hậu sản [8].



8



1.2.1. Chảy máu sau đẻ (băng huyết sau sinh)

Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) bao gồm tất cả các trường hợp chảy máu sau

khi sổ thai mà lượng máu chảy ra quá mức bình thường hoặc ảnh hưởng xấu

đến toàn trạng của sản phụ [9], [15].

Chảy máu sau đẻ là biến chứng thường gặp, chẳng những trong các

cuộc đẻ khó mà còn gặp ngay cả trong những cuộc đẻ thường [17]. Chảy máu

sau đẻ có thể xảy ra sớm trong vòng 24 giờ sau sổ thai hoặc xảy ra muộn hơn

24 giờ sau đẻ đến 6 tuần đầu của thời kì hậu sản.

Theo WHO khuyến cáo, chảy máu sau đẻ là hiện tượng chảy máu âm

đạo sau khi sổ thai vượt quá 500ml với đẻ thường, và trên 1000ml với mổ lấy

thai [11], [14].

Theo Lê Quang Thanh, chảy máu sau đẻ có thể được phân loại theo

lượng máu mất như sau [16]:

Tỷ lệ máu mất so với



Độ



Lượng máu mất (ml)



1



<900



15



2



1200 – 1500



20 – 25



3



1800 – 2100



30 – 35



4



>2400



40



khối lượng tuần hồn (%)



(Dựa trên thể tích máu là 6000ml)

Tuy nhiên việc đánh giá lượng máu mất sau đẻ được coi là bất thường

khác nhau theo từng tác giả và tùy từng nơi nghiên cứu. Mức độ nguy hiểm

của chảy máu sau đẻ không chỉ phụ thuộc vào lượng máu mất mà còn tùy

thuộc vào thể trạng của bà mẹ. Theo tác giả Lê Điềm, ở Việt Nam, sản phụ bị

thiếu máu trong ba tháng cuối chiếm tỷ lệ khoảng 50 – 60% vì vậy có thể tạm

thời quy định nếu lượng máu mất sau đẻ từ 300ml trở lên coi như chảy máu

sau đẻ (băng huyết) [17].



9



Nguyên nhân chảy máu sau đẻ: thường gặp là đờ tử cung, chấn

thương đường sinh dục, bất thường về bong, sổ rau, lộn tử cung, vỡ tử cung,

các bệnh về máu [12], [14], [18].

Một số yếu tố nguy cơ gây chảy máu sau đẻ: chảy máu sau đẻ thường

xảy ra trên những sản phụ sinh con rạ, chuyển dạ quá dài, trẻ sơ sinh nặng cân,

nạo phá thai nhiều lần, sản phụ bị thiếu máu hay các bệnh lý nội khoa xuất

huyết giảm tiểu cầu, thiếu hụt các yếu tố đông máu, lạm dụng oxytocin [19],...

Chảy máu sau đẻ là một biến chứng cấp tính đứng đầu trong các tai

biến sản khoa và rất nguy hiểm nếu khơng được xử trí kịp thời. Chảy máu sau

đẻ là nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước đang phát triển, trong đó có

Việt Nam, nếu xử trí ban đầu kịp thời có thể tránh được những diễn biến xấu:

suy đa phủ tạng, tổn thương não, tử vong, hoặc lâu dài gây suy thượng thận.

Vì vậy dự phòng chảy máu sau đẻ vơ cùng quan trọng, đặc biệt đối với các

đối tượng có nguy cơ cao. Đồng thời với việc xử trí đúng đắn và kịp thời với

các trường hợp chảy máu sau đẻ để giảm số trường hợp chảy máu sau đẻ và

giảm các tai biến nặng nề do chảy máu sau đẻ gây ra.

1.2.1.1. Các phương pháp dự phòng chảy máu sau đẻ

- Tiên lượng các yếu tố chuyển dạ tốt: mổ lấy thai trong các trường hợp

thai to, rau bám thấp, chuyển dạ kéo dài, cơn co cường tính,...

- Xử trí tích cực giai đoạn III.

- Kiểm tra bánh rau kỹ, kiểm soát tử cung đúng chỉ định.

- Phát hiện các bệnh nội khoa có nguy cơ chảy máu.

- Xử dụng oxytocin đúng chỉ định an tồn [19].

1.2.1.2. Các phương pháp xử trí chảy máu sau đẻ.

Điều trị nội khoa: Phải tiến hành song song giữa xử trí nguyên nhân

và hồi sức cho sản phụ:

- Nằm đầu thấp, thở oxy, sưởi ấm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các sản phụ mắc tai biến sản khoa điều trị tại bệnh viện Bạch Mai.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×