Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Do tăng áp lực thủy tĩnh (phù não kẽ), do giảm thiểu tái hấp thu DNT.

- Do tăng áp lực thủy tĩnh (phù não kẽ), do giảm thiểu tái hấp thu DNT.

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



Bệnh phân bố rải rác khắp các vùng trên thế giới nhưng với tỷ lệ khác

nhau ở từng khu vực. có khu vực có tỷ lệ mắc cao, có khu vực mắc với tỷ lệ

thấp. Ivana nghiên cứu gánh nặng bệnh tật VMN do VK trên toàn cầu thấy

rằng tỷ lệ mắc ở các vùng thì khác nhau. Khu vực được gọi là “ vành đai viêm

màng não” thì tỷ lệ mắc 143,6/100.000 trẻ/năm, sau đó là khu vực Tây Thái

Bình Dương là 42,9; sau đó là TRung Đơng 34,3. Tỷ lệ mắc trên toàn cầu qua

71 nghiên cứu là 34.0 (16.0-88.0) [26].

1.2.1.3. Tuổi mắc bệnh

VMN do VK có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhiều hơn ở

trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, đặc biệt là dưới 2 tuổi [19]. Mặt khác, lứa tuổi khác nhau

thì căn nguyên gây bệnh cũng khác nhau [28].

Nghiên cứu tại Hà Nội từ 2000 – 2002 cho thấy, tỷ lệ trẻ dưới 1 tháng là

24%, 1-11 tháng là 23% [29]. Tại bệnh viện Nhi Trung ương, NC của Nguyễn

Văn Lâm thực hiện với trẻ trên 1 tháng tuổi: Tỷ lệ trẻ từ 1-12 tháng chiếm

70,3% [17]. Phạm Nhật An (2014) cũng thực hiện với trẻ trên 1 tháng lại cho

thấy tỷ lệ trẻ mắc bệnh chủ yếu từ 1 tháng đến 12 tháng (71,4%) [13].

1.2.1.4. Giới tính

Bệnh có thể mắc ở cả nam và nữ. theo một số nghiên cứu thì thấy có tỷ lệ

nam trội hơn. Qua các nghiên cứu tại nhiều khu vực, thời điểm khác nhau đã

được báo cáo thì thấy hầu hết đều có tỷ lệ trẻ nam thường cao hơn nữ. Bùi Vũ

Huy (2008) thì tỷ lệ nam/nữ là 27/25 (1,1/1) [30]. Nghiên cứu của Đặng Đức

Anh và cộng sự tại Hà Nội từ 2000 – 2002 cho thấy, tỷ lệ nam/nữ là:

62%/38% (1,6/1) [29].

1.2.1.3. Căn nguyên gây bệnh

VMN do VK thường do một số loại vi khuẩn gây nên như phế cầu, HI,

E.Coli, NMC…. Tỷ lệ các loại căn nguyên cũng khác nhau ở từng vùng lãnh

thổ, hệ thống y tế dự phòng, khả năng phòng bệnh bằng vắc xin…. [13],[31].

Việc xác định căn nguyên có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác



9



nhau, mỗi phương pháp có những giá trị, ưu điểm, nhược điểm khác nhau.

Khả năng áp dụng tùy thuộc vào nguồn lực, năng lực của từng phòng xét

nghiệm, từng vùng, quốc gia. Nhưng nhìn chung tỷ lệ xá định được căn

ngun còn thấp [17], [32]. Khả năng xác định được căn nguyên cũng phụ

thuộc vào yếu tố rất quan trọng là trẻ đã được sử dụng kháng sinh trước khi

được xét nghiệm hay khơng [33]. Ngồi việc xét nghiệm DNT thì cấy máu

cũng có thể cho kết quả tương tự DNT, nên có thể tham khảo kháng sinh đồ

cho điều trị, đặc biệt là ở trẻ nhỏ [34].

1.2.1.4. Nguồn truyền nhiễm

Người lành mang vi khuẩn

Trong điều kiện bình thường cũng có một số loại vi khuẩn cư trú ở bề

mặt niêm mạc đường tiêu hóa, hơ hấp như họng, tỵ hầu, phế quản nhưng

không gây bệnh [35]. Tỷ lệ này khác nhau tùy theo lứa tuổi, tình trạng tiêm

chủng, tình trạng miễn dịch của cơ rhể….[36]. Khi niêm mạc bị tổn thương vì

lý do nào đó thì vi khuẩn sẽ gây bệnh trong đó có viêm màng não do VK.

Trong các vụ dịch

Trong các vụ dịch thì tỷ lệ người mang vi khuẩn tăng cao hơn nên tỷ lệ

mắc có khả năng tăng cao và có nguy cơ gây các ổ dịch.

1.2.2. Đặc điểm của một số vi khuẩn gây VMNNK

Hemophilus influenzae type b (Hib)

- Hib là một vi khuẩn gram âm hình que. Hình dạng có thể thay đổi từ dạng

cầu - trực khuẩn đến hình que dài và hơi cong.

- Viêm màng não do Hib xảy ra chủ yếu ở trẻ em, khoảng 80% các

trường hợp viêm màng não mủ do Hib xảy ra ở trẻ từ 1 tháng đến 3 tuổi. Sau

ba tuổi, hầu hết trẻ em có miễn dịch mắc phải chống lại Polyribophosphate

của vách vi khuẩn Hib.



10



- Phương thức truyền bệnh từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp

bởi các hạt nhỏ của chất tiết đường hô hấp. Thời gian ủ bệnh thường ngắn hơn

10 ngày. Tỷ lệ tử vong do bệnh còn khá cao.

Phế cầu khuẩn

- Thường được gọi tắt là phế cầu (Streptococus pneumoniae) là nguyên

nhân gây viêm màng não mủ hàng đầu ở lứa tuổi ngồi sơ sinh tại các nước

phát triển (có chủng ngừa rộng rãi Hemophilus influenzae týp b).

- Bệnh do phế cầu có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi và tháng nào trong năm,

nhưng gặp nhiều hơn ở trẻ em và những tháng mùa lạnh. Phế cầu gây nhiễm

trùng huyết và viêm màng não mủ thường xuất phát từ nơi cư trú là niêm mạc

hầu họng.

- Các yếu tố nguy cơ của viêm màng não do phế cầu là viêm tai giữa,

viêm xoang, viêm phổi, rò rỉ dịch não tủy qua tai hoặc qua mũi, bệnh nhân cắt

lách, nhiễm HIV.

Não mô cầu

- Não mô cầu (Neisseria meningitidis) là loại cầu khuẩn Gram âm có

hình hạt đậu và là vi khuẩn nội bào. Não mô cầu được định tuýp huyết thanh

dựa vào polysaccharide của vách tế bào vi khuẩn. Các tuýp huyết thanh

thường gặp có vai trò gây bệnh là A,B,C,D,X,Y,Z,29E và W135. Các chủng

thuộc nhóm A đã từng là nguyên nhân gây nên các vụ dịch khắp nơi trên thế

giới đặc biệt một số nước đang phát triển (Brazil, Nepan, Trung quốc và một

số quốc gia cận Sahara) như đại dịch VMN do não mô cầu ở Burkina Faso

năm 2002, hay dịch năm 2009 ở vành đai VMN châu Phi [37],[10].

- Vi khuẩn thường định cư vùng hầu họng và thường khơng gây lên triệu

chứng gì.

- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là sự xuất hiện các ban xuất huyết hoại tử

hình sao gọi là tử ban. Tỷ lệ tử vong rất cao trong thể tiến triển tối cấp (thể sét



11



đánh). Trong thể này, tử vong thường xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi nhập

viện. Tuy nhiên nếu được điều trị thốt sốc thì sau khi khỏi bệnh, trẻ rất ít bị

biến chứng lâu dài.

- Lây truyền chủ yếu do tiếp xúc người với người thông qua các hạt chất

tiết nhỏ của đường hô hấp. Thời gian ủ bệnh thường ngắn hơn 4 ngày, thay

đổi từ 1 ngày đến 7 ngày. Khơng phải tất cả các trường hợp có vi khuẩn

đường hầu họng đều bị bệnh. Hầu hết các trường hợp bệnh xảy ra ở lứa tuổi

từ 6 đến 12 tháng. Thiếu niên cũng bị bệnh nhưng thấp hơn.

Tụ cầu

- Tụ cầu (Staphylococus) là cầu khuẩn Gram (+), cư trú trên bề mặt da,

niêm mạc đường hô hấp, sinh dục, có hệ thống men phong phú, phân huỷ được

nhiều loại cacbonhydrat, protein, lipid. Tụ cầu vàng sản xuất men betalactamase

làm mất tác dụng của kháng sinh.

- Tụ cầu thường gây mưng mủ cấp, bán cấp hoặc mạn tính. Những bệnh

thường gặp là: Viêm da, nhiễm trùng huyết, nhiễm độc thức ăn, viêm phổi,

VMN do tụ cầu thường thứ phát sau nhiễm trùng huyết, viêm xương, nhiễm

trùng da, cơ, sau phẫu thuật, vi khuẩn từ máu xâm nhập qua hàng rào máu não.

Bệnh có tỷ lệ tử vong cao.

- Biểu hiện lâm sàng: thường có biểu hiện tình trạng nhiễm trùng nhiễm

độc, hội chứng màng não và có thể có đường xâm nhập của vi khuẩn như

chấn thương vùng đầu, mặt, các can thiệp phẫu thuật, ....[2],[5]

Liên cầu

Liên cầu (Streptococus) là cầu khuẩn Gram (+), có khả năng gây bệnh

cho người rất lớn. Tuỳ theo đường xâm nhập và tính chất gây bệnh của từng

chủng mà gây bệnh như viêm da, viêm nội tâm mạc, viêm phúc mạc. VMN

do liên cầu gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh.

Theo một báo cáo ở Hoa Kỳ 66% các trường hợp VMN do liên cầu xảy ra

trong 3 tháng đầu tiên của cuộc sống [37].



12



Escherichia coli (E. coli)

- Là một trực khuẩn gram âm điển hình, cư trú trong phần thấp của hệ

tiêu hóa các động vật máu nóng như chim và động vật có vú. Bình thường thì

khơng gây bệnh. Một số chủng có thể gây nhiễm trùng máu, viêm màng não,

viêm phổi cho lứa tuổi sơ sinh [19], [38].

- Nguồn truyền nhiễm: vi khuẩn gây bệnh có thể có trong dịch tiết âm

đạo - sinh dục bà mẹ sẽ có khả năng lây nhiễm cho trẻ trong q trình sinh đẻ.

Ngồi ra, trên dụng cụ chăm sóc trẻ (như bình sữa) tay của bà mẹ cũng như

nhân viên y tế và môi trường trẻ sinh sống, đặc biệt là khi trẻ nằm trong bệnh

viện cũng có thể là nguồn vi khuẩn gây bệnh [39].

Khả năng gây bệnh: hay gây bệnh viêm màng não ở lứa tuổi sơ sinh hoặc

những trường hợp có tổn thương niêm mạc ruột, ít gặp ở người lớn và trẻ lớn.

Yếu tố nguy cơ: mẹ mắc nhiễm trùng đường sinh dục trước khi sinh, nhiễm

trùng sản khoa, chuyển dạ kéo dài. Tỷ lệ mắc VMN do E.Coli tăng lên ở trẻ

sinh non, nhẹ cân.. [38],[40].

Biểu hiện lâm sàng thường không rõ ràng, viêm màng não mủ do E.

coli ở trẻ sơ sinh là một bệnh lý nặng vì thường nằm trong bối cảnh nhiễm

trùng huyết.

Listeria monocytogen

- Listeria monocytogen (L. monocytogen) là một trực khuẩn Gram

dương sống ký sinh nội bào. Trực khuẩn này tương đối đề kháng với các thay

đổi của môi trường.

- L. monocytogen cũng hiện diện nhiều trong đất và nước do đó có khả

năng gây nhiễm bẩn thực phẩm. L.monocytogenes gây ra khoảng 2% các

trường hợp viêm màng não do vi khuẩn ở Hoa Kỳ [37].

- Viêm màng não mủ sơ sinh do tác nhân này thường nằm trong bối

cảnh nhiễm trùng huyết nặng. Các dấu hiệu nghi ngờ trên lâm sàng là: mẹ

thường có sốt, sinh non khơng rõ ngun nhân, nhau thai có tổn thương hạt...



13



- Tác nhân này đề kháng tự nhiên với các kháng sinh cephalosporine do

đó kháng sinh này khơng bao giờ được dùng đơn độc trong điều trị nhiễm trùng

sơ sinh (bao gồm cả viêm màng não mủ) khi chưa phát hiện được vi khuẩn.

1.2.2.1. Các yếu tố thuận lợi

- Bệnh tai mũi họng mãn tính

+ Viêm tai giữa mãn: phế cầu, Haemophilus, vi khuẩn kỵ khí.

+ Viêm xoang: phế cầu, Haemophilus, vi khuẩn kỵ khí, có khi tụ cầu.

- Bệnh nhiễm trùng cấp:

+ Viêm phổi: phế cầu. Viêm hô hấp trên: phế cầu, não mô cầu, Haemophilus.

+ Viêm mô tế bào: liên cầu, tụ cầu.

+ Áp-xe não: tụ cầu, vi khuẩn kỵ khí.

- Chấn thương sọ não

+ Vỡ sọ kín: phế cầu, liên cầu nhóm A, trực trùng Gram (-).

+ Vỡ sọ hở hoặc mổ sọ: tụ cầu vàng, trực trùng Gram (-).

- Bệnh tiềm ẩn

+ Đái tháo đường : phế cầu, trực trùng Gram (-), Staphylococcus.

+ Bạch cầu cấp: phế cầu, Gram (-).

+ Trẻ suy dinh dưỡng, điều trị corticoides: M. tuberculosis, Cryptococcus.

+ Cắt lách: phế cầu, Haemophilus.

+ Van tim nhân tạo: Staphylococcus aureus hoặc S. epidermidis

1.2.3. Triệu chứng lâm sàng bệnh VMNNK [1],[41],[42],[43]

Triệu chứng lâm sàng của VMNNK rất đa dạng và tùy thuộc vào lứa

tuổi, căn nguyên gây bệnh, thời gian nhập viện, phản ứng của từng cơ thể:

1.2.3.1. Viêm màng não nhiễm khuẩn ở trẻ lớn

Triệu chứng lâm sàng điển hình giống như ở người lớn.

a. Giai đoạn khởi phát: diễn biến trong 1-2 ngày đầu. Có thể khơng rõ giai

đoạn này. Sốt, mệt mỏi, đau đầu. Viêm hô hấp trên, rối loạn tiêu hóa (tiêu

chảy/táo bón, nơn/buồn nơn…).



14



b. Giai đoạn tồn phát:

* Hội chứng nhiễm khuẩn cấp tính: sốt cao, có thể sốc nhiễm khuẩn,

nhiễm khuẩn huyết.

* Hội chứng nhiễm trùng thần kinh trung ương:

Mặc dù dấu hiệu màng não xuất hiện tạm thời ở giai đoạn đầu của bệnh

ở hầu hết bệnh nhân, nhưng không phải lúc nào cũng xuất hiện. Trong một

báo cáo 1064 trường hợp viêm màng não cấp do vi khuẩn ở trẻ trên một tháng

tuổi, 16 trẻ (1,5%) khơng có dấu hiệu màng não trong tồn bộ thời gian nằm

viện. Cứng gáy có thể khơng xuất hiện ở bệnh nhân hơn mê. Nhưng cứng gáy

có thể xảy ra vào cuối giai đoạn bệnh, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Dấu hiệu kích thích

màng não xuất hiện trong 60%-80% trẻ bị VMNNK ở thời điểm nhập viện và

trong khoảng 25% trẻ với xét nghiệm dịch não tủy bình thường [43].

+ Triệu chứng cơ năng: “tam chứng màng não”:

 Nhức đầu liên tục, cả hai bên nhất là vùng thái dương chẩm. Kèm

theo đau đầu trẻ thường có biểu hiện sợ ánh sáng, nằm tư thế cò súng, nằm

quay mặt vào bóng tối.

 Nơn tự nhiên, nơn vọt, nhiều lần, khơng liên quan tới bữa ăn.

 Táo bón ở trẻ lớn còn ở trẻ nhỏ hay gặp ỉa lỏng.

+ Triệu chứng thực thể: trẻ có dấu hiệu: cứng gáy, Kernig, Brudzinski,

vạch màng não, tăng cảm giác đau.

+ Triệu chứng thần kinh:

 Co giật: tồn thân, có thể cục bộ (nửa người, tay, chân hoặc các vùng

cơ vùng đầu mặt, đặc biệt là các cơ vận nhãn cầu).

Co giật, đặc biệt là co giật toàn bộ xảy ra trước khi nhập viện hoặc

trong vòng 48 giờ đầu nhập viện chiếm 20-30% bệnh nhân viêm màng não.

Trong một nghiên cứu, trong 410 trường hợp bị viêm màng não do vi khuẩn ở

trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi có tới 27% trẻ có cơn giật trước hoặc tại thời điểm

thăm khám [44].



15



 Rối loạn tri giác: Lơ mơ, li bì, có lúc hốt hoảng. Có thể hơn mê.

Trong một nghiên cứu khác, trên 235 trẻ bị viêm màng não do vi

khuẩn, 78% trẻ kích thích hoặc lơ mơ, 7% ngủ gà và 15% bất tỉnh hoặc hôn

mê tại thời điểm nhập viện [43].

 Liệt thần kinh khu trú

+ Các triệu chứng riêng của vi khuẩn gây bệnh: ban xuất huyết hoại tử

hình sao trong VMN do não mô cầu. Mụn mủ vùng đầu trong viêm màng não

tụ cầu vàng. VMN do phế cầu thường thấy các triệu chứng viêm nhiễm đường

hô hấp trên hoặc viêm phổi, viêm xoang, viêm tai hay sau chấn thương. VMN

do H.I thường diễn biến rất đột ngột ở trẻ nhỏ.

+ Triệu chứng khác: suy hơ hấp, tuần hồn, rối loạn nước - điện giải…

1.2.3.2. Viêm màng não nhiễm khuẩn ở trẻ nhũ nhi

- Hội chứng nhiễm khuẩn cấp hoặc tối cấp.

- Các triệu chứng cơ năng thường nặng: trẻ đột ngột bỏ bú, khóc thét, rên

rỉ, nơn vọt, khó thở, bụng chướng, tiêu chảy, co giật, hơn mê…

- Triệu chứng thực thể khơng điển hình như ở trẻ lớn: trẻ có rối loạn tri

giác, vơ cảm, mắt nhìn xa xăm, nhìn ngược, li bì hoặc hơn mê, thóp phồng và

căng, liệt thần kinh.

- Ít khi có dấu hiệu cổ cứng, có khi cổ mềm (dấu hiệu Netter).

1.2.3.3. Viêm màng não nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh

- Thường gặp ở trẻ đẻ non, nhiễm khuẩn ối, ngạt khi đẻ.

- Hội chứng nhiễm khuẩn thường không rõ. Trẻ thường không sốt, có khi

hạ thân nhiệt.

- Hội chứng màng não có thể kín đáo, dễ bị bỏ qua: Bỏ bú, li bì, rên; thở

khơng đều, cơn ngừng thở, tím tái; thóp phồng, căng, tiêu chảy, nôn trớ, co

giật, liệt, giảm trương lực cơ.



16



- Nguyên nhân: Thường gặp nhất là Liên cầu nhóm B, Escherichia coli.

Ngồi ra Listeria monocytogenes được coi là nguyên nhân quan trọng gây

VMNNK ở trẻ sơ sinh, phế cầu, vi khuẩn khác.

1.2.4. Triệu chứng cận lâm sàng [1]

1.2.4.1. Dịch não tủy

Dịch não tủy là xét nghiệm quan trọng nhất có tính chất quyết định cho

chẩn đốn xác định viêm màng não nhiễm khuẩn.

- Chỉ định chọc dò tủy sống:

+ Chọc dò tủy sống cho tất cả các trường hợp nghi ngờ viêm màng não

nhiễm khuẩn.

+ Cần tiến hành sớm, trước khi dùng kháng sinh.

+ Phải đảm bảo tuyệt đối vô khuẩn và đúng kỹ thuật để tránh các tai biến.

- Chống chỉ định:

+ Tăng áp lực nội sọ nặng đe dọa tụt thùy hạnh nhân tiểu não. Chống

phù não ổn định thì có thể chọc dò tủy sống.

+ Tình trạng nhiễm khuẩn vùng thắt lưng.

+ Suy hơ hấp nặng, trụy mạch, sốc. Hồi sức ổn định rồi chọc dò tủy sống.

- Trong trường hợp điển hình DNT có biến đổi như sau:

+ Áp lực tăng.

+ Màu sắc: màu đục với các mức độ khác nhau. Có thể trong khi chọc

dò tủy sống sớm < 24 giờ hoặc đã điều trị kháng sinh trước đó. Có thể vàng

(kèm xuất huyết não màng não hoặc biến chứng vách hóa màng não).

+ Soi, cấy vi khuẩn: giúp chẩn đoán xác định viêm màng não nhiễm

khuẩn và xác định căn nguyên. Có thành phần kháng nguyên của vi khuẩn,

tìm được bằng các xét nghiệm: PCR, ELISA, Điện di miễn dịch đối lưu,

Ngưng kết latex đặc hiệu).



17



+ Tế bào: thường tăng cao từ vài trăm tới >1000/mm3 chủ yếu BCĐNTT

có thể có BCĐNTT thối hóa mủ.

+ Sinh hóa: Protein: tăng; Glucose: giảm nhiều; Cl‾ : bình thường hoặc

giảm; phản ứng Pandy (+) mạnh.

1.2.4.2. Xét nghiệm khác

- Công thức máu: số lượng bạch cầu tăng cao, BCĐNTT tăng, Hb giảm

- Tốc độ máu lắng: tăng cao, nhất là giờ đầu.

- CRP tăng.

- Cấy máu: khi nghi có nhiễm trùng huyết.

- Cấy dịch tỵ hầu.

- Điện giải đồ, canxi.

- Chẩn đốn hình ảnh: siêu âm qua thóp, chụp cắt lớp vi tính sọ não,

chụp cộng hưởng từ sọ não.

- Đo nồng độ kháng sinh trong máu và dịch não tủy.

1.2.5. Chẩn đoán [1],[43]

1.2.5.1. Chẩn đoán xác định

- Dựa vào các triệu chứng lâm sàng: hội chứng nhiễm khuẩn cấp và hội

chứng màng não

- Dựa vào dịch não tủy:

+ Dịch đục hoặc trong.

+ Soi, cấy có vi khuẩn → đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đốn.

+ PCR xác định loại vi khuẩn trong DNT

+ Tìm được các thành phần kháng nguyên của vi khuẩn.

- Chẩn đốn xác định nhiều khi khó khăn trong trường hợp dịch não tủy

trong, đã điều trị kháng sinh (VMNNK mất đầu). Trong trường hợp này cần

phối hợp các dấu hiệu lâm sàng, biến đổi sinh hóa, tế bào DNT, yếu tố dịch tễ,

các phương pháp xác định vi khuẩn như PCR, ELISA, LATEX.



18



1.2.5.2. Chẩn đoán phân biệt

- Khi chưa chọc dịch não tủy:

+ Xuất huyết não màng não: thường gặp ở trẻ < 2 tháng, không được

tiêm Vitamin K sau đẻ, bệnh diễn biến đột ngột với biểu hiện thiếu máu cấp

và hội chứng não – màng não.

+ Sốt cao co giật đơn thuần: thường xảy ra trong khi bệnh nhân đang

sốt cao (39 – 40ºC), cơn giật thường kéo dài < 5 phút, sau cơn bệnh nhân tỉnh

táo, không có rối loạn tri giác.

+ Viêm màng não do vi rút, lao và các ngun nhân khác khó chẩn

đốn phân biệt khi chưa có xét nghiệm DNT.

- Sau khi chọc dịch não tủy:

+ Viêm màng não do vi rút: thường xảy ra sau một đợt nhiễm vi rút:

sởi, quai bị, thủy đậu…, hội chứng nhiễm trùng không rõ, dịch não tủy

thường trong, tế bào tăng nhẹ từ vài chục đến vài trăm chủ yếu là bạch cầu

mono và lympho, protein tăng nhẹ thường < 1g/L.

+ Viêm màng não do lao: bệnh thường diễn biến kéo dài, sốt nhẹ về

chiều, gầy sút cân, hội chứng nhiễm trùng không rõ, tiền sử có tiếp xúc với

lao, dịch não tủy trong hoặc vàng chanh, protein tăng cao >1g/L, tế bào tăng

thường khoảng vài trăm, chủ yếu là bạch cầu lympho. Có thể có tổn thương

lao (lao kê, hạch trung thất, phức hợp nguyên thủy…) trên X-quang phổi.

+ Xuất huyết não cũ: bệnh nhân thường khơng sốt, có hội chứng màng

não nhưng khơng có hội chứng nhiễm trùng. Dịch não tủy thường vàng,

protein tăng nhưng tế bào ít hoặc khơng có, có thể thấy hình ảnh xuất huyết

não trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não.

1.2.5.3. Chẩn đốn ngun nhân

- Soi, cấy, PCR, ELISA, LAEX xác định vi khuẩn

- Khi soi, cấy âm tính hoặc chưa có kết quả: dự đốn ngun nhân dựa vào:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Do tăng áp lực thủy tĩnh (phù não kẽ), do giảm thiểu tái hấp thu DNT.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×