Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vị trí 5: THANH ĐIỆU

Vị trí 5: THANH ĐIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo đường nét vận động, các thanh điệu được phân thành hai nhóm:

+ Thanh điệu có đường nét vận động bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh bằng):

gồm thanh không dấu và thanh huyền.

+ Thanh điệu có đường nét vận động không bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh

trắc): gồm thanh ngã, hỏi, sắc, nặng.

Trong đó các thanh trắc có thể chia nhỏ thành:

Các thanh có đườn nét gãy: ngã, hỏi.

Các thanh có đường nét khơng gãy: sắc, nặng.

Miêu tả hệ thống thanh điệu theo tiêu chí 1:

Thanh ngang

Thanh khơng dấu (thanh ngang), thanh này không thể hiện trên chữ viết, là

thanh cao, đường nét bằng phẳng, không biến thiên về độ cao. Ví dụ: Đi xe sang Gia

Lâm.

Sơ đồ:

Cao độ



(1)

Trường độ

Thanh huyền

Thanh huyền, so với thanh không dấu, thanh huyền là một thanh thấp. Đường

nét vận động của thanh này bằng phẳng như thanh không dấu tuy về cuối có hơi đi

xuống. Như vậy, sự khác nhau giữa thanh không dấu và thanh huyền chủ yếu là ở độ

cao. Một số sinh viên nước ngoài học tiếng Việt phát âm ba thành bà hoặc ngược lại,

là do không biệt được hai mức độ cao thấp của chúng.

Sơ đồ:



Cao độ



(2)

Trường độ

21



Thanh ngã

Thanh ngã, ở độ cao gần thanh huyền nhưng không đi ngang mà vút lên, kết

thúc ở độ cao hơn ở thanh không dấu.

Ở thanh ngã, đường nét vận động bị gãy ở giữa, do trong quá trình phát âm có

hiện tượng bị tắc thanh hầu (xem trước hình dưới). Đây là chỗ khó phát âm với trẻ em

và đối với người nước ngoài học tiếng Việt, thanh này bị phát âm thành thanh sắc:

ngã- ngá, nước lã-nước lá…

Sơ đồ



Cao độ

(3)



Trường độ

Thanh hỏi

Đây là một thanh thấp, có đường nét gẫy ở giữa. Độ cao lúc bắt đầu của thanh

hỏi gần ngang thanh huyền. Sau khi đi ngang một đoạn, thanh này đi xuống. độ cao lúc

kết thúc gần bằng độ cao ban đầu. Trẻ em mới học nói thanh hỏi thường phát âm

thành thanh nặng. Ví dụ: mở cửa thảnh mợ cựa. Ở miền Trung và miền Nam hay thanh

ngã và thanh hỏi khơng được phân biệt, vì vậy hay xảy ra tình trạng lẫn lộn giữa dấu

hỏi và dấu ngã khi viết chính tả.

Sơ đồ:



Cao độ



(4)



Trường độ

Thanh sắc

Thanh sắc, lúc bắt đầu, độ cao của thanh sắc gần ngang với độ cao của thanh

khơng dấu, nhưng đó lên cao và kết thúc cao hơn lúc bắt đầu ở những âm tiết cuối /p, t,



22



k/ như bắt cóc, nấp thì thanh sắc vút cao ngay lúc bắt đầu, gây ấn tượng ngắn. Sơ đồ

thanh sắc được biểu diễn như sau:



Sơ đồ:



Cao độ

(5)



Trường độ

Thanh nặng

Thanh nặng, là một thanh thấp có đường nét khơng phẳng, lúc bắt đầu hơi ngay

xấp xỉ độ cao thanh huyền, sau đó xuống đột ngột và kết thúc thấp hơn ban đầu.

Sơ đồ:



Cao độ



(6)



Trường độ



Dưới đây là biểu đồ về sự thể hiện của các thanh điệu tiếng Việt:

Cao độ



5

3



1



4

2

6

-



Trường độ



Tiêu chí thứ 2: cao độ

Theo cao độ, các thanh điệu được chia làm hai nhóm:

+ Các thanh điệu có âm vực cao, gồm ba thanh: không dấu, sắc và ngã.

+ Các thanh điệu có âm vực thấp, gồm ba thanh: huyền, hỏi, nặng.

23



c.Phân loại âm tiết tiếng Việt

Người ta thường dựa vào hai tiêu chí sau để phân loại âm tiết tiếng Việt:

Tiêu chí 1: Cách kết thúc âm tiết

Khi nói về các loại âm tiết tiếng Việt thì người ta thường căn cứ vào khả năng

kết hợp với các phụ âm cuối để chia loại âm tiết. Âm tiết tiếng Việt được phân chia

thành 4 loại: Âm tiết mở, âm tiết nửa mở, âm tiết nửa đóng, âm tiết đóng. Trong đó:

-



Âm tiết mở: là các âm tiết kết thúc bằng âm chính (hoặc khơng có âm cuối). Ví dụ: ba,



-



mẹ, cơ, bé, bà …

Âm tiết nửa mở: là các âm tiết kết thúc bằng bán nguyên âm /u/ và /i/. Ví dụ: tai, tay,



-



áo, đầu…

Âm tiết nửa đóng: là các âm tiết kết thúc bằng các phụ âm vang mũi /m/, /n/, /ɳ/, /ɲ/.



-



Ví dụ: tăm, bàn, bơng, chanh…

Âm tiết đóng: là các âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc vơ thanh /p/, /t/, /k/, /c/. Ví

dụ: đập, hát, khóc, chích…

Tiêu chí 2: Cách mở đầu âm tiết

Dựa vào tiêu chí này, âm tiết tiếng Việt được phân thành 4 loại:

+ Âm tiết nhẹ: là các âm tiết phần đầu khơng có âm đầu và âm đệm. ví dụ: ăn, uống,

ôm…

+ Âm tiết nửa nhẹ: là các âm tiết phần đầu có âm đệm, nhưng khơng có âm đầu. Ví dụ:

oa, uẩn, uyển…

+ Âm tiết nửa nặng: là các âm tiết phần đầu có âm đệm, nhưng khơng có âm đệm. Ví

dụ: cơm, hát, khóc…

+ Âm tiết nặng: là các âm tiết phần đầu có âm đầu và âm đệm. Ví dụ: hoa, huệ, thuỷ,

thuyền…

Ngồi ra, trong các tài liệu dạy học sinh sửa lỗi phát âm, đặc biệt là học sinh

Khiếm thính, người ta cũng đề cập đến những khái niệm trên đây dưới dạng đơn giản

hơn đó là các cách khép vần, theo đó bốn loại hình âm tiếng Việt được tương ứng với

bốn loại khép vần: vần mở (sau chính âm khơng có âm nào), vần nửa mở (kết thúc

bằng /-i, -u/), vần nửa kín (kết thúc bằng /-m/, -n/, /-ɲ/, /-ɳ/…/), vần kín (/-p/, /-t/,

/-k/).

Tiểu kết



24



Mỗi ngơn ngữ đều có những đặc điểm đặc trưng riêng. Vai trò và ý nghĩa của

các yếu tố cấu thành ngơn ngữ khơng hồn tồn như nhau. Mặt khác, ngay trong chính

hệ thống ngữ âm, cũng có những đặc điểm khác nhau. Vì vậy, khơng thể áp dụng dập

khn phương pháp sửa lỗi phát âm của dạng này vào việc sửa lỗi phát âm của dạng

khác.

Thực tế cho thấy, việc dạy và sửa lỗi phát âm là một việc khó khăn, cần nhiều

thời gian và đòi hỏi kiến thức và kỹ năng với cả học sinh và giáo viên. Đặc biệt là

những học sinh khuyết tật trí tuệ khi phát âm sai sẽ ảnh hưởng đến giao tiếp và nhiều

quá trình tâm lý khác.

Trên cơ sở nghiên một số vấn đề lý luận về q trình phát triển ngơn ngữ của trẻ

và học sinh tiểu học, học sinh khuyết tật trí tuệ, lỗi phát âm trong tiếng Việt, dạy và

sửa lỗi phát sai cùng với việc nghiên cứu cấu tạo, đặc điểm, phân loại âm tiết tiếng

Việt làm cơ sở giúp giáo viên nắm sơ bộ về hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và học

sinh khuyết tật trí tuệ. Đồng thời, những lý luận này cũng là cơ sở xây dựng hệ thống

bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu

học hòa nhập.

1.3.THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM VÀ SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH

KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HỊA NHẬP

1.3.1.Mục đích khảo sát

Q trình nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng sửa lỗi phát âm cho học sinh

tiểu học tại hai môi trường giáo dục hòa nhập và chuyên biệt, đồng thời phân tích khó

khăn và đưa ra biện pháp hỗ trợ giáo sửa lỗi phát âm theo hướng dễ hiểu, dễ tiếp cận

và dễ tiến hành với giáo viên và học sinh.

1.3.2.Khách thể và địa bàn khảo sát

Đề tài tiến hành nghiên cứu với số lượng tham gia khảo sát như sau:

-



25 giáo viên tiểu học đang trực tiếp dạy từ lớp 1- 5 trường tiểu học Phương Tú

10 giáo viên chuyên biệt trường Ni dạy trẻ khiếm thị Hải Phòng

15 sinh viên năm cuối khoa giáo dục trường đại học sư phạm Hà Nội.

Đề tài tiến hành khảo sát giáo viên tại mơi trường giáo dục hòa nhập và chun



biệt. Các giáo viên tại hai trường tiểu học này gặp những khó khăn nhất định về

25



khoảng cách địa lý và cơ hội tiếp cận kiến thức và cách thức sửa lỗi phát âm cho học

sinh tiểu học. Trong nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 15 sinh viên năm

cuối khoa giáo dục Đặc biệt trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong đó, có một số

sinh viên có học văn bằng tiểu học. Đây là những sinh viên có cơ hội được tiếp cận

nhiều và nhanh nhất những kiến thức này, tuy nhiên lại chưa có nhiều trải nghiệm thực

tế và điều kiện để học hỏi các kiến thức liên quan đến đề tài này.

1.3.3.Thời gian khảo sát

Từ ngày 15/3/2019 - 15/4/2019

1.3.4.Nội dung, phương pháp và phương tiện khảo sát

a.Nội dung khảo sát

Đề tài tập trung khảo sát 2 vấn đề cơ bản sau đây:

(1) Thực trạng sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học (mơi trường hòa nhập và



chuyên biệt) của giáo viên

(2) Ưu nhược điểm của các nguồn tài liệu hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm

b.Phương pháp kháo sát

Đề tài tiến hành nghiên cứ theo các phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát

+ Xác định nội dung, kế hoạch quan sát, điều tra

+ Lập phiếu quan sát theo kế hoạch

+ Dự giờ một số tiết dạy cá nhân, dạy hòa nhập và tiến hành quan sát theo kế hoạch

+ Ghi chép thông tin vào phiếu và xử lý các bản quan sát, so sánh, tổng hợp kết quả

các lần quan sát.

- Phương pháp phỏng vấn

+ Chuẩn bị nội dung phỏng vấn

+ Thu thập số liệu: ghi chép câu trả lời của giáo viên kết hợp với các phương pháp

khác nhau như quan sát để đưa ra nhận xét khách quan

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

+ Thiết kế phiếu khảo sát dành cho giáo viên về “Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ

giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập”

(Xem phụ lục)

26



+ Phát cho giáo viên và xử lý thông tin từ phiếu hỏi thu được

c.Phương tiện khảo sát

Nội dung phiếu tập trung và những vấn đề sau:

- Vấn đề 1: Thực trạng nhận thức của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu

học

- Vấn đề 2: Thực trạng sử dụng các biện pháp hỗ trợ học sinh có lỗi phát âm âm tiết

tiếng Việt của giáo viên và những tài liệu có liên quan

- Vấn đề 3: Giải pháp hỗ trợ cần thiết giúp giáo viên đạt hiệu quả khi sửa lỗi phát âm

cho học sinh tiểu học.

Cụ thể, phiếu khảo sát với những nội dung:

-



Mức độ quan tâm của giáo viên đến sửa lỗi phát âm

Mức độ cần thiết của việc hỗ trợ học sinh sửa lỗi phát âm

Nhận thức của giáo viên về các dạng lỗi phát âm

Phương pháp giáo viên thường sử dụng để sửa lỗi phát âm cho học sinh

Kết quả giáo viên thu được khi sửa lỗi phát âm cho học sinh

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sửa lỗi phát âm

Mức độ tìm hiểu và sử dụng các nguồn tài liệu của giáo viên

Khó khăn giáo viên thường gặp phải khi tiếp cận vấn đề

Đề xuất của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu

học



1.3.5.Kết quả nghiên cứu thực trạng

Các kết quả điều tra được thống kê và tính tốn bằng các phương pháp tốn

thống kê như tính điểm trung bình và thứ bậc, tính phần trăm (%)

a.Thực trạng nhận thức của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Qua phỏng vấn và đánh giá lỗi phát âm của học sinh tiểu học có hai dạng lỗi

phát âm (phụ âm đầu và phần vần :âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu). Trong

những học sinh này, có những học sinh chỉ mắc một dạng lỗi nhưng cũng có những

học sinh mắc lỗi phát âm ở cả 2 dạng với những mức độ nặng, nhẹ khác nhau.

Dưới đây là đánh giá của giáo viên về mức độ quan trọng của việc sửa lỗi phát

âm cho học sinh.

Theo bảng khảo sát cho thấy có đến 82 % giáo viên cho rằng sửa lỗi phát âm

cho học sinh tiểu học là rất quan trọng và quan trọng. Việc giáo viên đánh giá tầm

quan trọng của vấn đề phần nào cho thấy giáo viên sẽ tìm hiểu và đưa ra biện pháp hỗ

27



trợ học sinh hoặc có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề phát âm sai của học sinh. Số 18% giáo

viên đánh giá vấn đề ở mức độ ít quan trọng hoặc không quan trọng. Khi được hỏi,

giáo viên đưa ra một số lý do như sau: khơng có nhiều thời gian, lớp đơng, dạy phải

theo chương trình hay chưa tìm được tài liệu về vấn đề này. Một số giáo viên dạy

chuyên biệt đánh giá một số kĩ năng giao tiếp, tự phục vụ ở học sinh quan trọng hơn là

dạy nói chuẩn hoặc chưa có cơ hội tìm hiểu đề tài này.

Có thể quan sát giáo viên đánh mức độ quan trọng của việc sửa lỗi phát âm cho

học sinh tiểu học qua biểu đồ 1.

Biểu đồ 1: Đánh giá mức độ quan trọng của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học

sinh tiểu học

b.Thực trạng sử dụng các biện pháp hỗ trợ học sinh có lỗi phát âm âm tiết tiếng

Việt của giáo viên và những tài liệu có liên quan

Thực trạng sửa lỗi phát âm ở học sinh tiểu học của giáo viên

Bảng 2. Phương pháp giáo viên sử dụng sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học



Nhận xét:

Qua khảo sát, phỏng vấn về các phương pháp giáo viên sử dụng để sửa lỗi phát

âm cho học sinh và bảng kết quả trên, có thể nhận thấy những điểm sau:

Đa số các giáo viên thường chỉ sử dụng phương pháp bắt chước cho cả các lỗi

phát âm ở phụ âm đầu và phần vần. Có tới gần 62% giáo viên sử dụng phương pháp

này. Đa số những giáo viên là những giáo viên trình độ cao đẳng và có nhiều năm cơng

tác ở trường trên 20 năm và chưa có cơ hội tìm hiểu về chủ đề này.

Phương pháp tách âm vị và phương pháp âm tiết trung gian thường được các

giáo viên chuyên biệt và sinh viên năm cuối khoa Giáo dục Đặc biệt sử dụng (gần

38%). Những giáo viên ở môi trường chuyên biệt và sinh viên năm cuối là những



28



người đã từng được biết hoặc học một số môn học liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên

không phải ai cũng có thể áp dụng những phương pháp này thường xuyên trên lớp.

Bảng 3: Mục tiêu sửa lỗi phát âm cho học sinh mà giáo viên đạt được

STT



Mục tiêu



Mức độ đạt được



1

2

3



Học sinh phát âm được âm vị được học

Học sinh phát âm được âm vị trong các tiết, các từ đơn

Học sinh vận dụng được các âm vị, âm tiết đã học

trong giao tiếp

4

Chưa đạt được mục tiêu nào trong 3 mục tiêu nêu trên

Tổng

Nhận xét:



Số lượng



%



13

7

3



26%

14%

6%



27

50



54%

100%



Qua kết qua thu được, có một số điểm như sau:

Có hơn 50% giáo viên chưa đạt được mục tiêu nào trong cả ba mục tiêu trên.

Những giáo viên này đa số là giáo viên trường tiểu học Phương Tú. Các giáo viên

cũng chia sẻ, họ thường gặp khó khăn để có thể sửa được như lớp đơng, thời gian ít và

thường chỉ đọc mẫu để học sinh nhắc lại theo. Sau vài lần sửa, khi học sinh chưa sửa

được thì giáo viên và phụ huynh thường mặc định lỗi định hình đó ở các em.

Ở những mục tiêu như học sinh phát âm được âm vị trong các tiết, các từ đơn

hoặc học sinh vận dụng được các âm vị, âm tiết đã học trong giao tiếp chiếm 10%,

thông thường những học sinh này chỉ mắc lỗi sai ở âm đầu hoặc âm đệm. Những lỗi về

âm cuối và thanh điệu thì chưa đạt được cả 4 mục tiêu trên.



29



Biểu đồ 2: Mục tiêu sửa lỗi phát âm cho học sinh mà giáo viên đạt được dưới đây:



c.Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Ln có những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh

tiểu học đối với giáo viên. Qua đánh giá và thu thập thông tin khảo sát, thu được kết

quả bảng số liệu tại bảng dưới đây:

Mức độ lựa chọn



hiệu



Yếu tố ảnh hưởng



4



3



2



1



S % S % S % S %

L

L

L

L

A

Thời gian

39 7 11 2 0 0 0 0

8

2

B

Cơ sở vật chất

17 3 15 3 10 1 8 1

4

0

0

6

C

Các nguồn tài liệu tham khảo

18 3 17 3 21 4 4 8

6

4

2

D

Khả năng của học sinh

45 9 5 1 0 0 0 0

0

0

E

Mức độ thu hút của hoạt động

41 8 9 1 0 0 0 0

2

8

F

Trình độ & chuyên môn của giáo

47 9 3 6 0 0 0 0

viên

4

(*Lưu ý: 4: Rất ảnh hưởng; 3: Có ảnh hưởng; 2: ít ảnh hưởng; 1: khơng ảnh hưởng)

Bảng 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh

tiểu học

Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học được

hình ảnh hóa với sơ đồ như sau:

Biểu đồ 3: Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh

tiểu học

Nhận xét:

Qua đánh giá của giáo viên về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động

sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học của giáo viên, nhận được một số vấn đề như sau:



30



Yếu tố về cơ sở vật chất (B) và nguồn tài liệu tham khảo (C) được đánh giá ở

mức độ trải dài từ rất ảnh hưởng đến không ảnh hưởng.

Yếu tố về thời gian (A), khả năng ở học sinh (D), mức độ thu hút của hoạt động

(E) và trình độ, chun mơn của giáo viên (F) được đánh cao ở mức 4 - Rất ảnh

hưởng (trung bình khoảng trên 80%) và còn lại là có ảnh hưởng.

Từ thực tế này cho thấy sự liên kết giữa kết quả mục tiêu sửa lỗi phát âm cho

học sinh mà giáo viên đạt được thu được có sự mâu thuẫn. Dễ dàng nhận thấy, khi khả

năng của học sinh tốt, mức độ thu hút của hoạt động cao và chun mơn của giáo viên

càng giỏi thì kết quả mục tiêu sửa lỗi phát âm càng hiệu quả và đạt chất lượng cao.

Tuy nhiên, khi học sinh có lỗi phát âm thường ko nhận thức được lỗi sai hoặc

nếu nhận thức được xong chưa biết cách sửa. Vì vậy, học sinh luôn cần sự hỗ trợ từ

chuyên viên âm ngữ trị liệu, giáo viên hoặc cha mẹ. Với những lý do khác nhau, giáo

viên là lực lượng dễ tiếp cận với vấn đề này. Xong chính những giáo viên cũng đang

gặp khó khăn trong việc tìm ra cách sửa lỗi phát âm này cho học sinh và dựa vào việc

tận dụng những khả năng sẵn có ở các em. Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống bài

tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học là điều thiết thực với cả giáo

viên và học sinh tiểu học.

d.Sự cần thiết của việc Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho

học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập

Có 4 nguồn tài nguồn tài liệu (chính thức hay khơng chính thức) mà giáo viên

sử dụng, đó là: tham khảo từ đồng nghiệp, tham khảo qua mạng internet, tham khảo tài

liệu trong nước và tham khảo tài liệu nước ngoài

Qua khảo sát, thu được mức độ hữu ích sử dụng nguồn tài liệu của giáo viên:

ST

T

1

2

3

4



Nguồn tài liệu



Tổng điểm lựa chọn



Tham khảo từ đồng nghiệp

97 điểm

Tham khảo qua mạng internet

129 điểm

Tham khảo tài liệu trong nước

73 điểm

Tham khảo tài liệu nước ngoài

59 điểm

(*Ghi chú:4: Rất hữu ích, 3: Hữu ích, 2: Ít hữu ích, 1: Hữu ích)



Từ bảng ghi chú trên, xếp hạng thứ tự hữu ích theo chiều giảm dần các nguồn

tài liệu của giáo viên, ta được sơ đồ như sau:

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vị trí 5: THANH ĐIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×