Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Shiteintal (1923-1899) người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngơn ngữ học tâm lý.

Ơng đã đưa ra lý thuyết ngôn ngữ là hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân



-



tộc.

Thuyết tâm lý liên tưởng - đại biểu là V.Vunt (1832-1920) nghiên cứu lý thuyết về

dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, về nghĩa hiện có của



-



từ và câu, về mối quan hệ liên tưởng có tính ngữ đoạn.

L.X.Vugotxki cho rằng, khi học sinh gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, học

sinh tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những

người này giúp đỡ học sinh và khuyến khích học sinh. Trong mối quan hệ hợp tác này

quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được chuyển giao sang học sinh. Do ngôn

ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi với các giá trị xã hội,



-



L.X.Vugotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tư duy.

Lynas, Huntiington và Tucker (1988): Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng lời nói

và dấu hiệu đồng thời với các âm vị, nguyên âm đơn, nguyên âm đôi.

1.1.2.Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, việc dạy học sinh nói chung và học sinh khuyết tật nói riêng ngày

càng được chú trọng. Ngày càng có nhiều khóa học và chuyên đề về trị liệu ngơn ngữ

và lời nói được mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu can thiệp rối loạn về lời nói, phát âm,

giao tiếp, ngôn ngữ, ăn uống và rối loạn nuốt cho trẻ. Các khóa học và chuyên đề

thường được tổ chức tại các thành phố lớn như Hà nội và Hồ Chí Minh cùng một số

bệnh viện lớn trên cả nước. Học phí của khóa học và chun đề nằm ngoài khả năng

của những giáo viên ở các tỉnh lẻ. Dễ dàng nhận thấy, khoảng cách địa lý, học phí và

những hạn chế về ngữ âm là những cản trở lớn đối với giáo viên tiểu học.

Thời gian gần đây, những vấn đề về sửa lỗi phát âm ngày càng được quan tâm.

Bằng chứng cho thấy là những nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp về vấn đề

này ngày cành phong phú và đa dạng. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:



-



“Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu” (2004) của nhóm tác giả TS. BS Vũ Thị Bích



-



Hạnh, ThS.NN Đinh Thái Thu Hương.

“Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật” (2005) của nhóm tác giả

Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Lương Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Nho và Lê Thanh

Ngọc, tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các trường Sư phạm.



8



-



“Phương pháp dạy phát âm cho học sinh khiếm thính” (2006) của tác giả Trần Thị

Thiệp, tài liệu bài giảng lớp cử nhân cao đẳng Trường cao đẳng nhà học sinh mẫu giáo



-



Trung Ương II.

“Chuyên đề giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ngôn ngữ” (2009) của tác giả



-



Nguyễn Văn Lợi. Tài liệu bải giảng trường Đại học Vinh.

“Sửa lỗi phát âm phần vần của âm tiết tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mẫu giáo và tiểu học

bằng phương pháp sử dụng âm tiết tiết trung gian” (1997). Đề tài K37, Viện khoa học

giáo dục Việt Nam.

Những đề tài nghiên cứu trên thường chỉ tập trung vào một đối tượng cụ và sửa

một số lỗi cụ thể. Điều này, một mặt nào đó trở thành yếu tố cản trở sự tiếp cận vấn đề

ở giáo viên. Trong khi, trên thực tế lỗi phát âm ở từng học sinh và từng lớp là không

phải lúc nào cũng giống nhau.

Trên cơ sở những nghiên cứu đi trước, đề tài đi sâu vào việc Xây dựng hệ thống

bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu

học hòa nhập với hi vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy phát âm cho học sinh.

Đồng thời giảm thiểu nguy cơ mắc lỗi phát âm ở học sinh tiểu học ngay từ khi các em

có dấu hiệu mắc lỗi phát âm.

1.2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH

KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HỊA NHẬP

1.2.1.Khuyết tật trí tuệ

a.Khái niệm

Theo Laura - nhà tâm lý học người Nga, trẻ khuyết tật trí tuệ là những em mắc

bệnh về não từ khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời gây cản trở

sự phát triển của não, gây ra sự phát triển khơng bình thường về tinh thần.

Theo bảng phân loại DSM-5 (2013): khuyết tật trí tuệ là một rối loạn diễn ra

trong suốt quá trình phát triển, bao gồm sự thiếu hụt cả về trí tuệ và chức năng thích

ứng về khái niệm, xã hội và các lĩnh vực thực hành. Một học sinh được chẩn đốn là

khuyết tật trí tuệ cần phải có đầy đủ 3 tiêu chí sau:

- Tiêu chí 1: Bị thiếu hụt các chức năng trí tuệ như lí luận, giải quyết vấn đề, lập

kế hoạch, tư duy trừu tượng, phán xét, kĩ năng học tập, học hỏi từ trải nghiệm. Các

thiếu hụt này được kiểm chứng thông qua các đánh giá lâm sàng và cá nhân, kiểm tra



9



trí thơng minh đã được chuẩn hóa (thể hiện thơng qua đánh giá chỉ số thông minh IQ

đạt được dưới 70 trong một lần thực nghiệm trắc nghiệm cá nhân).

- Tiêu chí 2: Bị thiếu chức năng thích ứng dẫn đến thất bại trong việc đáp ứng các

tiêu chuẩn phát triển văn hóa xã hội, độc lập cá nhân và trách nhiệm xã hội. Những

thiếu hụt trong chức năng thích ứng này sẽ dẫn đến những hạn chế một hoặc nhiều

hoạt động trong học tập hàng ngày như thông tin liên lạc, tham gia xã hội, sống độc

lập trong các môi trường như gia đình, trường học, nơi làm việc và cộng đồng;

- Tiêu chí 3: Những thiếu hụt về trí tuệ và chức năng diễn ra trong suốt quá trình

phát triển.

b.Phân loại khuyết tật trí tuệ

DSM-5 sử dụng trí tuệ làm tiêu chí phân loại mức độ khuyết tật trí tuệ là:

-



khuyết tật trí tuệ nhẹ: Chỉ số trí tuệ từ 50-55 tới xấp xỉ 70;

khuyết tật trí tuệ trung bình: Chỉ số trí tuệ 35-40 tới 50-55

khuyết tật trí tuệ nặng: Chỉ số trí tuệ 20-25 tới xấp xỉ 35-40

khuyết tật trí tuệ rất nặng: Chỉ số trí tuệ từ 20 hoặc 25

c.Đặc điểm của học sinh khuyết tật trí tuệ

- Cảm giác - tri giác

+ Thời gian tri giác chậm chạp: học sinh khuyết tật trí tuệ tri giác các đối tượng

chậm hơn học sinh bình thường. Trong thời gian nhất định thì khối lượng thơng

tin học sinh khuyết tật trí tuệ thu nhận được ít hơn so với học sinh bình thường (

chỉ bằng 40% so với trẻ bình thường). Tri giác cũng hạn chế, khả năng phận

biệt, bắt chước các hình dạng kém.

+ Khả năng phân biệt kém: khi chúng ta đưa cho học sinh khuyết tật trí tuệ một

bức tranh yêu cầu quan sát và kể lại những gì đã nhìn thấy trong tranh, hầu hết không

hiểu được bố cục bức tranh, không phân biệt được nét mặt vui, buồn của những nhân

vật ở trong tranh, không phân biệt được các đối tượng gần giống nhau.

+ Thiếu tích cực trong q trình tri giác: trong q trình quan sát, học sinh

thường có biểu hiện khơng muốn xem xét kĩ càng, không muốn hiểu rõ nội dung cần

tri giác mà chỉ muốn tri giác một cách qua lao, hơi hợt. Do hệ thần kinh yếu nên q

trình tri giác, thính giác của học sinh gặp khó khăn và có những biểu hiện kém phát

triển. Khơng phân biệt tốt âm thanh là nguyên nhân gây ra sự kém phát triển về ngôn

10



ngữ và tư duy, khả năng định hướng mơi trường xung quanh.

+ Ngưỡng cảm giác có nhiều bất thường: phần lớn cảm giác của học sinh

khuyết tật trí tuệ nhạy cảm hơn so bình thường: Điều này có nghĩa là ngưỡng cảm giác

phía dưới và ngưỡng cảm giác phía trên thấp do độ nhạy cảm cảm giác cao. Với âm

thanh cũng vậy, học sinh không chịu được những âm thanh quá lớn, những tiếp xúc

quá mạnh, bất ngờ, hoặc các mùi cũng như các vị có cường độ lớn.

+ Một số học sinh khuyết tật trí tuệ nhạy cảm với các kích thích: trường hợp

này khơng nhiều và rơi vào một số học sinh thuộc nhóm khuyết tật trí tuệ đi kèm các

hội chứng như : tự kỷ, AD/HD, Rett...

+ Tính bất thường trong tri giác: đặc điểm này rơi vào một số học sinh khuyết

tật trí tuệ đi kém tự kỷ và tăng động, giảm chú ý. Khi quan sát đối tượng, học sinh bình

thường thì nhìn thấy tổng thể của nó, nhưng học sinh khuyết tật trí tuệ chỉ nhìn thấy

chi tiết của đối tượng đó thơi.

-Tư duy

Các cơng trình nghiên cứu khác về hoạt động nhận thứ của trẻ khuyết tật trí tuệ

đã rút ra ba đặc điểm về tư duy của nhóm trẻ này:

- Tư duy mang tính cụ thể trực quan yếu về khái quát hóa là đặc điểm tư duy

đầu tiên của trẻ khuyết tật trí tuệ.

- Thiếu tính liên tục trong tư duy

- Vai trò điều chỉnh của tư duy

Cả ba đặc điểm này cũng gây khó khăn cho giáo viên khi sửa lỗi phát âm cho học sinh

khuyết tật trí tuệ.

- Ghi nhớ

- Ghi nhớ máy móc tốt hơn ghi nhớ có ý nghĩa

- Ghi nhớ trực tiếp tốt hơn ghi nhớ gián tiếp

- Ghi nhớ có chủ đích khơng tốt hơn ghi nhớ khơng có chủ đích

- Khó nhớ nhanh qn, tái hiện khơng chính xác

- Khơng có động cơ ghi nhớ

Với những đặc điểm ghi nhớ này, giáo viên sẽ cần phải thực sự nỗ lực theo sát học

sinh trong khoảng thời gian dài để hoàn thiện quá trình sửa lỗi.

1.2.2.Lỗi phát tâm

11



a.Khái niệm

Theo tác giả Jrank trong bài viết về rối loạn âm vị học, ông đã đưa ra quan

niệm: “Học sinh có lỗi phát âm đó là những học sinh có rối loạn phát âm dai dẳng và

đáng kế đến cấu trúc ngôn ngữ nói mặc dù học sinh có trí tuệ, khả năng nghe, khả

năng giao tiếp bình thường cũng như khơng có tổn thương về thần kinh gây cản trở

đến việc giáo tiếp bằng miệng”.

Ngồi ra, cũng có quan niệm, “Học sinh hay người có lỗi phát âm là những

người phát âm không chuẩn một hay nhiều thành phần âm tiết tiếng Việt và làm ảnh

hưởng ít nhiều đến độ rõ ràng của lời nói khi phát ngơn. Phát âm khơng chuẩn xảy ra

lâu dài và trong mọi tình huống nói năng. Ngun nhân dẫn đến phát âm khơng chuẩn

có thể do vùng phụ trách ngôn ngữ trên não bộ bị tổn thương hoặc có thể do ảnh

hưởng của thực thể (cấu âm), của khuyết tật khác gây nên như bại não, khuyết tật trí

tuệ... đến chất lượng phát âm của họ”.

Trong đề tài này, tôi sử dụng khái niệm thứ hai.

b.Nguyên nhân

Căn cứ vào nguồn gốc gây nên lỗi phát âm, các nhà nghiên cứu về bệnh học

ngôn ngữ và lời nói xác định có hai nhóm nguyên nhân:

-



Thứ nhất là lỗi phát âm nguyên phát do vùng não bộ phụ trách về ngôn ngữ bị tổn



-



thương dẫn đến việc phát âm lỗi.

Thứ hai là lỗi phát âm thứ phát là do ảnh hưởng của khiếm khuyết hay khuyết tật gây

nên, chẳng hạn như bị dính lưỡi, hở vòm, sứt mơi hoặc bị bại não, khuyết tật trí tuệ,

khiếm thính…

Ngồi ra, cũng có những tài liệu xác định và cụ thể hóa nguyên nhân của lỗi

phát âm:



-



Nguyên nhân thứ nhất gây nên những lỗi về phát âm là do rối loạn hay khiếm khuyết ở

bộ máy phát âm hay cấu âm. Bất kì một thành phần nào trong bộ máy phát âm chẳng

hạn như mơi, răng, lưỡi, vòm miệng, thanh quản... bị khiếm khuyết hoặc hoạt động

không đúng chức năng đều có thể ảnh hưởng đến q trình sản sinh ra âm thanh lời nói

và chất lượng của âm thanh lời nói. Có những thành phần trong bộ máy phát âm có thể

chữa trị y tế như phẫu thuật và chất lượng của âm thanh lời nói được cải thiện mà



12



khơng cần đến trị liệu âm ngữ về sau. Chất lượng phát âm là tùy thuộc vào mức độ loại

-



khiếm khuyết của từng bộ phận trong bộ máy phát âm.

Nguyên nhân thứ hai của lỗi phát âm là do ảnh hưởng của thần kinh hoặc bất thường.

Loại này bao gồm các vấn đề với các cơ miệng không cho phép học sinh có đủ tốt



-



động cơ kiểm sốt các cơ bắp để sản sinh tất cả các âm thanh tiếng nói.

Nguyên nhân thứ ba của phát âm sai là không rõ. Điều này đôi khi được gọi là “rối

loạn phát triển của phát âm”. Mặc dù nguyên nhân chưa được biết, có nhiều ý kiến cho

rằng có thể bao gồm bất thường về não nhẹ, và chưa trưởng thành phát triển của hệ

thống thần kinh.

1.2.3.Các dạng phát âm sai

Các dấu hiệu của lỗi phát âm khác nhau đáng kể tùy thuộc vào tuổi của học

sinh. Thông thường không dễ nhận ra chính xác phát âm sai. Học sinh mắc lỗi phát âm

thì sự phát triển lời nói chậm hơn so với các học sinh cùng độ tuổi, tuy nhiên sự phát

triển của học sinh đó cũng cùng một trình tự phát triển chung. Vì vậy, lời nói có thể là

bình thường đối với một đứa trẻ bốn tuổi có thể là dấu hiện của lỗi phát âm khi lên sáu.

Do đó, khi xem xét lỗi phát âm phải tính đến yếu tố lứa tuổi và môi trường ngôn ngữ

để xác định. Loại trừ yếu tố lứa tuổi và phương ngữ, lỗi phát âm liên quan đến lời nói

bao gồm các dạng như sau:



-



Thay thế: phát âm âm vị này thành âm vị kia, ví dụ nói: cái lá thành cái ná ( thay l



-



thành n)...

Mất âm: phát âm nuốt âm vị, ví dụ quả táo thành ỏa áo ( mất /k/ và /t/), mất âm đệm



-



như khoai thành khai, thiếu âm chính ngun âm đơi là chuối thành chúi...

Vặn vẹo: phát âm méo mó âm vị nào đó và khơng xác định được đó là âm vị nào trong



-



hệ thống âm vị tiếng Việt.

Thêm âm: phát âm kèm theo những âm khác vào trong âm tiết.

Trong đề tài nghiên cứu, dựa vào cấu trúc âm tiết tiếng việt, đề tài lựa chọn

hướng phân chia lỗi phát âm thành các dạng sau:

-



Dạng 1: Lỗi phát âm ở phụ âm đầu

Dạng 2: Lỗi phát âm ở phần vần



Trong lỗi phát âm ở phần vần có các 4 dạng lỗi như sau:

+ Phát âm sai âm đệm: bông hoa thành bông ha...

+ Phát âm sai âm chính: quả chuối thành quả chúi...

+ Phát âm sai âm cuối: ngả nghiêng thành ngả nghiên, anh thành ăn...

13



+ Phát âm sai thanh điệu: cái tủ thành cái tụ, cái võng thành cái vóng...

Tóm lại, lỗi phát âm ở học sinh là mn hình mn vẻ và ở mức độ nặng - nhẹ

khác nhau. Đối với học sinh thuộc mức độ nhẹ, tình trạng ngơn ngữ của học sinh

không ảnh hưởng lớn đến chức năng giao tiếp, đồng thời khơng ảnh hưởng lớn đến

q trình nhận thức, tư duy và sự phát triển trí tuệ, nhân cách của học sinh. Học sinh

có thể học hòa nhập với những học sinh bình thường, tất nhiên cần có sự hỗ trợ từ giáo

viên. Với những học sinh thuộc mức độ nặng, học sinh khó có thể học hòa nhập với

học sinh khác mà phải có nội dung và phương pháp giáo dục phục hồi đặc biệt trong

các trường chuyên biệt trong thời gian đầu trước khi cho học sinh học hòa nhập.

1.2.4.Những ảnh hưởng của lỗi phát âm tới học sinh khuyết tật trí tuệ

Mặc dù phát âm chỉ là một phần trong ngôn ngữ của học sinh nhưng khi học

sinh có những lỗi phát âm đều gặp những khó khăn nhất định. Việc phát âm sai dễ

nhận biết nhất khi học sinh tham gia vào quá trình giao tiếp. Do vậy, học sinh thường

có thái độ tự ti, mặc cảm mỗi khi sử dụng ngôn ngữ giao tiếp. Từ đó, ảnh hưởng tới

khả năng giao tiếp và ít có ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc ở học sinh. Học sinh thường

rất nhút nhát, sống khép mình, ít giao tiếp với bạn bè, người thân. Hạn chế khả năng

nhận thức, tư duy, tưởng tượng. Khả năng tư duy, trí nhớ, tưởng tượng của học sinh

khuyết tật về ngôn ngữ là rất kém, quá trình tri giác biểu tượng ở học sinh diễn ra

chậm hơn nhiều so với một học sinh bình thường cùng độ tuổi. Trong quá trình học tập

tại trường các em sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc lĩnh hội nội dung bài

giảng, các em thường bị coi là đối tượng chậm hơn, kết quả học tập thường khơng cao

so với học sinh bình thường. Do vậy, khả năng hòa nhập và thích ứng của học sinh

cũng gặp nhiều hạn chế.

Với những học sinh có đặc điểm định hình trong tư duy, ngay từ khi có lỗi phát

âm, giáo viên chấp nhận thì học sinh sẽ mặc định và khơng nỗ lực cố gắng sửa. Chính

điều này sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho các em sau này.

1.2.5.Ngữ âm và hệ thống âm tiết tiếng Việt

a.Khái niệm

Âm tiết là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất trong khi nói vì nó có tính chất tồn vẹn,

được phát âm bằng một căng của bộ máy phát âm, phát ra một hơi nghe thành tiếng.

14



b.Cấu tạo âm tiết tiếng Việt

Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhất trong ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, một

âm tiết bao giờ cũng phát ra với một thanh điệu và tách rời với âm tiết khác bằng một

khoảng trống. Trên chữ viết, mỗi âm tiết tiếng Việt được ghi thành một chữ và đọc

thành một tiếng.

Ví dụ: “Hoa hồng bạch” gồm 3 chữ, 3 tiếng, hoặc 3 âm tiết.

Trong tiếng Việt có tính phân âm tiết cao, mỗi âm tiết nó đứng cách xa nhau.

Mỗi âm tiết bao giờ cũng gắn liền với thanh điệu và làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết.

Có tổng số 5164 âm tiết được sử dụng trong tiếng Việt. Đó là những âm tiết có thực

tiếng Việt, còn lại khoảng 10000 âm tiết có thể phát âm được nhưng khơng mang một

ý nghĩa nào.

Ví dụ: choan, chốn, chỗn,... (khơng mang ý nghĩa) trong khi “chốn” (trong

“chốn chỗ”) lại có ý nghĩa.

Ở dạng đầy đủ nhất, âm tiết tiếng Việt bao gồm 5 thành phần sắp xếp với nhau

theo sơ đồ sau:

Âm đầu (1)



Thanh điệu (5)

Vần

Âm chính (3)



Âm đệm (2)



Âm cuối (4)



Trong đó, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối được coi là bộ phận đoạn tính

(hay còn gọi là âm đoạn); thanh điệu (6 thanh) được coi là bộ phận siêu đoạn tính.

-



Vị trí 1: ÂM ĐẦU

Vị trí này do các phụ âm đảm nhiệm, còn gọi là phụ âm đầu. Theo đa số các nhà

nghiên cứu, trong tiếng Việt có 22 phụ âm.

Tất cả được thể hiện trong bảng sau:



15



Vị trí 1: PHỤ ÂM ĐẦU

TT

1

2

3

4

5

6



Âm

/b/

/t/

/t’/

/d/

/ţ/

/c/



Chữ

b

t

th

d

tr

ch



Ví dụ



tơi

thị

đi

trai

cho



k







/k/



c







/m/

/n/

/ɲ/

/ɳ/



q

m

n

nh

ng



q

mẹ

nón

nhà

nga



/f/

/v/

/s/

/z/



ngh

ph

v

s

d



nghi

phố

về

xơi

da



gi



già



g

s

r

g





sa

ra





gh



ghế



kh

h

l

p



khế



lúa

pin



7



8

9

10

11

12

13

14

15



16

17

18



19

20

21

22



/ʂ/

/ʐ/

/ɤ/



/x/

/h/

/l/

/p/



Phụ âm đầu có thể khuyết trong một số trường hợp như: ăn, an, oan... và được

gọi là phụ âm tắc thanh hầu. Ngoài ra phụ âm /p/ xuất hiện trong một số âm tiết vay

mượn từ tiếng nước ngoài hay địa danh, tiếng dân tộc. Ví dụ: Pin, Pác Pó...

Các phụ âm đầu trong tiếng Việt được miêu tả và phân loại dựa trên ba tiêu chí

là vị trí cấu âm, phương thức phát âm và đặc điểm âm học. Trong đề tài, với mục đích



16



xây dựng bảng từ sửa lỗi phát âm thanh hỏi cho học sinh, tôi đề cập đến tiêu chí phân

loại theo phương thức cấu âm như sau:

+ Phụ âm tắc: là những phụ âm mà khi cấu âm khơng khí đi ra bị cản trở hồn

tồn, phá vỡ sự cản trở ấy để thốt ra ngồi và gây ra một tiếng nổ nhẹ, gồm các phụ

âm /b, t, d, ţ, c, k/

+ Phụ âm mũi: là những âm mà khi cấu âm khơng khí bị cản trở ở đường

miệng nhưng lại tự do ở đường mũi, gồm các phụ âm /m, n, ɲ, ɳ/.

+ Phụ âm bật hơi: là những phụ âm khi cấu âm, ngoài tiếng nổ ngồi xảy ra ở

đường miệng còn đồng thời có tiếng cọ xát ở khe hở giữa hai mép dây thanh, là phụ

âm /t’/.

+ Phụ âm xát: đặc trưng ngữ âm của phụ âm xát là tiếng cọ xát của luồng

khơng khí ở nơi bị cản, luồng khơng khí phải lách qua khe hẹp ra ngoài, gây nên tiếng

sát nhẹ, gồm các phụ âm /f, v, s, ʂ, z, ʐ, x, ɤ, h/.

Thuộc loại âm xát còn có âm bên /l/, được tạo bởi tiếng cọ xát khi luồng hơi đi

ra ngồi qua hai mép lưỡi.

Vị trí 2: ÂM ĐỆM

Ở vị trí âm đệm, chỉ có một âm vị bán nguyên âm /w/. đó là một âm có cấu tạo

giống như âm chính /u/ (ngun âm có độ mở hẹp, phát âm cực trầm, tròn mơi, thuộc

hàng sau), nhưng khác với âm chính ở chức năng tạo âm sắc chủ yếu cho âm tiết. Âm

đệm /w/ chỉ có tác dụng làm trầm hố âm sắc của âm tiết, ví dụ so sánh tấn và tuấn.

Âm đệm /w/ được thể hiện trên chữ viết bằng hai hình thức:

+ Viết là “o” khi âm đệm /w/ đứng trước các nguyên âm có độ mở hơi rộng và

rộng. Ví dụ: Hồng, ngoằn ngo....

+ Viết là “u” khi âm đệm /w/ đứng trước các nguyên âm có độ mở hơi hẹp và

hẹp: huy, tuấn, huệ… và sau phụ âm /k/ viết bằng con chữ “q”: quê, quân, quyết…

Sự phân bố của âm đệm /w/

Âm đệm /w/ bị hạn chế ở một số trường hợp sau:

+ /w/ không xuất hiện sau các phụ âm môi /b, m, f, v/. Một số trường hợp như

buýt, phuy, voan, muy đều là từ ngoại lai.

+ /w/ chỉ xuất hiện sau /ɤ/ ở một từ goá.

+ /w/ cũng chỉ xuất hiện ở một vài từ có âm đầu /n/: noa, noãn (là từ Hán Việt)

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×