Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khái niệm hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam

Khái niệm hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngắn, thơ ca… Tuy nhiên nếu như từ đầu thế kỉ XX đến khoảng những năm 20, văn

học chỉ mới bước vào phạm trù hiện đại và đã có một số thành tựu bước đầu, nhưng

dấu ấn của thời kì văn học trung đại còn khá sâu đậm, phải đến từ năm 1930 đến

1945, với một tốc độ phi thường, văn học Việt Nam phát triển mạnh mẽ với những

tên tuổi xuất sắc như Nam Cao để hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn học, có thể

hòa nhịp với văn học của thế giới.

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự hiện đại hóa của văn học? Từ đầu thế kỉ

XX, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc. Đô thị phát triển, lớp công

chúng văn học mới ra đời và ngày càng đông đảo, ảnh hưởng của văn hóa phương

Tây, báo chí và xuất bản phát triển; tất cả những điều đó đã thúc đẩy văn học phải

nhanh chóng đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Hiện đại hóa văn học là một yêu cầu

khách quan của thời đại. Nó là một bộ phận, một phương diện quan trọng của cơng

cuộc hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam nói chung. Hiện đại hóa văn học còn là

nhu cầu tự thân của chính nền văn học nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và thẩm mĩ

mới của xã hội.

Mặt khác, mấy mươi năm đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam vốn trì trệ trong

mấy ngàn năm phong kiến bỗng bừng tỉnh khi được tiếp xúc với văn hóa, khoa học

phương Tây, nó như một làn gió mới, một cơn gió lạ tưới mát tâm hồn con người.

Văn minh phương Tây tác động ngày một toàn diện, sâu sắc vào xã hội Việt Nam,

thoạt đầu ở lĩnh vực sinh hoạt vật chất và đương nhiên kéo theo những thay đổi về

mặt tâm lý, tinh thần. Một lớp người mới xuất hiện ngày một đông đảo ở các thành

thị với những nhu cầu, khát vọng sống thành thực, sống cho mình thật khác trước.

Thứ thơ cổ, thơ cách luật trở thành chiếc áo quá chật, trở thành thứ xiềng xích trói

buộc tâm hồn con người.

Có thể nói nhu cầu đổi mới văn học, phá bỏ luật lệ, khuôn thước, tạo nên

một cuộc cách mạng, một sự hiện đại hóa trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã

2



được nhóm lên, manh nha từ những năm 20 của thế kỉ, đã được ít người dè dặt thử

nghiệm và thành cơng. Như vậy, hiện đại hóa là nhu cầu tất yếu, khách quan của

nền văn học trên cơ sở những tiền đề kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam nửa đầu thế

kỉ XX. Hình thái kinh tế xã hội thay đổi từ phong kiến sang tư bản dưới hình thức

thuộc địa, từ đó dẫn đến sự phân hóa gia cấp mạnh mẽ làm thay đổi ý thức xã hội.

Từ đó hình thành đội ngũ nhà văn, nhà thơ và công chúng văn học mới khác với

thời trung đại bao gồm trí thức Tây học, tiểu tư sản, thị dân, học sinh, sinh viên,…

Tầng lớp nhà Nho khơng còn kéo theo đó là sự thay đổi nhanh chóng đời sống cá

nhân con người. Thời điểm này, con người với ý thức cá nhân mạnh mẽ đã bị kìm

nén lâu trong suốt cả nghìn năm trung đại đã được nước tràn bờ, trở nên mạnh dạn

hơn khi thể hiện những khát khao tình u, những câu chuyện đời thường khơng

được nói trong văn học.

Đồng thời, đây cũng là thời kì tính chất chun nghiệp hóa của hoạt động

sáng tác trở nên phổ biến trong đời sống văn học. Viết văn trở thành một nghề kiếm

sống, tác phẩm trở thành một món hàng hóa có thể kiếm ra tiền, trang trải đời sống.

Vậy nên văn chương nghệ thuật càng phải đổi mới, hiện đại hóa để đáp ứng nhu

cầu của thời đại chứ khơng còn là đam mê, là giãi bày tâm sự, hay để giáo huấn, để

ghi chép những câu chuyện lịch sữ nữa.

Hơn nữa, đây cũng là thời kì văn học được tiếp xúc rộng rãi hơn với quần

chúng nhờ có các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động sáng tác, giới thiệu, truyền bá

tác phẩm như nhà in, nhà xuất bản, báo chí,… Cũng chính vì thế mà mơ hình nhà

văn, nhà báo bắt đầu xuất hiện nhiều ở thời kì này như Hồ Biểu Chánh, Thạch Lam,

Nguyễn Công Hoan... Chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm, tạo điều

kiện thuận lợi cho văn học tiếp cận gần hơn với lớp công chúng văn học nông dân,

nhân dân. Trước đây, văn chương viết bằng chữ Hán, chữ Nơm chỉ để dành cho

người có học, biết chữ, còn bây giờ, văn chương đã trở thành thứ nghệ thuật giải trí,

3



mua vui cho cả “những người đàn bà đẹp chun chăm sửa móng tay và khơng làm

gì cả”.

Nội dung hiện đại hóa văn học diễn ra trên mọi mặt, ở nhiều phương diện, từ

sự thay đổi về quan niệm về văn học cho đến sự biến đổi các thể loại văn học và

đặc biệt là hiện đại hóa ngơn ngữ. Điều đó là bởi vì nền văn học đã chuyển đổi một

loạt kiểu nhà văn, người sáng tác từ tầng lớp Nho sĩ sang các tầng lớp thị dân, làm

biến đổi toàn diện và sâu sắc nền văn học Việt Nam

2. Nam Cao và vấn đề hiện đại hóa trong một số truyện ngắn của Nam

Cao

2.1.



Giới thiệu khái quát về Nam Cao



Nam Cao (1915/1917 – 28 tháng 11 năm 1951) là một nhà văn và cũng là

một chiến sĩ Việt Nam. Ông là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng), một nhà

báo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ

20. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách

truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20. Nam Cao tên thật là Trần

Hữu Tri (có nguồn ghi là Trần Hữu Trí). Q ơng tại làng Đại Hồng, tổng Cao Đà,

huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam).

Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao. Ơng xuất thân

từ một gia đình Cơng giáo bậc trung. Cha ông là ông Trần Hữu Huệ, làm nghề thợ

mộc và thầy lang trong làng. Mẹ ông là bà Trần Thị Minh, vừa là nội trợ, làm vườn,

làm ruộng và dệt vải.

Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương

đầu tiên vì mục đích mưu sinh. Năm 18 tuổi vào Sài Gòn, ơng nhận làm thư ký cho

một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác. Ông gửi in

trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui

mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư. Có thể nói, các

4



sáng tác "tìm đường" của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu

văn học lãng mạn đương thời. Sau này, ông mới nhận ra con đường đi đúng đắn

cho ngòi bút của mình và từng bước trở thành nhà văn lớn nhất của trào lưu văn

học hiện thực phê phán 1930 -1945. Trong số các nhà văn hiện thực, ơng là cây bút

có ý thức sâu sắc nhất về quan điểm nghệ thuật của mình. Ơng phê phán khá tồn

diện và triệt để tính chất thoát ly, tiêu cực của văn chương lãng mạn đương thời, coi

đó là thứ “ánh trăng lừa dối”, đồng thời yêu cầu nghệ thuật chân chính phải trở về

với đời sống, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói lên được nỗi thống khổ của hàng triệu

nhân dân lao động lầm than (Giăng sáng).

Xuất hiện trên văn đàn khi trào lưu hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiều

thành tựu xuất sắc, Nam Cao ý thức sâu sắc rằng: “Văn chương chỉ dung nạp được

những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo

những cái gì chưa có” (Đời thừa). Và Nam Cao đã thực sự tìm được cho mình một

hướng đi riêng trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực.

Đồng thời, ông cũng là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lý. Sự chú ý đặc

biệt tới thế giới bên trong của con người đã quy ước hứng thú nghệ thuật ngày càng

tăng của nhà văn đối với cá tính của con người, động cơ nội tại của hành vi nhân

vật và quan hệ phức tạp của nó với hiện thực xung quanh. Đối với Nam Cao, cái

quan trong hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là cái chân thật của

tư tưởng, của nội tâm nhân vật. Xét tới cùng, cái quan trọng nhất trong tác phẩm

không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà là con người trước sự kiện, biến

cố. Vì vậy, trong sáng tác của Nam Cao, hứng thú của những chi tiết tâm lý thường

thay thế cho hứng thú của chính bản thân các sự kiện, biến cố. Như vậy, nguyên tắc

các sự kiện, biến cố, tình tiết chỉ giữ vai trò “khiêu khích” các nhân vật, để cho

nhân vật bộc lộ những nét tâm lý, tính cách của mình. Nam Cao mong muốn khai

thác những vấn đề của cuộc sống không phải ở bề rộng mà là ở bề sâu. Thốt khỏi

cách nói chút ít về tất cả, ông đã tập trung bút lực vào việc miêu tả nội tâm của

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×